Đại Từ Nhân Xưng Trong Truyện Kiều - Tạp Chí Cửa Việt
Có thể bạn quan tâm
Đại từ nhân xưng (personal pronoun) “chỉ những thám tố trong hoàn cảnh lời nói”(1), thay thế cho danh xưng của người khi không muốn gọi tên. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng rất đa dạng các đại từ nhân xưng và quan trọng hơn là ông đã sử dụng chúng một cách lý thú nhằm nhiều mục đích khác nhau. Đại từ nhân xưng có khi được dùng để biểu thị thái độ của nhà thơ và thái độ của các nhân vật đối với nhau, có khi để thể hiện tính cách nhân vật. Hơn thế, chúng cho thấy chỗ đứng của nhân sinh Truyện Kiều trong cuộc đời. Về mặt ảnh hưởng văn học, cách dùng đại từ cho biết có ảnh hưởng của ca dao trong tác phẩm. Cách dùng đại từ nhân xưng còn giúp phân tuyến, phân loại nhân vật.
Trong số nhiều các đại từ nhân xưng hiện diện trong Truyện Kiều, đại từ “người ta” có tần số thấp nhưng có rất nhiều ý nghĩa. “Người ta” ở đây là thiên hạ nói chung, được nói đến với ý vị chua chát, ngao ngán.
- Người ta ai mất tiền hoài tới đây (Tú Bà)
- Quan trên trông xuống, người ta trông vào (Hồ Tôn Hiến)
- Lại như những thói người ta (Kiều)
- Sống làm vợ khắp người ta (Kiều)
Đối với bất cứ nhân vật nào, “người ta”, “cõi người ta” đều ta bà, hỗn trọc, là những kẻ gây nên đau khổ, cần phải dè dặt, phòng bị. “Người ta” ở đây gần gũi với “tha nhân” trong văn học hiện đại. Ở đây, đã xuất hiện tư duy phân lập, lấy bản vị mà nhìn người khác, biết chia tách tôi/ người ta. Với các tác nhân gây nên sự chán chường, mệt mỏi đó, cuộc đời trong Truyện Kiều vì thế không dễ sống, dễ chấp nhận, vì thế nhân sinh ở đó luôn tự vấn, cật vấn. Từ “sao” do đó xuất hiện rất nhiều lần, tạo ra những câu hỏi rống riết. Nhân sinh trong truyện muốn biết nguyên do của những đau khổ, của những sự biến bất thường, đáng ngạc nhiên và của những bi ai, gập ghềnh của thân phận nhưng không thể biết. Không có câu trả lời cho những nguyên nhân. Họ rã rời mà vặn hỏi và hỏi mà bất bình, cay đắng, phẫn nộ. Các câu hỏi với từ “sao” làm thành một nhịp mạnh, thống thiết, dằn vặt và day dứt trong tâm can:
- Rằng: Sao trong tiết thanh minh
Mà đây hương khói vắng tanh thế này?
- Hoa sao hoa khéo đọa đày bấy hoa?
- Khi sao phong gấm rũ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
- Thân sao nhiều nỗi bất bằng?
- Phận sao bạc chẳng vừa thôi?
- Nhân làm sao đến thế này?
- Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao?
- Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?
- Chị sao phận mỏng đức dày?
- Phận sao bạc mấy Kiều nhi?
- Cơ duyên đâu bỗng lạ sao?
- Nhân làm sao đến thế này?
….
Truyện Kiều có các cặp đại từ nhân xưng đi liền lạc với nhau, có tính âm - dương, lưỡng cực. Đó là các cặp “mình - ta”, “kẻ - người”, “người - kẻ”, “ta - người”, “trai - gái”, “thiếp - chàng”:
- Khéo vô duyên bấy là mình với ta
- Đành thân phận thiếp, ngại danh giá chàng
- Đau lòng kẻ ở người đi
- Người yểu điệu, kẻ văn chương
- Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm, một mình xa xôi
- Vì ta khăng khít cho người dở dang
- Bây giờ kẻ ngược người xuôi
- Trai anh hùng, gái thuyền quyên
...
