Đắk Lắk – Wikipedia Tiếng Việt

Bài viết này cần được cập nhật do có chứa các thông tin có thể đã lỗi thời hay không còn chính xác nữa. Bạn có thể giúp Wikipedia bằng cách cập nhật cho bài viết này. (10/2025)
Đắk Lắk
Tỉnh
Biểu trưng
Cao nguyên Đắk Lắk
Biệt danhThủ phủ cà phê, Xứ Nẫu
Tên cũDarlac, Phú Yên
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngDuyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Trung tâm hành chínhphường Buôn Ma Thuột
Trụ sở UBNDSố 9 đường Lê Duẩn, phường Buôn Ma Thuột
Phân chia hành chính14 phường, 88 xã
Thành lập22/11/1904
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDTạ Anh Tuấn
Hội đồng nhân dân111 đại biểu
Chủ tịch HĐNDCao Thị Hòa An
Chủ tịch UBMTTQY Giang Gry Niê Knơng
Chánh án TANDNguyễn Văn Chung
Viện trưởng VKSNDPhạm Trung Thuận
Bí thư Tỉnh ủyLương Nguyễn Minh Triết
Địa lý
Tọa độ: 12°45′59″B 108°19′31″Đ / 12,766268°B 108,325195°Đ / 12.766268; 108.325195
Bản đồBản đồ tỉnh Đắk Lắk
Vị trí tỉnh Đắk Lắk trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Đắk Lắk trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Đắk Lắk trên bản đồ Việt Nam
Diện tích18.096,40 km²[1]
Dân số (31/12/2024)
Tổng cộng3.346.853 người[1]
Mật độ184 người/km²
Dân tộcKinh, Ê Đê, M'Nông, Nùng, Tày, Thái, Dao
Kinh tế (2025)
GRDP229.550 tỉ đồng (~ 9,18 tỉ USD)
GRDP đầu người80,6 triệu đồng (~ 3.224 USD)
Khác
Mã địa lýVN-33
Mã hành chính66[2]
Mã bưu chính63xxxx
Mã điện thoại0262
Biển số xe47, 78
Websitedaklak.gov.vn
  • x
  • t
  • s

Đắk Lắk (hay Darlac trong thời kỳ Pháp thuộc; tên gọi bắt nguồn từ tiếng Ê Đê: Đắk nghĩa là nước, Lắk nghĩa là hồ) là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên lớn thứ ba Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Buôn Ma Thuột.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (có hiệu lực từ ngày ban hành). Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk được sắp xếp lại để thành lập một đơn vị hành chính mới, giữ nguyên tên gọi là tỉnh Đắk Lắk.

Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Đắk Lắk có diện tích: 18.096 km², xếp thứ 3; dân số: 3.346.853 người, xếp thứ 17; GRDP 2024: 198.132.950 triệu VNĐ, xếp thứ 21; thu ngân sách 2024: 14.095.836 triệu VNĐ, xếp thứ 25; thu nhập bình quân: 46,82 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 27.[3]

Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các nhà nghiên cứu, Đắk Lắk [daːk laːk] bắt nguồn từ tiếng M'Nông (phát âm gần giống như "đác lác") nghĩa là "hồ Lắk", với dak nghĩa là "nước" hoặc "hồ". Từ dak này, cũng giống như các từ có âm "đạ" (Đạ Tẻh), "đà" (Đà Lạt, Đà Nẵng). Đa/đạ/đà là âm của một từ có nghĩa là "nước, nguồn nước, sông" của vùng người dân tộc sinh sống.[4]

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở vùng Nam Trung Bộ, đầu nguồn của hệ thống sông Srêpốk và một phần của sông Ba. Tỉnh Đắk Lắk có vị trí địa lý:

  • Phía đông giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 189 km[5]
  • Phía tây giáp tỉnh Mondulkiri của Campuchia với đường biên giới dài 193 km[5]
  • Phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Lâm Đồng
  • Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai.

Độ cao trung bình 400 – 800 m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442 m so với mực nước biển, đây cũng chính là đỉnh núi cao nhất ở Đắk Lắk.

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia tách và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea Trang (huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) nằm trong diện tranh chấp để phân định địa giới hành chính giữa 2 tỉnh.[6]

Điều kiện tự nhiên

[sửa | sửa mã nguồn]
Suối trong rừng Ea So
Thác Dray K'nao ở M'Drak

Đắk Lắk mới có địa hình đa dạng được phân chia bởi dãy Trường Sơn như sau:

  • Phần phía Tây và trung tâm tỉnh (thuộc khu vực tỉnh Đắk Lắk cũ và phía Tây tỉnh Phú Yên cũ trước đây) có địa hình có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là 1 cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven các dòng sông chính. Khí hậu của khu vực được chia thành 2 tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía Đông và phía Nam của khu vực có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa trong năm. Riêng vùng núi trung tâm tỉnh do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng.[7] Lượng mưa trung bình nhiều năm tại khu vực phía Tây đạt từ 1600–1800 mm.
  • Phần phía Đông dãy Trường Sơn (thuộc khu vực tỉnh Phú Yên cũ) có 3 mặt là núi, phía Bắc có dãy Đèo Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả, phía Tây là mạn sườn đông của dãy Trường Sơn, và phía Đông là biển Đông. Chính giữa các dãy núi kể trên là khu vực đồng bằng Tuy Hòa - nơi có hệ thống Sông Đà Rằng, Sông Bàn Thạch, Sông Kỳ Lộ chảy qua - được xem là vựa lúa của miền Trung. Khí hậu của phần phía Đông tỉnh chủ yếunhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,5 °C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm.

Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất cả nước[5] với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học, phân bố trong điều kiện thuận lợi nên tái sinh rừng có mật độ khá lớn. Khoáng sản với trữ lượng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã được xác định là sét cao lanh, sét gạch ngói, ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như vàng, phosphor, than bùn, đá quý... có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.[8] Ngoài ra khu vực phía Đông (thuộc Phú Yên cũ) có nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh. Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomite (90 triệu m3), đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m3), vàng sa khoáng (300 nghìn tấn)

Đối với khu vực phía Tây, hệ thống sông suối khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, tuy nhiên do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô. Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay còn có rất nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea So...[8]. Đối với khu vực phía Đông, có hệ thống Sông Đà Rằng, Sông Bàn Thạch, Sông Kỳ Lộ chảy qua với tổng diện tích lưu vực là 16.400 km², tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m3, đảm bảo đủ nước tưới cho nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt.

Nạn phá rừng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn có hơn 720.000 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng hơn 526.000 ha, độ che phủ rừng đạt hơn 39,3% (tính cả cây cao su). Rừng được giao cho 15 công ty lâm nghiệp, 7 ban quản lý rừng đặc dụng, 4 ban quản lý rừng phòng hộ, 69 doanh nghiệp có chức năng quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, khoanh nuôi bảo vệ rừng và 1 phần giao cho UBND cấp huyện, cấp xã quản lý, Thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, trong năm 2020, các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 1.407 vụ vi phạm, tịch thu 2.441,7 m³ gỗ và 717 phương tiện các loại, thu nộp ngân sách nhà nước hơn 18,8 tỷ đồng. So với năm 2019, số vụ vi phạm giảm 217 vụ. Tuy số vụ giảm, nhưng những vụ phá rừng với quy mô lớn và táo bạo vẫn diễn ra.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn phá rừng là do chính quyền địa phương có rừng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao trong quản lý bảo vệ rừng. Một số cán bộ, công chức trong lực lượng bảo vệ rừng còn thiếu trách nhiệm, thậm chí bao che, tiếp tay cho lâm tặc nên còn sơ hở để các đối tượng làm ăn phi pháp lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm.[9]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử hành chính Đắk Lắk

1. Giai đoạn trước khi thực dân Pháp thiết lập nền cai trị (đầu thế kỷ XIX – 1899)[10]

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chép những sự kiện quá khứ xa xưa về vùng đất Tây Nguyên, sách Đại Nam thực lục viết rõ: Thủy Xá, Hỏa Xá “ở phía trên nước Nam Bàn (khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, dòng dõi nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía tây), thôn lạc có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy ở phía đông núi, vua Hỏa ở phía tây núi”; chi tiết hơn, sách thuật lại rằng: “Buổi quốc sơ, vì cớ họ giáp với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ). Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa vật phẩm địa phương (kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực) để hiến”, điều này thể hiện mối quan hệ bang giao giữa vùng Tây Nguyên với người Kinh được diễn ra một cách tự nhiên, tự nguyện. Sau khi đánh tan quân Chiêm Thành, triều đình nhà Lê ban hành một số chính sách nhằm duy trì mối quan hệ với các dân tộc nơi đây, đồng thời thực hiện di dân, lập ấp ở miền núi, thúc đẩy giao thương; tiến cử các vị tù trưởng, tộc trưởng từng vùng đất và tấn phong cho vua Thủy Xá, Hỏa Xá; tạo “vùng đệm” ngăn cách Đại Việt với Chăm-pa, ổn định vùng biên giới phía Nam.

Đến thời kỳ trị vì của triều Nguyễn, địa bàn Tây Nguyên - Đắk Lắk được gọi là "trấn Man" do triều Nguyễn gián tiếp quản lý. Nhận thấy vị trí trọng yếu về chính trị, quân sự vùng đất này (nằm giữa nước Việt Nam - Đại Nam với Lào, Cao Miên, Xiêm La, các vua nhà Nguyễn (nhất là Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức,...) thường xuyên cử sứ bộ đi lại giữa hai nước, lập đồn, tiến hành tuần tra, canh phòng biên giới và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm. Như vậy, vùng đất Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng từ lâu đã được định hình trong tâm thức người Việt, vai trò nơi đây đối với bảo đảm an ninh nước Đại Việt cũng được khẳng định, nhìn nhận từ sớm. Tuy nhiên, thời bấy giờ, đây vẫn là địa bàn xa lạ, có phần bí hiểm với người Kinh, ít ai có điều kiện lui tới bởi sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, lối sống,... Đến năm 1867, thực dân Pháp tổ chức các đoàn thám hiểm tìm cách xâm nhập sâu vào nội địa vùng Tây Nguyên; năm 1899, Pháp ép vua Đồng Khánh trao quyền quản lý trực tiếp nhằm tiến hành chia để trị nơi đây và bắt đầu thực hiện các chính sách thực dân.[11]

2. Thời kỳ Pháp thuộc và quá trình hình thành tỉnh Đắk Lắk (1899–1945)

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối thế kỷ XIX, Tây Nguyên trở thành vùng đất thuộc quyền cai trị trực tiếp của thực dân Pháp. Ngày 31 tháng 01 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập cơ sở hành chính tại Bản Đôn (trực thuộc Lào). Ngày 02 tháng 11 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương tiếp tục ra Nghị định thành lập Đại lý hành chính Đắk Lắk, đặt trụ sở tại Buôn Ma Thuột, cũng trực thuộc Lào.

