Công Ty Điện Lực Quảng Ngãi (055) - Evncpc

So với các đơn vị điện lực các tỉnh, thành phố khác thì Điện lực Quảng Ngãi ra đời muộn hơn. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển nhanh của cả nước, Điện lực đã ngày càng khẳng định được vai trò và vị thế của nó trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh.

Năm 2007, Điện lực Quảng Ngãi vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất

Dưới thời Pháp thuộc, mãi cho đến những năm cuối thập kỷ 30 của thế kỷ XX, thực dân Pháp mới cho lắp đặt một máy phát điện nhỏ (30 kW) chạy bằng dầu diezel phục vụ nhu cầu thắp sáng trong phạm vi thành Quảng Ngãi, trước hết là dinh công sứ, trại lính và một số cơ quan của bộ máy cai trị thực dân. Như vậy là khoảng 60 năm, sau khi Nhà bác học người Mỹ T. Edison phát minh ra bóng đèn điện phát sáng nhờ đốt nóng sợi dây kim loại (1878) và gần bốn thập kỷ sau khi thành phố Hải Phòng - thành phố đầu tiên ở Việt Nam có điện thắp sáng (tháng 02 năm 1894) thì ở tỉnh lỵ Quảng Ngãi người dân mới thấy được ánh sáng điện. Lúc bấy giờ ở hai trục đường chính của tỉnh lỵ (nay là đoạn đường Quang Trung từ cầu Trà Khúc đến Cống Kiểu và đoạn đường Lê Trung Đình từ cửa Tây Thành cổ chạy qua ngã tư chính, tiếp theo đường Hùng Vương đến Bưu điện tỉnh), hệ thống chiếu sáng đường phố là những trụ đèn, treo những chiếc đèn lồng kính thắp bằng đất đèn (acétylen). Chiều xuống, những người “phu đèn” dùng một chiếc thang leo lên các trụ đèn châm thêm nhiên liệu đốt và thắp các ngọn đèn để có ánh sáng xanh dịu, lờ mờ, chiếu xuống đường phố. Sáng sớm, “phu đèn” với chiếc thang của mình leo lên tắt các ngọn đèn đã chiếu sáng suốt đêm. Cũng như trong cả nước, chính quyền thực dân Pháp tại Quảng ngãi cho các nhà thầu người Pháp đấu thầu xây dựng và vận hành hệ thống chiếu sáng này.

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chính quyền cách mạng được thành lập, nhưng ngay sau đó đã phải đối đầu với cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng tự do Liên khu V và phải tiến hành tiêu thổ kháng chiến, sẵn sàng đối phó với âm mưu xâm lược của quân thù. Các trục đường chính tại thị xã tỉnh lỵ và các huyện, xã cũng như các ngôi nhà lớn có thể bị địch lợi dụng khi đổ quân đều bị phá hủy. Trong điều kiện đó, cộng với sự bao vây, phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, chính quyền cách mạng chưa có điều kiện để xây dựng ngành điện.

Theo điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, một nửa đất nước ở phía Nam vĩ tuyến 17 trong đó có Quảng Ngãi, nằm trong vùng tạm chiếm của địch. Sau ngày tiếp quản, chính quyền Sài Gòn cho lắp đặt một máy phát điện Cumins, công suất 60 kW, đặt tại Ty Công chánh Quảng Ngãi (nay là địa điểm trụ sở UBND thành phố Quảng Ngãi) để phục vụ bộ máy ngụy quyền, ngụy quân đóng tại tỉnh. Tình trạng này kéo dài cho đến năm 1956, khi chính quyền Sài Gòn cho thành lập Ty Điện Lực Quảng Ngãi thuộc Điện lực Việt Nam (ĐLV), do Bộ Công chánh Việt Nam Cộng hòa quản lý, đây chính là thời điểm ra đời của ngành điện lực ở tỉnh Quảng Ngãi.