Các cặp đại từ đó cho thấy tính chất, mức độ nông sâu trong quan hệ giữa các đối tượng trong cặp, thường là thân tình, gần gũi. Chúng cũng tạo nên các cấu trúc song hành, đối xứng trong câu thơ hoặc liên thơ. Quan hệ giữa các thành tố trong cặp là khăng khít, khó tách rời do chúng có liên hệ tương giao, nhân quả và đồng đẳng. Các cặp đại từ trên chủ yếu để chỉ các cặp tài tử - giai nhân, không dùng để chỉ các quan hệ khác ngoài quan hệ đã nói (như quan hệ Hoạn Thư - Thúc Sinh chẳng hạn). Trong một số trường hợp, có cảm giác Nguyễn Du sung sướng khi viết các cặp đại từ nêu trên. Đó là lúc ông nhìn thấy các cặp đôi hoàn hảo được hạnh phúc theo đúng truyền thống trong hôn nhân thời trung đại.
Một đại từ khác được dùng phổ biến trong Truyện Kiều là “ai”. Đại từ này đa nghĩa, có các biểu ý khác nhau. Trước hết nó mang phong vị của ca dao, gần gũi với thơ ca của người bình dân. Thơ dân gian rất hay dùng đại từ “ai”:
- Từ xóm chợ xuôi theo dòng nước biếc
Ngồi một mình trên chiếc xuồng con
Anh nhìn lên đám mạ non
Sao không đi sớm, anh còn đợi ai?
- Ai về Giồng Dứa qua Truông
Gió đưa bông sậy, bỏ buồn cho em.
...
Truyện Kiều cũng có kiểu dùng đại từ “ai” tương tự:
- Thiệt đây mà có ích gì đến ai
- Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai
- Để sau nên thẹn cùng chàng, bởi ai?
- Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan
- Để lòng thì phụ tấm lòng với ai
- Xa xôi ai có thân tình chăng ai?
- Dù ai lòng có sở cầu
- Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành
...
“Ai” trong các trường hợp trên là cách nói e ấp, một lối làm duyên, người nói đã biết rõ ai là ai (chàng, cô gái, thiếp) nhưng không gọi tên một cách trực tiếp mà nói gần như phiếm chỉ. Việc dân tộc hóa bản gốc ngoại lai trong Truyện Kiều vì thế, khởi phát ngay từ cách thức sử dụng đại từ mang phong cách thơ ca bình dân của người Việt. Thanh Tâm Tài Nhân không dùng “ai” trong các trường hợp Nguyễn Du dùng. “Ai” trong truyện còn để chỉ kẻ nào đó là tác nhân gây ra những khổ đau. Nói cách khác, có một mạng lưới vô hình, đâu đó, không lường trước được đã gây ra tai họa, nhọc nhằn cho các nhân vật:
- Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi
- Này ai vu thác cho người hợp tan
- Này ai đan dập, giật giàm bỗng dưng?
- Vì ai rụng cải rơi kim
Để con bèo nổi, mây chìm vì ai?
- Duyên đâu ai dứt tơ đào
Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay
Vì “ai” trong các câu thơ trên là những thế lực gây tai ương nhưng không xác định được rõ ràng, cụ thể do đó nhân sinh Truyện Kiều bất lực, không thể biết nguyên do của khổ đau, ly tan, oan khốc. Điều đó tạo thành các mối hận “thiên nan vấn” trong lòng người kể chuyện và các tài tử trong truyện. “Ai” có khi là ai đó mà các nhân vật kêu gào trong day dứt để tìm kiếm. Họ là kẻ đồng thanh khí với nhân vật:
- Nào người tích lục, tham hồng là ai?
- Ai tri âm đó, mặn mà với ai?
Do kêu gào nhưng không có lời đáp nên rốt cuộc, nhân sinh trong truyện vẫn cô đơn, cô lẻ. Mong muốn được kỳ ngộ của tài tử, nhan sắc trong truyện vẫn là một trong các âm vang vang vọng nhất.