Bản đồ tỉnh Darlac năm 1909 (bấy giờ địa bàn bao gồm cả một phần các tỉnh Gia Lai và Đắk Nông ngày nay)

Trước phong trào đấu tranh bền bỉ của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên và sức ép từ triều đình nhà Nguyễn, ngày 22 tháng 11 năm 1904, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập tỉnh Đắk Lắk (ghi theo tiếng Pháp là Darlac). Từ đây, Đắk Lắk chính thức trở thành một trong 20 tỉnh Trung Kỳ và là một trong 73 tỉnh, thành phố của Việt Nam thời Pháp thuộc.

Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, nhiều công sứ Pháp đã lần lượt cai quản tỉnh Đắk Lắk, tiêu biểu như:

Leon Bourgeois (1899–1904)[12], Charles J. Bardin (1904–1905), Henri Besnard (1905–1909)[13], Antoine G. Groslier (1909–1912), Louis Cottez (1912–1913), Leopold Sabatier (1913–1925)[14][15], Paul E. Giran (1925–1931)[16], Desteney (1931–1934)[17], Henri Gerbinis (1935–1938)[18].

Ngày 09 tháng 02 năm 1913, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Kon Tum[15], trong đó Đại lý Đắk Lắk bị sáp nhập và trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum. Đến ngày 02 tháng 7 năm 1923, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định tách Đắk Lắk khỏi tỉnh Kon Tum để tái lập tỉnh Đắk Lắk độc lập.

Khi mới tái lập, tỉnh Đắk Lắk chưa được chia thành các đơn vị hành chính cấp huyện hay tổng, mà chỉ gồm các đơn vị làng (buôn, bon). Trong đó, người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M’Dhur có 120 làng, người M’Nông có 117 làng và người Xiêm có 1 làng.

Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk Lắk được chia thành 5 quận gồm: Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đắk Song, Lắk và M’Đrắk, với tổng cộng 440 làng. Ngày 09 tháng 4 năm 1934, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị định chia tỉnh thành 24 tổng. Theo số liệu năm 1936, tỉnh Đắk Lắk có diện tích khoảng 21.300 km², dân số 106.000 người, gồm 30 tổng và 576 xã.

Ngày 06 tháng 01 năm 1942, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị định số 3268, điều chỉnh lại đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk, gồm 3 quận (Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Lắk) và 2 đại lý (M’Đrắk, Đắk Dam).

3. Giai đoạn 1945–1975

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Về mặt hành chính, tỉnh Đắk Lắk thuộc Trung Bộ và sau đó được đặt dưới sự quản lý của Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung Bộ để phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Bản đồ hành chính năm 1967 cho biết địa giới tỉnh Darlac của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 15 tháng 4 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ số 6, đặt Cao nguyên Trung phần - trong đó có Đắk Lắk - thành Hoàng triều Cương thổ, áp dụng chế độ cai trị riêng.

Ngày 02 tháng 7 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 356-BNV/HC/NĐ, ấn định tỉnh Đắk Lắk (Darlac) gồm 5 quận, 21 tổng và 77 xã. Ngày 23 tháng 01 năm 1959, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách gần như toàn bộ quận Đắk Song để thành lập tỉnh Quảng Đức, khiến tỉnh Darlac chỉ còn 4 quận. Sau đó, quận M’Đrắk tiếp tục bị chia tách, một phần sáp nhập vào tỉnh Khánh Hòa, một phần vào tỉnh Phú Yên.

Tháng 12 năm 1960, Chính phủ Cách mạng chính thức thành lập tỉnh Quảng Đức, lấy mật danh là B4. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, thành lập thêm quận Phước An; đến năm 1965 bãi bỏ cấp tổng, hệ thống hành chính chỉ còn cấp quận và xã.

Theo số liệu năm 1967, dân số tỉnh Darlac là 157.534 người, trong đó Quận Ban Mê Thuột có 95.664 người; Buôn Hồ 31.527 người; Lạc Thiện 19.456 người; Phước An 10.887 người.

Tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức được sáp nhập trở lại vào tỉnh Đắk Lắk. Khi đó, tỉnh Đắk Lắk gồm Buôn Ma Thuột và 6 huyện: Đắk Mil, Đắk Nông, Krông Búk, Krông Pắc, Lắk và Buôn Hồ.

4. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 8 năm 1977, huyện Krông Búk được chia thành huyện Krông Búk và huyện Ea Súp; huyện Krông Pắc được chia thành huyện Krông Pắc và huyện M’Drắk.[19]

Ngày 3 tháng 4 năm 1980, tiếp tục chia huyện Krông Búk để thành lập huyện Ea H’leo, phần còn lại là huyện Krông Búk.[20]

Ngày 19 tháng 9 năm 1981, thành lập huyện Krông Ana trên cơ sở tách một phần diện tích của huyện Krông Pắc và Buôn Ma Thuột; đồng thời chia huyện Krông Pắc thành huyện Krông Pắc và huyện Krông Bông.[21]

Ngày 23 tháng 1 năm 1984, huyện Ea Súp được chia thành huyện Ea Súp và huyện Cư M’gar.[22]

Ngày 22 tháng 2 năm 1986, chia huyện Đắk Nông thành huyện Đắk Nông và huyện Đắk R’lấp.[23]

Ngày 13 tháng 9 năm 1986, thành lập huyện Ea Kar trên cơ sở tách diện tích của huyện Krông Pắc và huyện M’Drắk.[24]

Ngày 9 tháng 11 năm 1987, huyện Krông Búk được chia thành huyện Krông Búk và huyện Krông Năng; đồng thời thành lập huyện Krông Nô trên cơ sở tách một số xã thuộc các huyện Đắk Mil, Đắk Nông và Lắk.

Ngày 19 tháng 6 năm 1990, thành lập huyện Cư Jút trên cơ sở tách một phần diện tích của huyện Đắk Mil và Buôn Ma Thuột.[25]

Ngày 21 tháng 1 năm 1995, Buôn Ma Thuột được chuyển từ đơn vị hành chính cấp thị xã lên thành phố Buôn Ma Thuột.[26]

Ngày 7 tháng 10 năm 1995, chia huyện Ea Súp để thành lập huyện Buôn Đôn, phần còn lại là huyện Ea Súp.[27]

Ngày 21 tháng 6 năm 2001, thành lập huyện Đắk Song trên cơ sở tách diện tích của huyện Đắk Nông và huyện Đắk Mil.[28]

Đến cuối năm 2002, tỉnh Đắk Lắk có diện tích 19.576,4 km², dân số 2.029.972 người, đơn vị hành chính gồm thành phố Buôn Ma Thuột và 18 huyện: Buôn Đôn, Cư Jút, Cư M’gar, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R’lấp, Đắk Song, Ea H’leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Nô, Krông Pắc, Lắk và M’Drắk.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 22/2003/QH11[29], chia tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Sau khi chia tách:

  • Tỉnh Đắk Lắk gồm thành phố Buôn Ma Thuột và 12 huyện: Buôn Đôn, Cư M’gar, Ea H’leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắc, Lắk và M’Drắk; đồng thời tiếp nhận các xã Ea R’Bin, Nam Ka (từ huyện Krông Nô) và các xã Hòa Khánh, Hòa Xuân, Hòa Phú (từ huyện Cư Jút).
  • Tỉnh Đắk Nông gồm 6 huyện: Đắk R’lấp, Đắk Nông, Đắk Song, Đắk Mil, Krông Nô (trừ các xã Ea R’Bin, Nam Ka) và Cư Jút (trừ các xã Hòa Khánh, Hòa Xuân, Hòa Phú).

Ngày 28 tháng 2 năm 2005, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại II.[30]

Ngày 27 tháng 8 năm 2007, huyện Krông Ana được chia thành huyện Krông Ana và huyện Cư Kuin.[31]

Ngày 23 tháng 12 năm 2008, thành lập Buôn Hồ trên cơ sở tách từ huyện Krông Búk[32]. Từ thời điểm này đến hết ngày 11 tháng 6 năm 2025, tỉnh Đắk Lắk có 1 thành phố, 1 đơn vị hành chính cấp thị xã và 13 huyện.

Ngày 9 tháng 2 năm 2010, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk.[33]

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk được sắp xếp để thành lập tỉnh Đắk Lắk mới. Sau sắp xếp, tỉnh Đắk Lắk có diện tích 18.096,40 km² và quy mô dân số 3.346.853 người[34].

Hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đắk Lắk được chia thành 102 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó bao gồm 88 xã và 14 phường.[35]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Đắk Lắk[36]
Tên Diện tích(km²) Dân số(người)
Phường (14)
Bình Kiến 73,71 44.406
Buôn Hồ 66,54 62.780
Buôn Ma Thuột 71,99 169.596
Cư Bao 104,94 36.911
Đông Hòa 77,54 47.632
Ea Kao 60,70 57.070
Hòa Hiệp 40,81 53.597
Phú Yên 44,04 61.799
Sông Cầu 90,49 38.891
Tân An 56,41 64.122
Tân Lập 46,70 73.316
Thành Nhất 32,22 52.466
Tuy Hòa 33,77 126.118
Xuân Đài 13,40 21.574
Xã (88)
Buôn Đôn 1.113,79 6.582
Cuôr Đăng 102,84 28.804
Cư M'gar 114,98 32.368
Cư M'ta 261,06 13.592
Cư Pơng 137,81 17.687
Cư Prao 204,89 13.765
Cư Pui 314,08 27.561
Cư Yang 149,43 16.682
Dang Kang 105,91 21.301
Dliê Ya 179,73 46.569
Dray Bhăng 101,37 39.801
Tên Diện tích(km²) Dân số(người)
Dur Kmăl 114,49 12.594
Đắk Liêng 135,55 22.881
Đắk Phơi 266,83 14.726
Đồng Xuân 206,26 26.907
Đức Bình 160,36 15.896
Ea Bá 131,79 8.316
Ea Bung 390,08 9.677
Ea Drăng 171,34 54.475
Ea Drông 111,13 23.951
Ea H'leo 340,06 15.625
Ea Hiao 361,69 30.796
Ea Kar 198,67 87.972
Ea Khăl 247,05 29.956
Ea Kiết 201,83 20.177
Ea Kly 107,63 40.161
Ea Knốp 448,65 37.016
Ea Knuếc 122,39 43.748
Ea Ktur 100,72 54.269
Ea Ly 140,35 12.104
Ea M'Droh 134,00 33.268
Ea Na 134,18 42.164
Ea Ning 86,21 34.175
Ea Nuôl 111,74 43.706
Ea Ô 137,73 23.852
Ea Păl 102,52 15.049
Ea Phê 84,66 48.605
Tên Diện tích(km²) Dân số(người)
Ea Riêng 167,56 15.719
Ea Rốk 544,60 28.785
Ea Súp 418,72 30.762
Ea Trang 207,40 6.547
Ea Tul 159,51 34.876
Ea Wer 184,61 29.708
Ea Wy 213,94 28.567
Hòa Mỹ 190,14 26.530
Hòa Phú 109,07 48.822
Hòa Sơn 108,55 25.392
Hòa Thịnh 159,23 30.602
Hòa Xuân 129,33 22.962
Ia Lốp 194,09 6.502
Ia Rvê 217,83 6.847
Krông Á 291,60 12.900
Krông Ana 107,23 48.491
Krông Bông 166,03 23.168
Krông Búk 134,83 30.822
Krông Năng 98,34 43.678
Krông Nô 282,01 9.976
Krông Pắc 112,52 68.682
Liên Sơn Lắk 398,82 26.772
M'Drắk 151,87 22.808
Nam Ka 172,86 6.424
Ô Loan 103,48 40.278
Tên Diện tích(km²) Dân số(người)
Phú Hòa 1 142,54 54.212
Phú Hòa 2 95,78 38.691
Phú Mỡ 547,20 9.007
Phú Xuân 140,74 34.836
Pơng Drang 85,03 30.208
Quảng Phú 111,34 61.104
Sông Hinh 460,13 23.841
Sơn Hòa 267,39 40.825
Sơn Thành 218,11 27.838
Suối Trai 186,95 11.387
Tam Giang 195,80 25.470
Tân Tiến 89,43 28.767
Tây Hòa 55,14 49.720
Tây Sơn 334,62 11.052
Tuy An Bắc 52,32 26.174
Tuy An Đông 46,05 40.108
Tuy An Nam 69,99 29.805
Tuy An Tây 136,20 12.913
Vân Hòa 151,47 6.661
Vụ Bổn 109,13 18.111
Xuân Cảnh 83,81 23.972
Xuân Lãnh 174,65 15.933
Xuân Lộc 114,01 27.609
Xuân Phước 102,81 16.197
Xuân Thọ 192,12 10.793
Yang Mao 562,38 16.970

Kinh tế - xã hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDPBài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người

I. Những thuận lợi và khó khăn

Năm 2025, tình hình kinh tế thế giới và khu vực biến động phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt hơn; xung đột tại một số khu vực tiếp tục kéo dài; kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, tiềm ẩn nhiều rủi ro; thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động; khoa học công nghệ và các xu hướng mới nổi như: chip, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh tiếp tục phát triển mạnh; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến bất thường gây hậu quả nghiêm trọng. Ở trong nước, đây là năm đặc biệt quan trọng, thực hiện nhiều chủ trương, quyết sách mang tính nền tảng nhằm chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới 2026 - 2030 như: thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các dự án trọng điểm quốc gia đồng loạt triển khai tạo động lực tăng trưởng nền kinh tế. Tuy nhiên, những thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó khó khăn lớn nhất là các yếu tố bất lợi từ bên ngoài và những hạn chế nội tại của nền kinh tế kéo dài nhiều năm.

Thuận lợi: Về phía tỉnh Đắk Lắk, với tinh thần quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt theo chủ đề “Kỷ cương trách nhiệm; chủ động kịp thời; tinh gọn hiệu quả; tăng tốc bứt phá”, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk năm 2025 tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) vẫn duy trì đà tăng trưởng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, giá các sản phẩm nông nghiệp như: cà phê, hồ tiêu tiếp tục duy trì ở mức cao góp phần làm tăng thu nhập cho người dân. Sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, huy động vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ năm 2024. Nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội, thể thao diễn ra sôi nổi, góp phần thu hút lượng lớn khách du lịch đến với tỉnh, thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng cao; tình hình thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc, nhiều dự án quy mô lớn, tạo động lực phát triển, sức lan tỏa cho địa phương. Bên cạnh đó, công tác an sinh xã hội, chăm sóc người có công, giảm nghèo tiếp tục được quan tâm, triển khai kịp thời. Quốc phòng được tăng cường; chủ quyền, lãnh thổ, an ninh biên giới được giữ vững.

Khó khăn: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn và tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2025 không đạt kế hoạch đề ra; Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động, giải thể cao; Tiến độ triển khai các dự án còn chậm, tỷ lệ giải ngân đạt thấp so với bình quân cả nước; Việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án động lực còn chậm; Nguồn thu ngân sách nhà nước chưa bền vững, trong đó nguồn thu từ tiền sử dụng đất còn đạt thấp so với kế hoạch; Kinh tế nông nghiệp phát triển chưa bền vững; Các dịch vụ phục vụ du lịch còn hạn chế, chưa có sản phẩm mới, đặc trưng để thu hút khách du lịch; Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo ở một số địa phương còn cao; Dịch bệnh, thiên tai, cháy nổ và vi phạm an toàn giao thông vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương ít nhiều đã tác động không nhỏ đến đời sống của người dân.

II. Kết quả đạt được

1. Tăng trưởng kinh tế: Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2010) năm 2025 ước đạt 102.036 tỷ đồng, tăng 6,68% so với cùng kỳ, xếp vị thứ 30/34 tỉnh, thành phố. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 32.799,7 tỷ đồng, tăng 4,53% (KH tăng 5,56%), đóng góp 22,67% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 21.029 tỷ đồng, tăng 9,19% (KH tăng 11,62%), đóng góp 28,21%; Khu vực Dịch vụ đạt 44.291,9 tỷ đồng, tăng 7,48% (KH tăng 8,34%), đóng góp lớn nhất với 49,12% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế tỉnh cho ta thấy Khu vực Dịch vụ chính là điểm sáng nhất với tốc độ tăng trưởng 7,48%, đóng góp lớn nhất 3,22 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong Khu vực Dịch vụ cho thấy: ngành bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đóng góp lớn nhất là 0,77 điểm phần; tiếp theo là ngành hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm đóng góp là 0,4 điểm, tăng 7,86%; ngành hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị xã hội đóng góp 0,38 điểm, tăng 11,23%; dịch vụ lưu trú ăn uống đóng góp 0,27 điểm, tăng 7,35%; ngành thông tin và truyền thông đóng góp 0,26 điểm, tăng 5,33%; ngành vận tải kho bãi đóng góp 0,21 điểm, tăng 8,68% so với cùng kỳ năm trước...

Đứng ở vị trí thứ hai trong đóng góp vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế là Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đóng góp 1,85 điểm phần trăm, tăng 9,19%. Nổi bật trong khu vực này chính là ngành công nghiệp tăng 10,16% so với cùng kỳ và đóng góp 1,31 điểm phần trăm. Một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong ngành công nghiệp chính là: sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,86 điểm, tăng 12,53%; tiếp đến là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 0,49 điểm, tăng 7,14%. Ngành cung cấp nước, hoạt động xử lý rác thải đóng góp 0,04 điểm, tăng 9,96%. Riêng đối với ngành Xây dựng duy trì ổn định tăng 7,45%, đóng góp 0,54 điểm là do các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh đã và đang đưa vào thực hiện.

Đứng ở vị trí cuối cùng chính là Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,49 điểm phần trăm, tăng 4,53%. Tuy nhiên, cơn bão số 13 và đợt mưa lũ lịch sử từ ngày 15-21/11/2025 đã gây thiệt hại rất lớn cho khu vực này, làm giảm mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2025. Trong đó, Ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo đóng góp 1,4 điểm, tăng 4,87%. Ngành lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì mức đóng góp ổn định.

Năm 2025, Thuế sản phẩm và trợ cấp sản phẩm đã tăng 2,99%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm, trong đó thuế giá trị gia tăng và các loại thuế sản phẩm khác còn lại đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2025 (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 229.549,7 tỷ đồng, đạt 99,52% KH năm. Trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 88.318,7 tỷ đồng, vượt 5,00% kế hoạch, chiếm 38,47% trong giá trị tổng sản phẩm, tăng 0,14 điểm phần trăm so với tỷ trọng nền kinh tế năm 2024; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 40.551,5 tỷ đồng, đạt 90,67% so kế hoạch, chiếm 17,67%, tăng 0,11 điểm phần trăm; Khu vực Dịch vụ đạt 91.983,4 tỷ đồng đạt 99,18% kế hoạch, chiếm 40,07%, giảm 0,1 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 8.696,1 tỷ đồng, đạt 95,80% kế hoạch năm, chiếm 3,79%, giảm 0,15 điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm 2024.

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người (theo giá hiện hành) tăng khá, ước năm 2025 đạt 80,6 triệu đồng/người, tăng 13,25% so cùng kỳ năm trước.

Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP tỉnh năm 2025 là 7,67%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong năm 2025, ngành nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá (+4,53%), khẳng định vai trò trụ đỡ nền kinh tế của tỉnh. Tuy có những thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó có yếu tố tác động của biến động thị trường, thời tiết, khí hậu, thiên tai song với sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, ngành nông nghiệp năm 2025 đã đạt được những kết quả nhất định.

a) Nông nghiệp: Ước năm 2025, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của tỉnh đạt 458.279 ha, tăng 1,28% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lương thực có hạt đạt 1.818.757 tấn, tăng 2,67% (+47.231 tấn).