I. THỜI KỲ 1956-1975

Thời kỳ 1956-1975 có thể nói là thời kỳ ban đầu của ngành điện lực Quảng Ngãi, phát triển qua các thang nấc và có thể chia làm ba giai đoạn chính sau:

1. Giai đoạn 1956-1960

Ngành điện lực ở Quảng Ngãi hình thành với việc chính quyền Sài Gòn thành lập Ty Điện lực Quảng Ngãi. Ty Điện lực Quảng Ngãi quản lý, vận hành một tổ hợp máy phát điện, đặt tại vị trí hiện nay là Nhà máy phát điện Quảng Ngãi (số 243 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Quảng Ngãi). Tổ hợp nhiệt điện này có 3 máy phát điện, tổng công suất 260 kW, gồm:

- 1 máy Cumis công suất 60 kW

- 1 máy GMC công suất 100 kW

- 1 máy International công suất 100 kW

Lượng điện này được chuyển đến sử dụng trong khu vực thành phố qua 3 km đường dây 6,6/0,22 kV với 2 trạm biến áp (TBA) có tên TBA Lê Trung Đình và TBA Phan Bội Châu. Chịu trách nhiệm quản lý, vận hành tổ hợp nhiệt điện này có 10 công nhân, kỹ thuật viên.

Cho đến năm 1960, hệ thống chiếu sáng đường phố đã sử dụng điện thay cho hệ thống chiếu sáng bằng đất đèn. Tuy nhiên lượng điện được sản xuất từ tổ hợp nhiệt điện Quảng Ngãi một ít chỉ phục vụ cho nhu cầu thắp sáng đường phố, công sở, nhà dân… mà phần lớn là phục vụ các cơ quan chính quyền và cơ quan quân sự. Việc chiếu sáng phục vụ nhu cầu công cộng không được coi trọng mà chủ yếu tập trung vào những địa điểm dễ bị các lực lượng cách mạng tấn công như cầu Trà Khúc, khu vực trước Tòa hành chính tỉnh (nay là UBND tỉnh), khu vực trước Ty Cảnh sát ngụy, sân vận động Diên Hồng (nay là đoạn đường Hùng Vương chạy trước khu liên hợp thể thao Diên Hồng), khu vực bên trong và lân cận tiểu khu Quảng Ngãi (nay là khu vực Tỉnh ủy, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh), Đài Phát thanh Quảng Ngãi (nay là Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ngãi)…

2. Giai đoạn 1960-1970

Công suất lắp đặt, hệ thống đường dây của ngành điện Quảng Ngãi có sự phát triển rõ rệt so với khoảng thời gian trước đó. Ngoài 3 máy nhiệt điện có từ trước (tổng công suất 260 kW), chính quyền Sài Gòn cho lắp đặt thêm 2 máy Caterpillar 400 (công suất 800 kW), 1 máy Caterpillar 200 (công suất 200 kW), 3 máy EGM 200 (công suất 600 kW). Như vậy đến năm 1970 tổng công suất của tổ hợp phát điện Quảng Ngãi đã lên đến 1.860 kW, với 10 km đường dây 6,6/0,22 kV. Số công nhân, kỹ thuật viên cũng đã tăng lên gồm 18 người. Phạm vi phục vụ của lưới điện đã mở rộng nhưng vẫn chưa ra khỏi nội ô Quảng Ngãi và nhu cầu phục vụ mục đích quân sự vẫn chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu. Tuy vậy, do sự phát triển về công suất và lưới điện, nên việc sử dụng điện vào mục đích dân dụng cũng đã tăng lên đáng kể. Bên cạnh việc dùng điện để thắp sáng, nhiều gia đình khá giả đã mua sắm những dụng cụ sử dụng điện năng như quạt điện, máy bơm nước, máy nghe. . .Từ đó, thị trường mua bán hàng điện và đồ dùng sử dụng điện ở Quảng Ngãi cũng đã dần dần hình thành.

Ngoài tổ hợp điện của nhà máy phát điện Quảng Ngãi, trong các doanh trại của quân đội ngụy quyền, nhất là các chi khu quân sự (cấp quận), các sở chỉ huy cấp tiểu đoàn trở lên, bộ máy chiến tranh của người Mỹ cũng đã trang bị những máy phát điện cỡ nhỏ (100 kW trở xuống) phục vụ cho các mục đích quân sự, đàn áp cách mạng.