Đại từ nhân xưng tiếp theo cũng xuất hiện với tần số cao là “ta”. “Ta” trong Truyện Kiều có hai nghĩa, có khi chỉ ngôi thứ nhất số ít (tương đương với “tôi”), có lúc chỉ ngôi thứ nhất số nhiều (chúng ta). “Ta” trong nghĩa “chúng ta” được một số nhân vật dùng đến nhưng nhiều nhất là để chỉ quan hệ Kiều - Thúc Sinh:
- Tăm hơi ai kẻ giữ giàng cho ta
- Mà ta suốt một năm ròng
- Trước người đẹp ý, sau ta biết tình
- Rõ ràng thật lứa đôi ta
- Đôi ta chúng nghĩa đèo bòng
“Ta”, “đôi ta” được dùng nhiều trong quan hệ Thúc Sinh - Kiều là bởi họ có quan hệ sâu sắc, thời gian gắn kết dài, khăng khít và nói chung đằm thắm, khác quan hệ Kim - Kiều do ngắn ngủi và cũng khác quan hệ Thúc Sinh - Hoạn Thư do đang bất ổn. Phần lớn đại từ “ta” được dùng khi các cặp nhân vật hạnh phúc hoặc đang hồi tưởng về nó trong quá khứ. “Ta” chỉ “tôi” mang nhiều tầng nghĩa lý thú. Trong Truyện Kiều, Kiều chỉ 4 lần xưng “ta”, chủ yếu là khi thương thân, khi trách cứ mình và khi lập luận hay trong lúc nguy nan, cần phải mạnh mẽ. Ngược lại, Vương Thúy Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân luôn miệng xưng “ta”. Điều đó làm cho nhân vật trở nên quá cao ngạo. Với việc ít nói đại từ “ta”, Kiều của Nguyễn Du vì thế là một cô gái Việt nhu mì, hiền hòa nhưng mạnh mẽ. “Ta” cũng được xưng bởi Sở Khanh và Thúc Sinh. Trong Truyện Kiều, việc dùng “ta” khi xưng hô của Sở Khanh cho thấy sự khoa trương, đại ngôn và khoác lác của nhân vật:
- Ta đây nào phải ai đâu mà rằng
- Rằng: Ta có ngựa truy phong
- Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng
- Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì.
Đại từ “ta” trong lời của Sở Khanh như thế làm biểu lộ tính cách nhân vật. Thúc Sinh có khi cũng xưng “ta” (Liệu mà cao chạy xa bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi), và do đó thể hiện phần nào thói “bốc rời” nhưng yếu ớt, không có khả năng bảo vệ người tình. Với việc để cho Sở Khanh nói liên tục đại từ “ta”, Nguyễn Du muốn cho thấy Sở Khanh của ông khác Sở Khanh trong Kim Vân Kiều truyện(2). Sở Khanh Trung Quốc là công cụ của một mưu mô còn Sở Khanh Nguyễn Du là một tính cách bất hủ. Sở Khanh của Thanh Tâm Tài nhân xưng “tôi” với Kiều. “Tôi” ở đây trung tính, khác hẳn “ta” vì nó có hàm ý chỉ sự kiêu căng, khinh mạn và dối trá.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có dùng một lớp các đại từ nhân xưng riêng biệt, cùng nằm trong một trường nghĩa, có sắc thái nghĩa giống nhau để gọi tên nhân vật. Đó là các đại từ như “thằng”, “gã”, “mụ”, “bầy”... Nhà thơ sử dụng các đại từ này để biểu thị thái độ khinh bỉ, chê bai, coi thường:
- Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ
- Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh
Vẫn là một đứa phong tình đã quen
- Lầu xanh có mụ Tú Bà
- Khuyển, Ưng lại chọn một bầy côn quang
...
Không chỉ giúp biểu thị thái độ của người kể chuyện, các đại từ ở trên còn làm bộc lộ tính cách nhân vật, phân loại, phân tuyến chúng. Họ do bị gọi bằng các đại từ ấy nên đương nhiên thuộc nhóm vô loài, bất lương. Riêng với Sở Khanh, khi giới thiệu nhân vật, Nguyễn Du gọi anh ta bằng “chàng” (Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai). Thật ra đó là một mắt xích trong trò chơi cốt truyện, nhằm che giấu bản chất thực của nhân vật, chỉ hé lộ bản chất đó khi sự kiện được kể kết thúc, nhằm đánh lừa và gây ngạc nhiên cho độc giả. Các nhân vật bất lương cũng xưng hô với nhau và với tài tử không như các nhân vật tài tử. Nếu nhân vật tài tử dùng các đại từ lịch lãm, chuẩn mực trong giao tiếp là chàng, thiếp, tôi, con, chị, đôi ta... thì nhân vật bất lương, dữ dằn lại dùng các đại từ nhân xưng ở bậc thấp, biểu thị sự ô trọc:
Này này sự đã quả nhiên
Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi
(Tú Bà mắng Kiều)
- Nọ nghe rằng có con nào ở đây
(Sở Khanh nói)
- Mụ già hoặc có điều gì
(Mã Giám Sinh nghĩ)
- Con này chẳng phải thiện nhân
Chẳng phường trốn chúa cũng quân lộn chồng
(Hoạn Bà mắng)
...