- Cây lúa: Diện tích lúa cả năm ước đạt 176.368 ha, tăng 2,18% (+3.771 ha), năng suất lúa ước đạt 72,35 tạ/ha, tăng 0,73% (+0,53 tạ/ha) và sản lượng lúa đạt 1.275.944 tấn, tăng 2,93% (+36.305 tấn) so cùng kỳ năm trước.

- Cây hàng năm khác: Diện tích ngô 82.255 ha, tăng 0,03%, sản lượng đạt 542.813 tấn, tăng 2,05%; khoai lang 5.967 ha, tăng 0,47%, sản lượng đạt 121.231 tấn, tăng 2,28%; sắn đạt 61.151 ha, giảm 7,29%, sản lượng đạt 1.464.324 tấn, giảm 7,35%; đậu tương 987 ha, giảm 9,28%, sản lượng đạt 1.755 tấn, giảm 1,24%; lạc 4.632 ha, giảm 15,37%, sản lượng đạt 9.295 tấn, giảm 10,38%; mía 46.583 ha, tăng 7,08%, sản lượng đạt 3.353.945 tấn, tăng 11,90%; rau các loại 22.424 ha, tăng 0,20%, sản lượng đạt 439.493 tấn, tăng 2,93%; đậu các loại 22.191 ha, giảm 1,33%, sản lượng đạt 26.762 tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ năm trước.

- Cây lâu năm: Sơ bộ năm 2025, tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm của tỉnh ước đạt 392.006 ha, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích cây ăn quả là 79.925 ha, tăng 2,96%[3]; cây công nghiệp lâu năm chủ yếu[4] là 306.020 ha, tăng 0,83%.

+ Cây ăn quả: Diện tích cây sầu riêng ước đạt 41.828 ha, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước, diện tích cho sản phẩm là 26.011 ha, tăng 14,04%, sản lượng đạt 443.383 tấn, tăng 21,40%. Diện tích cây bơ toàn tỉnh ước đạt 3.764 ha, giảm 7,88%; diện tích cho sản phẩm 3.465 ha, giảm 4,62%; sản lượng bơ toàn tỉnh là 42.691 tấn, giảm 3,19%. Ước diện tích mắc ca toàn tỉnh đạt 7.562 ha, tăng 0,92%; diện tích cho sản phẩm là 4.009 ha, tăng 26,59%; sản lượng thu hoạch là 8.707 tấn, tăng 27,46%.

+ Cây công nghiệp lâu năm chủ yếu: Diện tích cây cà phê của tỉnh năm 2025 là 217.026 ha, tăng 1,29%, diện tích cho sản phẩm là 202.435 ha, tăng 0,33%; dự ước sản lượng cà phê năm nay đạt 582.113 tấn, tăng 3,17%; năng suất đạt khoảng 28,76 tạ/ha, tăng 2,84%. Trong những tháng cuối năm 2025, giá cà phê có nhiều biến động tăng/giảm, tuy nhiên vẫn tăng cao so với cùng kỳ năm trước và duy trì ở mức 95.000 – 96.000 đồng/1 kg, nguyên nhân do cầu lớn hơn cung. Diện tích cây cao su toàn tỉnh hiện nay là 33.782 ha, tăng 1,28%, diện tích cho sản phẩm ước đạt 24.874 ha, tăng 8,32%; sản lượng mủ cao su khai thác ước đạt 39.488 tấn quy khô, tăng 7,81%; năng suất ước đạt 15,88 tạ/ha, giảm 0,46%. Diện tích cây tiêu toàn tỉnh hiện nay là 28.804 ha, tăng 1,77%, diện tích cho sản phẩm là 25.354 ha, tăng 3,14%; sản lượng tiêu thu hoạch ước đạt 79.300 tấn, tăng 4,84%; năng suất ước đạt 31,28 tạ/ha, tăng 1,65%.

- Chăn nuôi: Năm 2025, đàn gia súc giảm, đàn gia cầm phát triển ổn định. Đàn lợn thịt có xu hướng phát triển theo mô hình chăn nuôi tập trung, hình thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp là chủ yếu. Sản lượng xuất chuồng gia súc, gia cầm quý IV/2025 giảm do ảnh hưởng của mưa bão đã tác động đến sản lượng xuất chuồng của tỉnh năm 2025. Dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm vẫn còn xảy ra ở một số địa phương đã ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người dân.

Quy mô đàn gia súc, gia cầm chủ yếu toàn tỉnh là 22.239,2 nghìn con, trong đó: Đàn trâu hiện có 30,39 nghìn con, giảm 1,56%; sản lượng thịt trâu xuất chuồng là 3.104 tấn, giảm 9,24%. Đàn bò hiện có 402,49 nghìn con, giảm 0,80%; sản lượng thịt bò xuất chuồng là 38.308 tấn, giảm 1,86%. Đàn lợn hiện có 1.088,29 nghìn con, tăng 5,29%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 224.104 tấn, tăng 0,95%. Đàn gia cầm hiện có 20.718 nghìn con, tăng 0,55%; Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng là 111.755 tấn, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước.

b) Lâm nghiệp: Công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ và tái sinh rừng phát huy hiệu quả. Tình hình khai thác gỗ giữ nhịp ổn định, đảm bảo nguồn cung cho công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh. Số vụ phá rừng giảm so với cùng kỳ năm 2024 là nhờ công tác bảo vệ rừng luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chú trọng.

- Phát triển rừng: Sơ bộ năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã trồng được 11.898 ha rừng, giảm 4,28%, trong đó, diện tích rừng sản xuất trồng mới là 11.793 ha, giảm 4,32%; diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng trồng mới là 105 ha, ổn định.

- Khai thác lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 946.812 m3, tăng 0,15%, chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy. Sản lượng củi là 553.619 ste, tăng 6,83% là do nhu cầu sử dụng củi đốt của người dân trong nấu ăn, sưởi ấm, đặc biệt là vùng sâu vùng đồi núi của bà con người dân tộc thiểu số.

- Vi phạm lâm luật: Trên địa bàn tỉnh có 952 vụ vi phạm lâm luật, giảm 22,66%; trong đó có 702 vụ phá rừng, giảm 21,91% với diện tích bị phá là 184,46 ha, giảm 24,61%; diện tích rừng bị cháy là 7 ha; khai thác rừng trái phép 42 vụ; phương tiện tịch thu, tạm giữ bao gồm: ô tô, máy kéo, công nông 05 chiếc, xe máy 60 chiếc, máy móc các loại 46 chiếc, công cụ thường 72 chiếc. Gỗ tịch thu 426,478 m3 gỗ tròn, xẻ các loại. Tổng số tiền đã thu nộp ngân sách 3.125,9 triệu đồng.

c) Thủy sản: Năm 2025 là một năm khó khăn đối với ngành thủy sản. Mặc dù sản lượng tổng thể tăng nhưng các đợt thiên tai cuối năm (quý IV) đã gây tổn thất lớn cho hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản, nhất là khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk.

Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước năm 2025 đạt 8.599 ha, giảm 0,07%, hình thức nuôi chủ yếu theo phương thức thâm canh và bán thâm canh.

Sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 114.529,9 tấn, tăng 2,64%, trong đó sản lượng thủy sản khai thác là 73.750,4 tấn, tăng 3,58%; sản lượng thủy sản nuôi trồng (nuôi nước ngọt và nuôi lồng bè, bể bồn) là 40.779,5 tấn, tăng 0,99%.

3. Sản xuất công nghiệp: Hoạt động sản xuất công nghiệp năm 2025 trên địa bàn tỉnh nhìn chung duy trì đà tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong tháng 11/2025, đợt thiên tai lớn đã ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, vận chuyển nguyên liệu, thành phẩm và tiêu thụ sản phẩm của một số ngành công nghiệp, làm chậm nhịp tăng trưởng trong ngắn hạn. Mặc dù vậy, với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và các giải pháp điều hành kịp thời của chính quyền địa phương, sản xuất công nghiệp vẫn giữ được sự ổn định; các ngành công nghiệp cấp I đều ghi nhận xu hướng tăng, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất, phân phối điện tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng chung của toàn ngành.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 dự ước tăng 11,02% so với năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao phản ánh sự mở rộng về sản lượng sản xuất của các ngành công nghiệp chủ lực; tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơ cấu ngành và yếu tố giá, mức tăng giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp đạt thấp hơn so với mức tăng IIP.

Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,62%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu của toàn ngành, với 15/21 ngành công nghiệp cấp II có mức tăng trưởng; một số ngành tăng cao như: sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 17,52%, sản xuất thiết bị điện tăng 11,97%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 6,73%. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,26%, góp phần cung cấp nguyên liệu cho xây dựng và sản xuất. Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,98%, bảo đảm cung ứng năng lượng phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt. Ngành cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,66%, trong đó hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu tăng 9,92%, góp phần duy trì các dịch vụ công ích thiết yếu trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất giảm so với năm trước như: sản xuất đồ uống giảm 1,61%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 2,07%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 16,31%, phản ánh những khó khăn về thị trường tiêu thụ và chi phí đầu vào trong năm.