3. Giai đoạn 1971-1975

Để cung cấp điện cho Nhà máy Đường Quảng Ngãi và nhu cầu sử dụng điện của người dân, Ty Điện lực Quảng Ngãi đã cho lắp đặt thêm 3 máy nhiệt điện mới tăng thêm 2.200 kW, nâng tổng công suất của tổ hợp phát điện Quảng Ngãi lên 4.060 kW. Các máy phát điện lắp đặt trong giai đoạn này gồm 2 máy SACM 625 kVA công suất 1.000 kW, 1 máy SACM 1500 kVA công suất 1.200 kW. Về đường dây, ngoài 2 km đường dây 6.6/0,22 kV kéo dài mạng điện từ thành phố Quảng Ngãi tới thị trấn Sơn Tịnh, còn có thêm đường dây 15/6 kV; 6/0,4 kV đưa điện phục vụ cho Nhà máy Đường. Lúc này đã có tổng cộng 10 TBA hạ thế được lắp đặt trong khu vực Nội ô và thị trấn Sơn Tịnh; số công nhân, chuyên môn kĩ thuật có tổng cộng 22 người. Bên cạnh các cơ quan công sở, trại lính là đối tượng ưu tiên hàng đầu trong việc cung cấp điện, số gia đình sử dụng điện đã tăng lên; đã xuất hiện một số cơ sở sản xuất vừa và nhỏ vận hành bằng điện năng của nhà máy phát điện Quảng Ngãi như các nhà máy sản xuất nước đá, các cơ sở gia công cơ khí…

Nhìn chung giai đoạn 1956-1975, ngành điện ở Quảng Ngãi tuy đã được hình thành nhưng vẫn còn yếu ớt, trong đó mục tiêu phục vụ hoạt động của bộ máy Nguỵ quyền và Nguỵ quân được đưa lên hàng đầu; điện dân dụng chủ yếu là thắp sáng công cộng và trong gia đình; điện phục vụ sản xuất chiếm tỉ lệ rất thấp và chưa thật sự tác động rõ rệt vào sự phát triển sản xuất công nghiệp; thị trường dịch vụ hàng điện còn ở giai đoạn phôi thai, thiết bị sử dụng điện chủ yếu là hàng ngoại nhập.

II. THỜI KỲ 1975-1989

Ngày 24.3.1975, tỉnh Quảng Ngãi hoàn toàn giải phóng. Nhà máy phát điện Quảng Ngãi là một trong những mục tiêu quan trọng mà các lực lượng ta nhanh chóng chiếm giữ đề phòng địch phá hoại trước khi rút chạy. Ngay sau khi tiếp quản nhà máy, Ủy ban Quân quản đã động viên công nhân, cán bộ kỹ thuật tiếp tục làm việc, bảo quản, sửa chữa máy móc, trạm biến áp và đường dây để vận hành phát điện, phục vụ các cơ quan của chính quyền cách mạng và nhân dân, trước hết là phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, ổn định đời sống nhân dân sau ngày giải phóng.

Trong năm 1975, với những cố gắng rất lớn trong giai đoạn giao thời - 47 cán bộ công nhân viên, Nhà máy phát điện Quảng Ngãi đã sản xuất khoảng 3 triệu kWh.

Đầu năm 1976, tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định sát nhập thành tỉnh Nghĩa Bình, Sở Quản lý và Phân phối điện Nghĩa Bình trực thuộc UBND tỉnh, được thành lập. Nhà máy điện Quảng Ngãi đổi tên là Chi nhánh điện Quảng Ngãi, là một trong những chi nhánh trực thuộc Sở Quản lý và Phân phối điện Nghĩa Bình. Sản lượng điện bình quân trong các năm 1976 -1979 tăng chậm, ước tính trong khoảng từ 3 đến 4,6 triệu kWh.

Năm 1980, sau một thời gian giữ vững và ổn định sản xuất, tỉnh Nghĩa Bình bước vào giai đoạn phát triển kinh tế, trong đó nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Để đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ thắp sáng, thủy lợi hóa nông nghiệp và phát triển tiểu thủ công nghiệp ở địa phương, Bộ Điện và Than đã điều động 3 máy phát điện Supperior 400 từ Vĩnh Phú về Nghĩa Bình và lắp đặt tại Chi nhánh điện Quảng Ngãi, nâng công suất lắp đặt của Chi nhánh lên 5.000 kW. Trong năm này tổng sản lượng điện của Chi nhánh điện Quảng Ngãi sản xuất đạt 8,5 triệu kWh.