Việc sử dụng các đại từ nhân xưng như trên làm tăng chất khẩu ngữ, lời nói hàng ngày cho truyện, phù hợp với tính cách và tình huống, tâm trạng của nhân vật, đồng thời làm bộc lộ tâm lý, tư cách, mưu mô của chúng. Hơn thế, các đại từ đó còn cho thấy sự ta bà, ô tạp của nhân sinh, của một lớp người, dù xuất thân có khác nhau và cũng cho thấy thân phận mong manh, bị dồn ép và bị xúc phạm của nhân vật trung tâm trước sự dữ dằn, hung bạo của tha nhân, của kẻ khác.
Có hai đại từ nhân xưng trong Truyện Kiều dù khác nhau về sắc thái ngữ nghĩa và cảm xúc khi phát ngôn nhưng cùng được dùng để biểu lộ cái tôi, cái cá nhân, đó là “mình” và “tôi”. Kiều và Nguyễn Du rất thường dùng đại từ “mình”:
- Nỗi mình âu cũng giãn dần
- Một mình thì chớ, hai tình thì sao
- Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình
- Nỗi nhà tang tóc, nỗi mình xa xôi
- Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn
- Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi
- Xót mình của các buồng khuê
...
Cũng thế, các nhân vật như Kim Trọng, Thúc Sinh, Hoạn Thư và đặc biệt là Kiều rất hay xưng “tôi”:
- Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi
- Rằng: “Tôi bèo bọt chút thân”
- Nhưng tôi có sá chi tôi
- Trăm điều ngang ngửa vì tôi
- Tin tôi nên quá nghe lời
....
Đại từ “tôi” và “mình” được dùng để nói đến sự hiện hữu của người nói với tư cách là một cá nhân. Họ lấy cái cá thể, thân xác của một hiện tồn, lấy bản thân mình ra để làm bằng khi phát ngôn. “Mình” và “tôi” đối lập với người, người ta hay ở đó con người cá nhân đã ở trong tư thế đối chọi với kẻ ác. Chúng được người phát ngôn xưng khi thú nhận, khi thương thân và khi cần lập luận, khi cần xưng danh mà không ngần ngại. “Mình” và “tôi” do vậy thể hiện trạng thái suy tư về thân phận, về cái tôi của nhân vật. Khi đó, nhân vật trở thành nhân vật ý thức, nghiền ngẫm, thao thức về bản vị. Nhân vật trong văn học trung đại rất hiếm khi xưng “tôi” và “mình” với nghĩa là “tôi” vì thế sự xuất hiện khá nhiều của các đại từ này trong Truyện Kiều đánh dấu sự ra đời ở thuở đầu con người cá nhân, mạnh mẽ đem cái tôi ra để đối mặt với cuộc đời. Do đó, đây cũng là một đóng góp nữa của Truyện Kiều cho văn học đương thời và sau đó.