Về sản lượng sản phẩm công nghiệp chủ yếu, năm 2025 ghi nhận nhiều nhóm sản phẩm tăng so với năm trước, trong đó: nhóm năng lượng với sản lượng thủy điện và điện sinh khối đạt 7.108,4 triệu kWh, tăng 22,69%; nhóm công nghiệp chế biến nông sản như cà phê bột các loại đạt 58,3 nghìn tấn, tăng 28,72%, cá ngừ đóng hộp đạt 6.706,6 tấn, tăng 19,79%; nhóm công nghiệp nhẹ với quần áo da thuộc đạt 12,8 triệu cái, tăng 16,13%; nhóm vật liệu xây dựng với đá xây dựng khác đạt 2.083,9 nghìn m³, tăng 7,84%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm do nhu cầu thị trường suy giảm và khó khăn chung của nền kinh tế như: vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,80%; bàn bằng gỗ các loại giảm 14,64%; cấu kiện thép và cột bằng sắt, thép giảm 33,92% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2025 tăng 19,75% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, một số ngành có mức tăng cao như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 67,11%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 32,41%; sản xuất kim loại tăng 31,02%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 28,24%. Tuy nhiên, một số ngành giảm mạnh như: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 18,06%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 30,20% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2025 giảm 2,65% so với thời điểm tháng trước và giảm 56,39% so với cùng thời điểm năm trước, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đã được cải thiện rõ rệt, phản ánh sự phục hồi của thị trường và hiệu quả điều chỉnh kế hoạch sản xuất của các doanh nghiệp.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp năm 2025 tăng 11,34% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 38,44% do sắp xếp, kiện toàn tổ chức và bổ sung nhân lực tại một số đơn vị công ích, trong khi lao động khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 1,48% do doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất và thích ứng với điều kiện thị trường.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

Phát triển doanh nghiệp: Trong năm, ước toàn tỉnh có 3.168 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 85,90% so với kế hoạch, tăng 63,64% so với năm trước; tổng vốn đăng ký ước đạt 33.601 tỷ đồng, vượt 27,04% so với kế hoạch, gấp 2,54 lần so với năm trước; đồng thời có 626 doanh nghiệp tạm ngừng đã quay trở lại hoạt động kinh doanh, tăng 15,07%. Bên cạnh đó, toàn tỉnh ước có 548 doanh nghiệp giải thể, tăng 49,73% so với năm trước và 1.421 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 15,53%.

Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2025 cho thấy 40,43% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý III/2025; 34,04% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 25,53% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý I/2026, có 34,04% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý IV/2025; 42,55% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 23,40% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

5. Thương mại và dịch vụ: Ngành Thương mại – dịch vụ của tỉnh Đắk Lắk trong năm 2025 tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” của kinh tế địa phương, với tăng trưởng ổn định, đóng góp lớn vào tổng sản phẩm GRDP. Hoạt động bán lẻ, tiêu dùng nội địa duy trì đà tăng, trong khi dịch vụ du lịch, logistics và thương mại điện tử mở ra nhiều cơ hội phát triển.

Ước năm 2025, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 189.251,8 tỷ đồng, tăng 13,56% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 157.938,9 tỷ đồng, tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 83,45% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung, đó là mặt hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 62,91%; nhiên liệu khác tăng 24,0%; ô tô các loại tăng 32,21%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,15%;…Một số mặt hàng có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: hàng may mặc chỉ tăng 1,31%; hàng hoá khác tăng 1,26%; vật phẩm văn hoá giáo dục tăng 12,98%;…đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ;

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 20.379,3 tỷ đồng, tăng 16,08% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 10,77% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 2.171,6 tỷ đồng, tăng 21,98%; dịch vụ ăn uống đạt 18.207,6 tỷ đồng, tăng 15,41%.

Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 146,4 tỷ đồng, tăng 26,84%.

Dịch vụ khác đạt 10.787,2 tỷ đồng, tăng 14,93% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 9.530,9 tỷ đồng, tăng 10,34% so cùng kỳ năm trước; Ước tính vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 30.754 ngàn lượt hành khách và 3.101 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,26% về khối lượng vận chuyển và tăng 22,72% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 16.489 ngàn tấn và 2.071 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,52% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,49% về khối lượng luân chuyển hàng hóa.

Ước năm 2025, tổng số lượt khách phục vụ là 5.870.180 lượt, tăng 21,55% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách ngủ qua đêm là 4.197.148 lượt, tăng 24,16%, khách trong ngày là 1.673.032 lượt, tăng 15,47% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng số lượt khách du lịch theo tour là 32.319 lượt, tăng 82,92%, trong đó: khách đi trong nước là 29.835 lượt, tăng 104,07% so với cùng kỳ năm trước.

6. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm: Mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay ổn định và an toàn. Thu ngân sách nhà nước năm 2025 có kết quả tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2024, tỷ lệ thực hiện so với dự toán tăng, trong đó tăng mạnh nhất ở thu nội địa. Chi NSNN đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả trong khả năng cân đối ngân sách tỉnh.

Tổng vốn huy động năm 2025 ước đạt khoảng 169.800 tỷ đồng, tăng 19,7% so với đầu năm, đạt 103,8% so với kế hoạch. Dư nợ cho vay ước đạt khoảng 256.300 tỷ đồng, tăng 14% so với đầu năm, đạt kế hoạch đề ra; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 0,89% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 14.080 tỷ đồng tăng 9,62% so với đầu năm, ước đạt 99,6% kế hoạch, đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu an sinh xã hội tại địa phương.

Năm 2025, tổng thu NSNN ước đạt 17.833 tỷ đồng[5], tăng 27,86% so với cùng kỳ năm trước và vượt dự toán được giao. Chia ra: thu nội địa ước đạt 17.893,3 tỷ đồng, tăng 28,50% (trong đó: thu phí, lệ phí tăng 25,45%, thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 23,05%...); Thu viện trợ là gần 34,0 tỷ đồng, giảm 7,88% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 42.090 tỷ đồng, tăng 24,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển là 13.648,4 tỷ đồng, tăng 37,81% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 32,43% tổng chi; chi thường xuyên là 28.433,4 tỷ đồng, tăng 18,48%, chiếm 67,55%; chi khác gần 0,19 tỷ đồng, tăng 3,79% so với cùng kỳ năm trước; chi trả nợ lãi 3,7 tỷ đồng, tăng 12,76%...

Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ước năm 2025 đạt 7.695,6 tỷ đồng, đạt 100,0% kế hoạch (KH), tăng 7,07% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTN là 7.695,6 tỷ đồng, vượt 6,76% KH, tăng 21,01%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.634.630 người, đạt 100,0% KH, tăng 1,07%;

7. Vốn đầu tư thực hiện: Năm 2025, các chính sách về miễn giảm, giãn, hoãn thuế tiếp tục được triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh đã thúc đẩy đầu tư mới và mở rộng sản xuất, tăng cường thu hút và thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh ước đạt 61.202,9 tỷ đồng, tăng 4,53% so với thực hiện năm 2024. Trong đó, vốn khu vực Nhà nước đạt 20.668,4 tỷ đồng, giảm 2,72%; vốn khu vực ngoài nhà nước (dân cư và tư nhân) đạt 39.545,1 tỷ đồng, tăng 12,68%; vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài 989,4 tỷ đồng, giảm 55,25% so với cùng kỳ năm trước. Vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh so với cùng kỳ chủ yếu vì các dự án điện gió được đầu tư thực hiện năm 2024, đến năm 2025 cơ bản đã hoàn thành nên khối lượng thấp so với năm trước.

Kế hoạch đầu tư công năm 2025 toàn tỉnh Đắk Lắk sau điều chỉnh và bổ sung nguồn vốn cấp huyện (cũ) chuyển về là 16.482,837 tỷ đồng (Bổ sung quỹ đo đạc: 260,3 tỷ đồng; hoàn ứng quỹ phát triển nhà đất: 50 tỷ đồng; Thực hiện dự án: 16.172,537 tỷ đồng), trong đó đã giao chi tiết đến để thực hiện dự án là 15.923,221 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 24/12/2025, vốn đầu tư công đã giải ngân đạt 7.407,89 tỷ đồng, đạt 46,52% kế hoạch, trong đó: Ngân sách Trung ương giải ngân đạt 3.893,359 tỷ đồng, đạt 44,66% kế hoạch ; nguồn vốn ngân sách địa phương giải ngân đạt 3.514,531 tỷ đồng, đạt 48,78% kế hoạch.

8. Xuất nhập khẩu: Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng khá. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 3.662 triệu USD, tăng 19,9%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1.940 triệu USD, tăng 39,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 ước đạt 2.801 triệu USD, tăng 26,1% so với năm 2024, vượt 25,3% kế hoạch. Sản lượng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: cà phê tăng 3,1%; hạt điều tăng 4,1%, cao su giảm 11,3%, hàng rau quả tăng 90,8%; giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản duy trì ở mức cao, góp phần làm kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, vượt mục tiêu đề ra.

Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 861 triệu USD, tăng 3,7% so với năm 2024, vượt 12,4% kế hoạch. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.

9. Chỉ số giá:

Giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2025 biến động ở nhiều nhóm hàng, đặc biệt là tháng 11 và 12/2025 do ảnh hưởng bởi đợt mưa lũ. Bình quân năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,07%.

a) Chỉ số giá tiêu dùng:

Bình quân năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,07%. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,65%, trong đó dịch vụ y tế tăng 19,44% là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng…Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 13,07%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,36% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng; một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng; các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,85%, trong đó thực phẩm tăng 4,55%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,67%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,20% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, tết. Tương tự, nhóm May mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,70%. Nhóm giáo dục tăng 3,52%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,75%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,87%. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,52%. Có 02 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 1,06%; nhóm giao thông giảm 1,52%. Những mặt hàng giảm giá này đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025.

b) Chỉ số giá vàng, giá đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la tăng là do Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) điều chỉnh lãi suất đồng Đô la Mỹ. Bình quân năm 2025, giá vàng tăng 46,34%; giá Đô la Mỹ tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước.

II. Tình hình xã hội

a) Tình hình dân số, lao động, việc làm và an sinh xã hội

- Dân số: Dân số trung bình tỉnh Đắk Lắk là 2.849.199 người[37], tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: dân số nam 1.440.435 người, chiếm 50,56% tổng dân số, tăng 0,74%; dân số nữ 1.408.764 người, chiếm 49,44% tổng dân số, tăng 0,53%. Dân số khu vực thành thị là 778.923 người, chiếm 27,34% tổng dân số, tăng 0,77%; dân số khu vực nông thôn là 2.070.276 người, chiếm 72,66%, tăng 0,58% so với cùng kỳ năm trước.

- Lao động: Thị trường lao động trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường; ngành nghề nông nghiệp phát triển tốt. Nhờ đó, lực lượng lao động và số lượng việc làm có xu hướng tăng, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, tình trạng thất nghiệp giảm và thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk năm 2025 dự ước 1.642,81 nghìn người, tăng 25,65 nghìn người (tăng 1,59%) so với năm trước. Chia ra: khu vực thành thị 422,75 nghìn người, chiếm 25,73%, khu vực nông thôn 1.220,06 nghìn người, chiếm 74,27%; lực lượng lao động nam 890,05 nghìn người, chiếm 54,18% và lực lượng lao động nữ 752,76 nghìn người, chiếm 45,82%; tỷ lệ thất nghiệp 1,83%; thu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương là 8.372 nghìn đồng, tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính năm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 55.950 người, đạt 100,27% kế hoạch đề ra (giảm 2,57% so với thực hiện năm 2024); xuất khẩu lao động khoảng 2.569 người, đạt 87,08% so với kế hoạch (tăng 22,28%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề khoảng 70% (tăng 3%), trong đó tỷ lệ có bằng cấp chứng chỉ khoảng 25% (tăng 2%).

- Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội: Đời sống dân cư tỉnh Đắk Lắk năm 2025 tiếp tục được cải thiện rõ rệt về mặt thu nhập, nhà ở và an sinh xã hội, đặc biệt thông qua các chương trình giảm nghèo và hỗ trợ cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức lớn ở các vùng sâu vùng xa, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số và trước các rủi ro thiên tai. Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được quan tâm thực hiện.

Dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, các cơ quan chức năng và tổ chức xã hội đã thăm, tặng 105.899 suất quà với tổng kinh phí hơn 37 tỷ đồng. Tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 30.124 suất quà, tổng kinh phí:15 tỷ đồng. Tặng cho các đối tượng chính sách người có công nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh, liệt sĩ với 54.897 suất quà, tổng kinh phí: 20 tỷ đồng…

Các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các hộ chính sách có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã nhận được hỗ trợ 8.842 tấn gạo từ các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức từ thiện trong và ngoài tỉnh vào dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025. Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường đối với thiên tai lũ lụt là 65 tấn lúa giống, khoảng 1.625 triệu đồng.

Toàn tỉnh đã hỗ trợ xây mới, sửa chữa và bàn giao đưa vào sử dụng 8.915 căn nhà, đạt 100% kế hoạch và đã tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh vào ngày 16/9/2025.

Về công tác hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai đến nay. Nguồn lực hỗ trợ từ Trung ương và các đơn vị, tổ chức khác với tổng kinh phí: 1.114,7 tỷ đồng[6]; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đơn vị liên quan đã tiếp nhận vào Quỹ cứu trợ tỉnh 234,7 tỷ đồng từ các địa phương, tổ chức, cá nhân ủng hộ khắc phục hậu quả lũ lụt. Tổng nguồn kinh phí tỉnh đã chi, phân bổ khoảng hơn 1.000 tỷ đồng.

b) Giáo dục, Y tế, Văn hóa, thể thao và du lịch

- Về Giáo dục: Ngành giáo dục và đào tạo tỉnh đã hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm học 2024-2025.

Các cơ sở giáo dục duy trì nề nếp dạy và học nghiêm túc theo đúng kế hoạch, hoàn thành nhiệm vụ năm học 2024-2025; tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT bảo đảm an toàn, nghiêm túc, với kết quả 98,34% học sinh đỗ tốt nghiệp, trong đó học sinh dân tộc thiểu số đạt 97,22%. Chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh đạt nhiều kết quả nổi bật, đạt thành tích cao trong các kỳ thi quốc gia và khu vực[7]. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác giáo dục, đào tạo được quan tâm đầu tư, nguồn lực từ xã hội hoá được đẩy mạnh. Tại thời điểm đầu năm học 2025 – 2026, toàn tỉnh có 1.379 cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên với 708.428 học sinh; hiện có 59,29% trường đạt chuẩn quốc gia.

- Về công tác y tế: Ngành y tế tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường đầu tư trang thiết bị, giáo dục về y đức, củng cố nhân lực, nâng cao kỹ năng giao tiếp, giáo dục sức khỏe và chăm sóc bệnh nhân.

Tính đến ngày 31/12, toàn tỉnh đã ghi nhận bệnh tay chân miệng có 1.728 ca; bệnh sốt xuất huyết có 9.325 ca, 05 ca tử vong; bệnh sởi có 697 ca mắc, 01 ca tử vong; Covid-19 có 158 ca mắc; viêm não Nhật Bản 02 ca mắc; bệnh thủy đậu 110 ca mắc...

Đến cuối năm 2025, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) giảm còn 13,6%; số giường bệnh/1 vạn dân (không tính giường của trạm y tế xã) ước đạt 29,8 giường/1 vạn dân; số bác sỹ trên một vạn dân ước đạt 8,6 bác sỹ/1 vạn dân; tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm Y tế ước đạt 95%.

Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 95%.

Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS: Số ca HIV/AIDS/tử vong do AIDS tích lũy năm 2025: 455/05/15

Tính đến ngày 31/12, toàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước, với 84 người mắc và nhập viện, không có trường hợp tử vong.

- Công tác văn hóa, thể thao: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, rộng khắp, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc được chú trọng. Phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tiếp tục phát triển, thu hút đông đảo

Văn hoá: Các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của tỉnh được tổ chức đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, góp phần giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đặc biệt, tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện quy mô lớn như: Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk Lắk, Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 năm 2025; kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng tỉnh Phú Yên; các sự kiện kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các hoạt động tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng,...

Thể thao: Đã đăng ký tham gia thi đấu 81 giải thể thao, đạt 445 huy chương các loại (106 huy chương vàng, 121 huy chương bạc, 218 huy chương đồng). Toàn tỉnh có 119 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia (48 Kiện tướng, 71 cấp I), đặc biệt có 08 vận động viên được Cục Thể dục Thể thao triệu tập thi đấu quốc tế (đạt 04 HCV, 04 HCB, 01 HCĐ), có 04 VĐV được tập trung đội tuyển quốc gia tham dự SEA Games 33.

c) Tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông có những tín hiệu tích cực khi giảm cả 03 tiêu chí về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương.

Lũy kế từ 15/12/2024 đến ngày 14/12/2025, tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí so với cùng kỳ năm trước, xảy ra 572 vụ tai nạn giao thông (giảm 17,10% so với cùng kỳ năm trước), làm chết 397 người (giảm 4,8%), bị thương 355 người (giảm 26,20%), ước thiệt hại tài sản 5.628 triệu đồng.

d) Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ: Thiên tai, ô nhiễm môi trường và cháy, nổ vẫn xảy ra ở một số địa phương, tác động không nhỏ tới cuộc sống của người dân.

Tính chung năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 đợt thiên tai. Tổng số người chết do mưa bão, lũ lụt là 116 người chết, 06 người bị mất tích, 16 người bị thương; 11.151 ha lúa, 46.031 ha hoa màu, 17.600 con gia súc và 1.260.000 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 571 ngôi nhà bị sập, bị cuốn trôi, 990 ngôi nhà bị hư hại và nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình công cộng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Giá trị thiệt hại ước tính trên 9.717,4 tỷ đồng.

Tính từ đầu năm đến ngày 25/12/2025 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 127 vụ vi phạm môi trường (giảm 12,41% so với năm trước), xử lý 104 vụ (tăng 11,83%), tổng số tiền xử phạt là 6.734,6 triệu đồng (tăng 12%).

Tính từ đầu năm đến ngày 14/12/2025 toàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy (giảm 51,28% so với cùng kỳ năm trước), bị thương 01 người (tăng 01 người), thiệt hại tài sản khoảng 1.405 triệu đồng (giảm 74,31%).[38]

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 53 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 235 trường mẫu giáo.[39] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.[39]

Danh sách các trường Trung học Phổ thông

[sửa | sửa mã nguồn]
Stt Mã trường Tên trường Stt Mã trường Tên trường
1 001 Sở Giáo dục - Đào tạo Đắk Lắk 38 038 Trung học Phổ thông Lê Hữu Trác
2 002 Trung học Phổ thông Buôn Ma Thuột 39 039 Trung học Phổ thông Trần Nhân Tông
3 003 Trung học Phổ thông Chu Văn An 40 040 Trung học Phổ thông Lê Quý Đôn
4 004 Trung học Phổ thông Quang Trung 41 041 Trung tâm Giáo dục từ xa M'Drăk
5 005 Trung học Phổ thông Trần Phú 42 042 Trung tâm Giáo dục từ xa Ea Kar
6 006 Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú Nơ Trang Lơng 43 043 Trung học Phổ thông Huỳnh Thúc Kháng
7 007 Trung Tâm Giáo dục từ xa Đắk Lắk 44 044 Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Bông
8 008 Trung học Phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm 45 045 Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Ma Thuột
9 009 Trung học Phổ thông Lê Hồng Phong 46 046 Trung học Phổ thông Hùng Vương
10 010 Trung học Phổ thông Buôn Hồ 47 047 Trung cấp dạy nghề Đắk Lắk
11 011 Trung học Phổ thông Cư M'Gar 48 048 Cao đẳng Nghề Thanh niên Dân tộc, Đắk Lắk
12 012 Trung học Phổ thông Krông Ana 49 049 Trung học Phổ thông Phú Xuân
13 013 Trung học Phổ thông Việt Đức 50 050 Trung học Phổ thông Phan Chu Trinh
14 014 Trung học Phổ thông Phan Bội Châu 51 051 Trung học Phổ thông Nguyễn Trường Tộ
15 015 Trung học Phổ thông Ngô Gia Tự 52 052 Trung học Phổ thông Lý Tự Trọng
16 016 Trung học Phổ thông Trần Quốc Toản 53 053 Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Đôn
17 017 Trung học Phổ thông Krông Bông 54 054 Trung tâm Giáo dục từ xa Ea Súp
18 018 Trung học Phổ thông Nguyễn Tất Thành 55 055 Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Đắk Lắk
19 019 Trung học Phổ thông Ea H'leo 56 056 Trường Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk
20 020 Trung học Phổ thông huyện Lăk 57 057 Trường Văn Hóa 3
21 021 Trung học Phổ thông Ea Sup 58 058 Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú Tây Nguyên
22 022 Trung học Phổ thông Hồng Đức (Buôn Ma Thuột) 59 059 Trung học Phổ thông Thực hành Cao Nguyên
23 023 Trung học Phổ thông Nguyễn Trãi 60 060 Trung học Phổ thông Nguyễn Huệ
24 024 Trung học Phổ thông Chuyên Nguyễn Du 61 061 Trung học Phổ thông Nguyễn Văn Cừ
25 025 Trung học Phổ thông Cao Bá Quát 62 062 Trung học Phổ thông Lê Duẩn
26 026 Trung học Phổ thông Phan Đình Phùng 63 063 Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai
27 027 Trung học Phổ thông Buôn Đôn 64 064 Trường năng khiếu Thể dục Thể thao
28 028 Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Ana 65 065 Trung học Phổ thông Phan Đăng Lưu
29 029 Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Pắk 66 066 Trung học Phổ thông Trường Chinh
30 030 Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Hồ 67 067 Trung học Phổ thông Trần Quang Khải
31 031 Trung tâm Giáo dục từ xa huyện Lăk 68 068 Trung học Phổ thông Nguyễn Thái Bình
32 032 Trung tâm Giáo dục từ xa Cư M'Gar 69 069 Trung học Phổ thông Trần Đại Nghĩa
33 033 Trung tâm Giáo dục từ xa Ea H'Leo 70 070 Trung tâm Giáo dục từ xa Cư Kuin
34 034 Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Năng 71 071 Trung học Phổ thông Phạm Văn Đồng
35 035 Trung học Phổ thông Hai Bà Trưng 72 072 Trung học Phổ thông Ea Rốk
36 036 Trung học Phổ thông Nguyễn Công Trứ 73 073 Trung học Phổ thông Trần Hưng Đạo
37 037 Trung học Phổ thông Y Jut