Đến năm 1981, do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bộ máy quản lý điện trong cả nước có sự thay đổi. Bộ Điện lực quyết định đổi tên Công ty Điện lực miền Trung thành Công ty Điện lực 3, trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam. Các Sở Quản lý và Phân phối điện ở các tỉnh miền Trung cũng được đổi tên thành Sở Điện lực, trực thuộc Công ty Điện lực 3. Chi nhánh điện Quảng Ngãi trở thành một chi nhánh của Sở Điện lực tỉnh Nghĩa Bình. Trong năm này, các cơ sở sản xuất sử dụng máy móc vận hành bằng điện năng, các trạm bơm điện phục vụ thủy lợi phát triển nhanh chóng, kèm theo đó là tình trạng nắng hạn kéo dài, nhu cầu điện năng tăng nhanh vượt khả năng cung cấp dẫn đến tình trạng thiếu điện trầm trọng ở các tỉnh miền Trung. Để giải quyết tình trạng này, Chính phủ đã cho điều cụm máy GM 2100 từ khu Thượng Đình (Hà Nội) tăng cường cho Sở Điện lực Nghĩa Bình, 4 trong số 8 máy của cụm máy này được lắp đặt ở Quảng Ngãi, nâng tổng công suất lắp đặt ở Chi nhánh điện Quảng Ngãi lên 13.400 kW.

Năm 1985, sản lượng điện đạt 15,254 triệu kWh, cao nhất trong giai đoạn 1981-1985. Cũng trong giai đoạn này, một số trạm thủy điện được xây dựng ở các vùng miền núi tỉnh Quảng Ngãi như thủy điện Di Lăng huyện Sơn Hà, thủy điện Cà Đú huyện Trà Bồng... Mặc dù công suất của các trạm thủy điện này còn rất thấp, nhưng đã đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng điện phục vụ thủy lợi và sinh hoạt của nhân dân một số xã miền núi, góp phần đưa ánh sáng điện đến với đồng bào các dân tộc thiểu số, tăng thêm niềm tin của đồng bào đối với chế độ mới. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu điện năng của phía nam tỉnh Quảng Ngãi, ngày 15.8.1986, trạm điện diezel Đức Phổ được thành lập với 3 máy phát điện EGM 200 và đến năm 1988, trạm này lại được tăng cường thêm 1 máy EGM 315.

Cùng với sự phát triển của ngành điện, thị trường dịch vụ thiết bị điện dân dụng cũng có sự chuyển biến rõ nét, hàng điện được phân phối đến người dân qua hệ thống thương nghiệp quốc doanh và một số tư thương nhỏ lẻ. Từ giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, hệ thống dịch vụ buôn bán hàng điện dân dụng đã phát triển nhanh chóng. Các cửa hàng điện tư nhân xuất hiện ngày càng nhiều từ tỉnh lỵ đến nông thôn, miền núi, hải đảo. Hàng điện sản xuất trong nước ngày càng nhiều. Dịch vụ sửa chữa đồ điện - điện tử cũng đã hình thành, phát triển theo nhu cầu dùng điện tăng lên nhanh chóng của người dân.

III. THỜI KỲ 1990-2005

Ngày 01.7.1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập, ngày 15.10.1989 Bộ Năng lượng quyết định thành lập Sở Điện lực Quảng Ngãi trực thuộc Công ty Điện lực 3, trên cơ sở Chi nhánh điện Quảng Ngãi (trực thuộc Sở điện lực Nghĩa Bình cũ). Gần ba năm sau ngày Sở Điện lực Quảng Ngãi được thành lập, ngày 27.01.1992, lưới điện quốc gia qua hệ thống 110 kV kéo từ TBA Đồng Hới - Huế - Đà Nẵng đã về đến Quảng Ngãi, đánh dấu một bước đột phá, chuyển mình đi lên của ngành điện Quảng Ngãi. Hơn hai năm sau, ngày 27.7.1994 hệ thống điện quốc gia, TBA và đường dây 500 kV Đà Nẵng khánh thành và đưa vào sử dụng. Hệ thống điện nối trên ba miền Bắc, Trung, Nam đã được liên kết, chính thức đi vào hoạt động. Việc cung cấp điện ở Quảng Ngãi nhanh chóng đi vào ổn định, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà, nhiều vùng nông thôn, miền núi được có điện, năm 1994 lưới điện quốc gia đã về đến huyện miền núi Ba Tơ.

