Cuộc Nổi Dậy Đoàn Hữu Trưng – Wikipedia Tiếng Việt

Khởi đầu, Đoàn Hữu Trưng xin ra khỏi Ký Thưởng viên của cha vợ là Tùng Thiện Vương, đồng thời trả vợ là Thể Cúc với cớ "bất kính với cha mẹ chồng".[1] Tuy nhiên, rất có thể đây chỉ là cái cớ của Hữu Trưng, phòng khi cuộc nổi dậy thất bại, vợ và gia đình bên vợ ít bị liên lụy.[1]

Được tự do, Đoàn Hữu Trưng liền "rượu sớm trà trưa" để có dịp kết giao với những người cùng chí hướng.

Đông Sơn thi tửu hội

sửa

Có lẽ, Đông Sơn thi tửu hội ra đời trong khoảng từ 1864-1865 với chủ trương "uống rượu, ngâm thơ, tiêu khiển phóng khoáng". Nhưng thực tế, tổ chức này chính là "bộ tham mưu" của cuộc khởi nghĩa, còn chuyện "thơ rượu" chẳng qua chỉ là vỏ bọc để che mắt những quan lại, sai nha khác chính kiến đang rình rập khắp nơi...

Buổi đầu, hội có năm người gồm Đoàn Hữu Trưng (đứng đầu) và hai em ruột là Đoàn Tư Trực, Đoàn Hữu Ái cùng hai người bạn thân thiết là Trương Trọng Hòa và Phạm Lương.

Sách lược thầm kín của hội là tôn phù Đinh Đạo lên ngôi vua và tôn Tự Đức lên làm Thái thượng hoàng:[2]

...Trước tôn vua Thái thượng hoàng, Sau tôn ngũ đại đồng đường lên ngôi...

Để rồi:[2]

...Trong trừ tả đạo cho thanh, Ngoài cùng Tây tặc tranh giành một phen...[b]

Tuyên truyền, vận động

sửa

Theo sách lược trên, ba anh em họ Đoàn đã thực hiện được những việc:

  • Đoàn Tư Trực: khảo sát tình hình nội thành, cải trang thành người bán sách để bí mật gặp Đinh Đạo đang bị quản thúc trong cung.

Đỗ Bang cho biết khi vào được trong cung, Đoàn Tư Trực đã kết nghĩa với Đinh Đạo. Dự kiến Tư Trực sẽ tìm cách giải thoát cho Đinh Đạo và đưa ông vào Nam gặp Trương Định, để cùng kháng Pháp...[3] Theo sử gia Phạm Văn Sơn: "năm Tự Đức thứ 17 (1864) nhân vì phát giác ra vụ án của tên nghịch Võ Tập nên lại phải giam vào ngục tối ở phủ Thừa Thiên. Đinh Đạo giam riêng một nơi".[4] Như vậy, việc gặp mặt này nếu có, chắc chắn phải xảy ra trước khi Đinh Đạo và ba em bị giam cầm trong ngục tối.

  • Đoàn Hữu Ái: năm 1865, cạo đầu giả làm nhà sư, để lôi kéo các sư sãi và một số tín đồ Phật giáo, vốn rất được xem trọng ở Huế, vào tổ chức. Đặc biệt, Hữu Ái đã vận động được sư Nguyễn Văn Quý, trụ trì chùa Long Quang có chùa riêng là Pháp Vân (chùa Khoai), nhận giúp mấy việc: làm "quân sư" cho hội Đông Sơn, cho hội mượn chùa làm cơ sở bí mật dùng để hội họp, chế tạo khí giới, may cờ và sẽ là bản doanh khi cuộc khởi nghĩa nổ ra.
 
Lăng Tự Đức, tức Vạn Niên cơ.

Đây là một thành công lớn của hội, vì thuở đó, nơi chùa Pháp Vân tọa lạc là một vùng đồi núi hiểm trở, đi lại rất khó khăn, ít người lui tới. Chùa Pháp Vân cách kinh thành 5 km, chỉ cách Vạn Niên cơ (lăng Tự Đức) khoảng 1 km, nơi mà ngày cũng như đêm luôn có khoảng ba ngàn quân lính, phu thợ đang chịu khổ sở vì việc xây lăng. Bấy giờ, trong dân gian có câu:

Vạn Niên là Vạn Niên nào?

Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

Và câu:

Một thằng Biện Chất nên ghê,

Xem quân như cỏ chẳng hề xót thương.

Hai câu thơ này có ý khích động lòng căm phẫn của nhân dân. Tuy nhiên, theo sử gia Phạm Văn Sơn thì chưa hẵn 2 câu thơ này là của nhân dân mà có thể là do phe đảo chính tung ra.[5]

Chính vì thế, Chùa Pháp Vân trở thành đối tượng cần tuyên truyền để trở thành lực lượng nòng cốt cho cuộc nổi dậy.

  • Đoàn Hữu Trưng: lôi kéo được các quan lại cao cấp nhận làm nội ứng, chuẩn bị được hàng trăm chiếc thuyền chờ sẵn khi khởi sự ở bến đò Trường Súng...

Nhờ công tác tuyên truyền, vận động, nên ngoài nhà sư Nguyễn Văn Quý, hội có thêm một số người tham gia như: Nguyễn Văn Viên (nhà sư), Nguyễn Văn Lý (nhà sư), Tôn Thất Cúc (hữu quân), Tôn Thất Giác (vệ úy), Lê Chí Trực (đội trưởng), Lê Văn Cơ (đội trưởng), Bùi Văn Liệu (suất đội), Lê Văn Tề (lính vũ lâm),...

Từ khóa » Nổi Hữu