Trường Đại Học / Cao đẳng / Trung cấp

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Trường Đại học Tây Nguyên
  • Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột
  • Phân hiệu Trường Đại học Đông Á tại Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk
  • Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk
  • Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk
  • Trường Đại học Phú Yên
  • Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
  • Học viện Ngân hàng – Phân viện Phú Yên
  • Trường Cao đẳng Văn Hóa - Nghệ thuật Tỉnh Đắk Lắk
  • Trường Cao đẳng FPT Polytechnic - Cơ sở Tây Nguyên
  • Trường Cao đẳng Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên+Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắk+Trường Cao đẳng nghề Phú Yên)
  • Trường Cao đẳng Bách Khoa Tây Nguyên
  • Trường Cao đẳng Y tế Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Cao đẳng Y tế Đắk Lắk+Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên)
  • Trường Cao đẳng Sư Phạm Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Trung cấp Sư phạm Mầm non Đắk Lắk+Trường Cao đẳng Sư Phạm Đắk Lắk)
  • Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam - Cơ sở Đắk Lắk
  • Trường Cao đẳng Công Thương miền Trung
  • Trường Trung cấp Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Trung cấp Đắk Lắk+Trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật Đắk Lắk)
  • Trường Trung cấp Trường Sơn
  • Trường Trung cấp Tây Nguyên

Dân cư

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Số dân(người) Năm Số dân(người) Năm Số dân(người) Năm Số dân(người) Năm Số dân(người) Năm Số dân(người) Năm Số dân(người)
1995 1.398.300 2000 1.860.900 2005 1.658.500 2010 1.752.700 2015 1.853.700 2020 1.886.900 2025 3.346.853
1996 1.501.800 2001 1.912.200 2006 1.677.800 2011 1.770.500 2016 1.874.500 2021 1.909.000
1997 1.605.100 2002 1.954.500 2007 1.696.600 2012 1.791.400 2017 1.896.600 2022 1.949.000
1998 1.703.100 2003 1.995.600 2008 1.715.100 2013 1.812.800 2018 1.919.200 2023 1.970.500
1999 1.793.400 2004 1.635.600 2009 1.735.700 2014 1.833.300 2019 1.872.600 2024 1.997.700

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2023, dân số toàn tỉnh Đắk Lắk là 2.207.244 người, mật độ dân số đạt 135 người/km²[40] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt 462.013 người, chiếm 24,7% dân số toàn tỉnh,[41] dân số sống tại nông thôn đạt 1.407.309 người, chiếm 75,3% dân số toàn tỉnh.[42] Dân số nam đạt 942.578 người,[43] trong khi đó nữ đạt 926.744 người.[44] Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 0,75 ‰[45] Đây cũng là tỉnh đông dân nhất vùng Tây Nguyên với hơn 1,8 triệu dân. Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2023 đạt 25,76%.

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Đắk Lắk có 13 tôn giáo khác nhau chiếm 577.920 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo với 265.760 người, thứ 2 là Đạo Tin Lành với 181.670 người, thứ 3 là Phật giáo với 126.660, thứ 4 là Đạo Cao Đài có 3.572 người, cùng với các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo có 162 người, Hồi giáo có 65 người, Bửu sơn kỳ hương có 23 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 3 người, Bahá'í có 2 người, ít nhất là Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo và Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa mỗi đạo có 1 người.[46]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc Kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ 2 là Người Ê Đê có 298.534 người, thứ 3 là Người Nùng có 71.461 người, thứ 4 là Người Tày có 51.285 người. Cùng các dân tộc ít người khác như M'nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người[46]...

Văn hóa

[sửa | sửa mã nguồn]
Bến nước Kodung

Đắk Lắk có bản sắc văn hóa đa dạng như các trường ca truyền miệng lâu đời Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu, như các ngôn ngữ của người Ê Đê, người M'Nông...như các đàn đá, đàn T'rưng, đàn k'lông pút... Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.

Các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội cà phê... được tổ chức đều đặn hàng năm như một truyền thống. Các Di tích lịch sử tại Đắk Lắk như Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Khu Biệt điện Bảo Đại, Toà Giám mục tại Đắk Lắk, Hang đá Đắk Tur và Tháp Yang Prong...

Y tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Lắk là trung tâm về Y tế vùng Tây Nguyên. Với một số bệnh viện lớn cấp Vùng như Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên với quy mô 800 giường bệnh nội trú. Với nỗ lực của các Y - Bác sĩ, bệnh viện đã hạn chế được 1 phần về tình trạng bệnh nhân cấp cứu phải chuyển tuyến đến các bệnh viện tuyến trên như: Bệnh viện Chợ Rẫy (Hồ Chí Minh), Bệnh viện Đà Nẵng (Đà Nẵng), Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội).

Thể thao

[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Lắk có phong trào thể thao phát triển, với các đội tham gia thi đấu ở các giải quốc gia. Tiêu biểu là Câu lạc bộ bóng chuyền Đắk Lắk, một đội bóng chuyền nữ chuyên nghiệp của tỉnh thi đấu tại Giải vô địch bóng chuyền quốc gia Việt Nam. Đội bóng tham gia giải này kể từ năm 2017 và góp mặt nhiều mùa giải.

Bên cạnh đó, Câu lạc bộ Bóng đá Đắk Lắk là đội bóng đá đại diện tỉnh, thi đấu ở Giải hạng Nhì quốc gia với mục tiêu thăng hạng lên các giải cao hơn trong hệ thống bóng đá Việt Nam.

Du lịch

[sửa | sửa mã nguồn]
Du khách đi voi ở hồ Lắk
Bài chi tiết: Du lịch Đắk Lắk

Du lịch Đắk Lắk đang có lợi thế với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, Thác Gia Long, cụm du lịch Buôn Đôn, Thác Krông Kmar, Thác Đray Nur, Thác Thủy Tiên,... bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo[47]...

Giao thông

[sửa | sửa mã nguồn]

1. Đường bộ (Quốc lộ & Cao tốc)

[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là mạng lưới xương sống kết nối các khu vực dân cư và các trung tâm kinh tế trực thuộc tỉnh.

  • Trục dọc kết nối Bắc - Nam:
    • Quốc lộ 1 & quốc lộ 1D: Chạy dọc hành lang phía Đông, kết nối các đô thị ven biển.
    • Quốc lộ 14 (Đường Hồ Chí Minh): Trục xuyên tâm nối các khu vực trọng điểm phía Tây của tỉnh.
    • Quốc lộ 14C: Tuyến vành đai biên giới phía Tây của tỉnh.
    • Quốc lộ 19C: Trục kết nối nội vùng phía Đông của tỉnh.
    • Cao tốc Chí Thạnh – Vân Phong: Đoạn tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông chạy qua địa phận phía Đông của tỉnh.
  • Trục ngang kết nối Đông - Tây:
    • Quốc lộ 25: Nối từ khu vực Tuy Hòa lên phía Tây tỉnh Gia Lai.
    • Quốc lộ 26: Tuyến huyết mạch nối trung tâm Buôn Ma Thuột xuống các khu vực kinh tế biển phía Đông của tỉnh.
    • Quốc lộ 27: Nối từ khu vực Buôn Ma Thuột đi hướng Lâm Đồng.
    • Quốc lộ 29: Trục vận tải chiến lược từ Cảng Vũng Rô xuyên suốt qua các vùng nguyên liệu phía Tây của tỉnh.
    • Cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột: Hành lang kinh tế trọng điểm thúc đẩy giao thương vùng cao và vùng biển.
  • Đường địa phương: 14 tuyến tỉnh lộ (tổng chiều dài khoảng 460 km) đóng vai trò kết nối trực tiếp từ các đầu mối giao thông quốc gia đến các địa phương cơ sở.

2. Đường sắt

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Tuyến đường sắt Bắc – Nam: Chạy qua khu vực phía Đông của tỉnh.
  • Ga Tuy Hòa: Đầu mối giao thông đường sắt chủ lực, kết nối vận tải hành khách và hàng hóa xuyên Việt.
    Nhà ga sân bay Buôn Ma Thuột

3. Đường hàng không

[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Lắk là tỉnh hiếm hoi sở hữu đồng thời hai cảng hàng không, tạo lợi thế cực lớn cho du lịch và giao thương:

  • Sân bay Buôn Ma Thuột (BMV): Cửa ngõ phía Tây.
    • Các tuyến bay đi: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng, Cần Thơ, Huế, Thanh Hóa, Côn Đảo, Phú Quốc, Chu Lai.
  • Sân bay Tuy Hòa (TBB): Cửa ngõ phía Đông.
    • Các tuyến bay đi: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng, Cần Thơ, Huế, Thanh Hóa, Côn Đảo, Phú Quốc, Chu Lai.

4. Đường thủy (Cảng biển)

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Cảng Vũng Rô: Cửa ngõ ra biển Đông của tỉnh Đắk Lắk, phục vụ việc xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng nông sản và công nghiệp từ các địa phương trong tỉnh ra quốc tế.