Nhờ việc khai thác điện năng từ mạng lưới điện quốc gia, sản lượng điện cung cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ 29 triệu kWh năm 1990, lên đến 76 triệu kWh năm 1995. Lực lượng cán bộ, công nhân, kỹ thuật viên ngành điện cũng đã lên đến 278 người, trong đó có nhiều kỹ sư, kỹ thuật viên được đào tạo căn bản, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu giai đoạn mới. Tiếp tục hoàn chỉnh bộ máy quản lý ngành điện, ngày 08.3.1996, Sở Điện lực Quảng Ngãi được đổi tên thành Điện lực Quảng Ngãi. Đây cũng chính là thời điểm bắt đầu giai đoạn phát triển nhanh chóng, vượt bậc của ngành điện Quảng Ngãi. Lưới điện quốc gia trải rộng tới các huyện miền núi, các xã vùng sâu, vùng xa. Năm 1998, lưới điện quốc gia về đến huyện Sơn Tây, một huyện miền núi vừa mới được thành lập, có địa hình đặc biệt hiểm trở. Trong khi đó ở huyện đảo Lý Sơn, cách đất liền khoảng 17 hải lý, UBND tỉnh đã đầu tư được một máy phát điện diesel 304 kW đáp ứng một phần cho nhu cầu sinh hoạt của người dân trên đảo.

Đến năm 2000, tổng sản lượng điện trên toàn địa bàn tỉnh lên đến 158 triệu kWh, phục vụ gần 15 ngàn khách hàng. Tổng số cán bộ công nhân viên đã có 365 người. Ánh sáng điện đã về đến bốn huyện miền núi và huyện đảo Lý Sơn. Ngành điện Quảng Ngãi đã có một vị thế vững vàng, giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

Cũng vào thời gian này, một số trạm thủy điện đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, đã ngừng hoạt động khi được lưới điện quốc gia thay thế như trạm thủy điện Di Lăng (công suất thiết kế ban đầu 160 kWh, ngừng hoạt động năm 1998); Trạm thủy điện Cà Đú - Trà Bồng công suất thiết kế ban đầu 400 kWh, ngừng phát điện phục vụ thắp sáng, chuyển sang phục vụ sản xuất đất đèn từ năm 2000).

Bước sang năm 2001, tổng sản lượng điện của ngành điện Quảng Ngãi đạt 184 triệu kWh (tăng hơn 50 lần so với năm 1975) với hơn 17 ngàn khách hàng, trong đó có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong ngành kinh tế tỉnh nhà như: Công ty đường Quảng Ngãi, Nhà máy cơ khí An Ngãi, Khu công nghiệp Tịnh Phong, KCN Dung Quất… Lúc này toàn tỉnh có 13 TBA 35 kV, với tổng dung lượng là 72 MVA, 657 trạm hạ áp, tổng dung lượng 96 MVA. Mạng lưới đường dây do Điện lực Quảng Ngãi quản lý gồm 883,4 km đường dây 22/15 kV và 172 km đường dây 35 kV. Ngoài nguồn điện từ lưới điện Quốc gia, điện lực Quảng Ngãi còn vận hành nguồn nhiệt điện (máy diesel) với công suất 12,5 MVA. Toàn tỉnh có 134/179 xã, phường, thị trấn được cấp điện - đạt tỷ lệ 74,86%.

Trong giai đoạn 1990-2005 mạng lưới dịch vụ buôn bán, sửa chữa thiết bị điện đã phát triển mạnh mẽ cùng với sự chuyển đổi mạnh của nền kinh tế cơ chế thị trường, đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất, lắp ráp thiết bị điện với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Lưới điện quốc gia ngày càng mở rộng, kinh tế phát triển, đời sống người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu sử dụng điện trong gia đình ngày càng cao.