Có các đại từ khác cũng không nên bỏ sót đó là đại từ “khách” và cách Từ Hải và Kiều dùng đại từ để giao tiếp với nhau. “Khách” được dùng để chỉ những ai tìm đến tài sắc:
- Có người khách ở viễn phương
- Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo
- Khách du bỗng có một người
- Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi
“Khách” ở đây thường là người có một khả năng nào đó (như Kim Trọng, Từ Hải...) và đang tìm đến để gặp gỡ Kiều và Đạm Tiên thuở còn sống. Cách gọi vừa thể hiện nét phong tình, tài tử của “khách” vừa nhấn mạnh tài sắc của nhân vật sẽ tiếp đón, vui thú với “khách”. Vì thế trong quan hệ giao tiếp giữa hai bên, đại từ “khách” được dùng một cách đắc dụng. Khách tài tử trong Truyện Kiều cơ hồ như chỉ biết đến tình ái, nếu không còn có tình ái thì họ có thể tự vẫn, quyên sinh. Kim Trọng nói sẽ “bỏ quá xuân xanh một đời” nếu trời phụ bạc (Khuôn thiêng dù phụ tấc thành/ Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời) trong khi đó Thúc Sinh cũng nói sẽ bỏ mình nếu cha chia rẽ mối tình của mình với Kiều (Lượng trên quyết chẳng thương tình/ Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi). Khác với Kim Trọng và Thúc Sinh, Từ Hải được kể là đấng hùng anh, kì vĩ. Điều này biểu lộ qua cách dùng đại từ. Kiều xưng “thiếp” với Từ Hải không lâu sau khi mới gặp gỡ (Trong khi đó Kiều không xưng như thế với Kim Trọng buổi đầu). Xưng “thiếp” là tỏ ra khiêm nhường, Kiều cũng gọi mình là “dây cát”, “hoa hèn”, “chút thân liễu bồ”, “chút phận thơ ngây”... với Từ và gọi Từ là Từ công, đấng anh hùng (Rằng: “Từ là đấng anh hùng” và Rằng: “Từ công hậu đãi ta”). Từ Hải thì gọi mình là “quốc sĩ”, “anh hùng”. Tất cả các yếu tố trên qui tụ lại, làm nên phong thái, phong khí của bậc anh hùng “oanh thiên địa”. Như vậy, tính cách, loại hạng của các nhân vật không chỉ hiển lộ qua việc miêu tả ngoại diện và hành động mà trong Truyện Kiều, điều đó hiển lộ trước hết qua cách thức sử dụng đại từ nhân xưng của nhà thơ. Nói Truyện Kiều đã Việt hóa cao các yếu tố vay mượn cũng không chỉ nói Nguyễn Du đã sử dụng hay lược bỏ cái gì mà nằm ngay ở sự xuất hiện của các đại từ. Có những đại từ nhân xưng như đã thấy, hoàn toàn không có hoặc khác đi rất nhiều về ngữ nghĩa so với cuốn tiểu thuyết nước ngoài. Thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật mà ở đây, người kể chuyện trùng khít với tác giả, cũng bộc lộ rõ qua cách thức sử dụng đại từ. Đại từ “ai” và đại từ “mình” chẳng hạn thể hiện sự thương cảm, đồng cảm của Nguyễn Du đối với Kiều. Về mặt ngôn ngữ, yếu tố thông tục của một số đại từ nhân xưng đưa ngôn ngữ Truyện Kiều đến gần với khẩu ngữ, làm tăng bộ phận ngôn ngữ có tính chợ búa, phố phường, làm giảm áp lực của khối ngôn ngữ khuôn sáo từ cuốn truyện được vay mượn. Do đó, Truyện Kiều hay là do có sự đóng góp của phương cách sử dụng đại từ nhân xưng.
T.N.H.T
_________
Chú thích:
(1) Nguyễn Thiện Giáp, Giáo trình ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tr. 261.
(2) Phạm Đan Quế, Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện, NXB Văn học, H. 2000.
Từ khóa » để Con Bèo Nổi Mây Chìm Vì Ai
-
Từ Điển - Từ Bèo Nổi Mây Chìm Có ý Nghĩa Gì - Chữ Nôm
-
“Truyện Kiều” Một Kho Tàng Vô Tận
-
Dịch Thuật: Vì Ai Rụng Cải Rơi Kim (769) ("Truyện Kiều")
-
Từ Bèo Nổi Mây Chìm Là Gì - Tra Cứu Từ điển Tiếng Việt
-
Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều - Trần Đình Sử - Văn Học Sài Gòn
-
Bài Thơ: Hồi 07 (Nguyễn Du - 阮攸) - Thi Viện
-
Câu Kiều Vọng Giữa Nhân Gian - Báo Hà Tĩnh
-
Truyện Kiều - Nguyễn Du - Ngữ Văn Lớp 9
-
Chữ "tôi" Trong Truyện Kiều - Báo Quảng Bình điện Tử
-
Tự Phê Bình Của Các... - THCS Lý Tự Trọng-Việt Trì-Phú Thọ ...
-
Không Gian Nghệ Thuật Của Truyện Kiều | Trần Đình Sử
-
Một Bậc Thầy Văn Toán Song Toàn
-
Truyen Kieu (0573-0804)
-
Lời Bài Thơ Truyện Kiều 1 (Nguyễn Du)
-
Truyện Kiều Của Nguyễn Du - Nhìn Từ Góc độ Biểu Tượng
-
Nguyễn Du, Truyện Kiều (câu 693-776) - Văn Học Việt Nam