Đến cuối năm 2005, trên địa bàn tỉnh đã có 1.755,9 km đường dây trung áp; 1.181,4 km đường dây hạ áp; 12 TBA trung gian; 1.254 TBA phân phối; Tổng dung lượng 184,815 kVA. Ngoài lưới điện quốc gia, Điện lực Quảng Ngãi quản lý vận hành 2 cụm máy phát điện: Thành phố Quảng Ngãi (12 tổ máy, tổng công suất lắp đặt 12,6 MW) và huyện đảo Lý Sơn (3 tổ máy, tổng công suất lắp đặt 0,92 MW). Sản lượng điện đạt 310, 46 triệu kWh với hơn 75 ngàn khách hàng; 14/14 huyện, thành phố (trong đó có huyện đảo Lý Sơn) đã có điện, 180/180 xã, phường trong toàn tỉnh đã có điện. Điện thương phẩm năm 2005 đạt 299,6 triệu kWh, điện năng tiêu thụ bình quân trên đầu người là 209,62 kWh/người/năm.

Thực hiện chủ trương của Nhà nước, ngành điện đã có chính sách khuyến khích, kêu gọi nhiều thành phần kinh tế, tham gia đầu tư sản xuất điện năng, bán lại cho ngành điện. Đã có một số công trình thủy điện được đầu tư như thủy điện Cà Đú, thủy điện Hà Nan, Nước Trong… Ngoài ra ở các huyện miền núi, tận dụng nguồn nước của các dòng suối, nhân dân cũng đã lắp đặt nhiều máy phát điện nhỏ, công suất 1- 2 kWh, chủ yếu sử dụng cho từng hộ, hoặc từng nhóm hộ.

Đến cuối năm 2007, tổng sản lượng điện đạt 423,6 triệu kWh (tăng 15,9% so với năm 2006), trong đó điện phát bằng nguồn diesel thực hiện 3,7 triệu kWh. Cùng với đà phát triển kinh tế của xã hội, tỷ trọng điện dùng cho các mục đích cũng đã có nhiều thay đổi: Công nghiệp: 27,73% ; Nông nghiệp: 0,68% ; Thương nghiệp: 3,53% ; các hoạt động khác: 2,81% ; Ánh sáng sinh hoạt: 65,23%. Tổng số khách hàng ký hợp đồng trực tiếp với Điện lực là 87.446 (tăng 12% so với năm 2006). Khối lượng quản lý về đường dây và TBA gồm: 1.874,5 km đường dây 35, 22, 15 kV; 1.449,2 km đường dây 0,4 kV; 1.449 máy biến áp.

Nhìn lại quá trình xây dựng và phát triển của ngành điện Quảng Ngãi từ sau ngày giải phóng đến nay, đặc biệt là từ sau khi mạng lưới điện Quốc gia kéo về đến Quảng Ngãi, đã có bước phát triển vượt bậc, từ một số máy phát nhiệt điện do chính quyền Sài Gòn để lại, chủ yếu cung cấp điện thắp sáng, sinh hoạt, điện lực đã trở thành một ngành quan trọng, đóng vai trò huyết mạch trong sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá tỉnh nhà, vừa cung cấp năng lượng điện vận hành máy móc, thiết bị, công nghiệp, thủy lợi; vừa đáp ứng nhu cầu điện sinh hoạt của người dân.

Định hướng phát triển của Điện lực Quảng Ngãi: Về nguồn điện, ngoài đầu tư xây dựng mới hệ thống lưới điện và tăng cường dung lượng cho các TBA 500 kV, 200 kV (Dốc Sỏi), 110 kV (Tịnh Phong - Dung Quất), dự kiến đầu tư một số nguồn điện: thuỷ điện Nước Trong, thủy điện Đăkrinh, thủy điện Đăkselo, hệ thống quy hoạch bậc thang sông Trà Khúc… Điện thương phẩm Điện lực Quảng Ngãi thực hện năm 2010 dự kiến khoảng 513 triệu kWh tăng bình quân hằng năm 14,24% (giai đoạn 2006 -2010); điện năng tiêu thụ bình quân là 329,1 kWh/người/năm. Ngoài ra, khi các nhà máy, công ty lớn tại Khu kinh tế Dung Quất đi vào hoạt động thì mức tiêu thụ điện năng dự kiến sẽ vượt qua 1 tỷ kWh/năm.

Từ khóa » Khi Nào Có điện Quảng Ngãi