Danh nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị, lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
  • N'Trang Gưh (1845-1913): Là người dân tộc Êđê, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp từ năm 1887 đến 1913, gây nhiều khó khăn cho quân xâm lược.
  • Ama Jhao (1840-1905): Tên thật là Y Yên Ayŭn, một tù trưởng giàu có và uy tín, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp từ năm 1889 đến 1905.
  • Y Jút H'Wing (1888-1934): Một nhân sĩ trí thức người Êđê, đã tham gia phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của giới công chức, viên chức Buôn Ma Thuột vào những năm 1925-1926.
  • Y Ngông Niê Kdăm (1922-2001): Là người dân tộc Êđê, một nhân vật chính trị tiêu biểu của Đắk Lắk. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk. Ông là Đại biểu Quốc hội 9 khóa liên tục (khóa I đến khóa IX).
  • Ama Pui (1932-2005): Tên khai sinh là Y Liă Mjâo, từng giữ chức Phó Bí thư Thị ủy, Phó Chủ tịch UBND, Chủ tịch Mặt trận thị xã Buôn Ma Thuột sau năm 1975. Sau đó, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk.
  • Lương Văn Chánh (?-1611) Danh tướng thời chúa Nguyễn, là người có công lớn trong việc khai phá, xác lập và đặt nền móng hình thành vùng đất Phú Yên vào đầu thế kỷ XVII. Ông được nhân dân Phú Yên tôn vinh là Tiền hiền khai khẩn của tỉnh.
  • Lê Thành Phương (1825-1899): Nhà nho yêu nước, lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Phú Yên cuối thế kỷ XIX. Ông lãnh đạo nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, thể hiện tinh thần yêu nước, bất khuất của người dân Phú Yên.
  • Lê Trung Kiên (1939-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Đại đội trưởng Đặc công 202 Phú Yên; anh dũng hy sinh trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại thị xã Tuy Hòa.
  • Nguyễn Anh Hào (1932-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ An ninh tỉnh Phú Yên; chỉ huy lực lượng điệp báo, an ninh đô thị, hy sinh trong Xuân Mậu Thân 1968.
  • Nguyễn Thế Bảo (1930-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ an ninh cách mạng Phú Yên; chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng trong cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968.

Văn hóa, nghệ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]
  • NSND Y Moan Ênuôl (1957-2010): Được mệnh danh là "Giọng ca của đại ngàn Tây Nguyên", ông là một trong những nghệ sĩ người Êđê nổi tiếng nhất Việt Nam với những đóng góp to lớn cho âm nhạc dân gian và hiện đại.
  • Nghệ nhân Y Nuh Niê (dưới 1922-?): Người có đóng góp lớn trong việc gìn giữ và phát huy sử thi Ê Đê, với hơn 45 năm miệt mài hát kể sử thi và truyền dạy cho nhiều thế hệ.
  • NSND Y San Aliô (sinh năm 1960) và NSƯT Y Joel Knul (sinh năm 1975): Những nghệ sĩ đã được vinh danh vì những đóng góp trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa nghệ thuật của dân tộc Êđê.
  • H'Hen Niê (sinh năm 1992): Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017, là người dân tộc thiểu số đầu tiên đăng quang ngôi vị cao nhất của cuộc thi này, truyền cảm hứng mạnh mẽ về nghị lực và bản sắc văn hóa.
  • Nhã Phương (sinh năm 1990): Nữ diễn viên điện ảnh và truyền hình nổi tiếng, quê ở Đắk Lắk, được biết đến qua nhiều vai diễn ấn tượng.
  • Hồ Quang Hiếu (sinh năm 1983): Ca sĩ nổi tiếng với nhiều bản hit, cũng là một người con của Đắk Lắk.
  • Hiền Hồ (sinh năm 1997): Nữ ca sĩ trẻ tài năng và triển vọng, được biết đến sau Giọng Hát Việt 2017.
  • Lê Bê La (sinh năm 1987): Nữ diễn viên truyền hình nổi tiếng tại Việt Nam. Cô được biết đến qua vai Tùng trong Cổng mặt trời và nhiều phim truyền hình khác như Hoa nắng, Thời gian để yêu, Bão ngầm...
  • Trương Đình Hoàng (sinh năm 1990): Võ sĩ quyền anh chuyên nghiệp nổi tiếng, là niềm tự hào của thể thao Đắk Lắk.
  • Y Điêng (1928–2010): Nhà văn dân tộc Êđê sinh tại Phú Yên, có nhiều tác phẩm giá trị về văn hóa, con người Tây Nguyên; được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật.

Doanh nhân

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Đặng Lê Nguyên Vũ (sinh năm 1971): Doanh nhân tiêu biểu trong lĩnh vực cà phê, người sáng lập, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Trung Nguyên Legend. Ông được xem là một trong những doanh nhân có ảnh hưởng lớn nhất đối với ngành cà phê Việt Nam, góp phần đưa thương hiệu cà phê Việt vươn ra thị trường quốc tế, đồng thời khởi xướng nhiều hoạt động truyền cảm hứng khởi nghiệp và xây dựng văn hóa cà phê. Bên cạnh hoạt động kinh doanh, ông còn được biết đến với bộ sưu tập xe có giá trị lớn, thể hiện phong cách cá nhân và dấu ấn của một doanh nhân thành đạt.

Hình ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nhà thờ chính tòa Giáo phận Ban Mê Thuột Nhà thờ chính tòa Giáo phận Ban Mê Thuột
  • Tòa giám mục Ban Mê Thuột Tòa giám mụcBan Mê Thuột
  • Chùa Khải Đoan Chùa Khải Đoan
  • Chùa Phổ Minh Chùa Phổ Minh
  • Chùa Liên Trì Chùa Liên Trì
  • Biệt điện Bảo Đại Biệt điện Bảo Đại
  • Tháp Chăm, Ea Súp Tháp Chăm, Ea Súp
  • Sân vận động Buôn Ma Thuột nhìn từ trên cao Sân vận động Buôn Ma Thuột nhìn từ trên cao
  • Trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột về đêm]] Trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột về đêm]]
  • Toàn cảnh khu vực chợ Thành phố Buôn Ma Thuột nhìn từ trên cao Toàn cảnh khu vực chợ Thành phố Buôn Ma Thuột nhìn từ trên cao

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c d "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  2. ^ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  3. ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  4. ^ "Chữ và nghĩa: Đắk Lắk - xưa và nay".
  5. ^ a b c Phía Tây Đắk Lắk giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  6. ^ "Gấp rút xác định ranh giới Đắk Lắk - Khánh Hòa".
  7. ^ Giới thiệu viễn thông Đắk Lắk Lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2024 tại Wayback Machine, Website tỉnh Đắk Lắk.
  8. ^ a b Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất nước với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  9. ^ "Nạn phá rừng ở Tây Nguyên vẫn tiếp diễn". nhandan. ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016.
  10. ^ Lắk, Trung Tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công xã Liên Sơn (ngày 12 tháng 11 năm 2024). "Đăk Lăk 120 năm hình thành và phát triển". Trung Tâm Cung ứng dịch vụ công xã Liên Sơn Lắk. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
  11. ^ "Tạp chí cộng sản". Tạp chí Cộng sản. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
  12. ^ Louis Victor Bourgeois, công sứ Pháp đầu tiên ở Đắc Lắc (lúc đó Đắc Lắc thuộc Lào, năm 1904 thì thuộc về Việt Nam), cai trị tỉnh này từ năm 1899 - 1904. Bộ máy cai trị Đắc Lắc khá đơn giản, ngoài ông ta (Công sứ Bourgeois) thì còn có phó công sứ de Blakovitch; chỉ huy lính bản xứ Henry. Bourgeois là tên thực dân Pháp cáo già, lên Tây Nguyên vào những năm 90 của thế kỷ XIX; năm 1890, Bourgeois đã lần lượt thu phục các tù trưởng Khumjunop (vua săn voi nổi tiếng ở Bản Đôn), Ama Y Thuột, Ama Jhao (thất bại)... Ngày 2/11/1899, Bourgeois lập ra hạt đại lý khu vực Bản Đôn làm nơi thí điểm để bình định các dân tộc Edeh, M'nông (nhóm Kpă và Bih) vùng hạ lưu sông Krông Ana và sông Krông Nô...nhưng thất bại. Năm 1900, cuộc nổi dậy của N'Trang Gưh, người Bih chống lại Bourgeois làm tên này phải đối phó rất vất vả (1900 - 1914)
  13. ^ Năm cai trị của tên công sứ Besnard căn cứ theo "Monographie de la Province du Darlac (1930)" của A. Monfleur, p. 13 và "Lịch sử di tích cách mạng nhà ngục Đắk Mil", tr. 26
  14. ^ Leopold Sabatier, công sứ Pháp ở Đắc Lắc từ năm 1914 - 1925. Thời gian đầu khi cai trị, Sabatier đón tiếp Henri Maitre (Tham biện hạng nhất, đóng ở Peksa). Ông ta liên tiếp đem quân chống phá các cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng, cưới một người vợ Tây Nguyên (có chỗ ghi là người Lào) là Sao Nhuôn; ra thông tri về cai trị vùng Mọi (cho người dân tộc làm rưộng nước trên nương rẫy, trồng cây ăn quả). Trong Cuộc thương nghị của lời thề, ông lệnh cho các già làng làm ruộng (có trồng ngô và khoai) theo kế hoạch đã được định ra của Sabatier: "Ông công sứ "Những kẻ đầu cá kroa và đầu cá kenh cứng cổ, ta đã nói cho cac ngươi phải làm như thế nào. Tuy cac ngươi chỉ là những con trâu, ta vẫn muốn cứu các ngươi, nhưng ta sẽ làm cho những kẻ không nghe lời ta phải hối hận. Ta ra lệnh cho các ngươi làm ruộng vụ hè khắp nơi, ở nơi có đầm lầy và đất thấp có thể tưới nước. Các ngươi chặn dòng sông khắp nơi ở những nơi có thể. Trên bờ các ngươi làm ruộng trồng ngô và khoai để thu hoạch và phơi khô dành cho mùa ian mdé phùn (10)[...]" Ta ra lệnh cho các ngươi làm ruộng vụ hè. Ta ra lệnh cho các ngươi cày chứ không phải là dẫm đất. Ta nói với các ngươi chỉ một người với chỉ một con trâu kéo cày, sẽ làm ít vất vả hơn công việc của mười người và mười con trâu giẫm đất. Ngươi, Y Bak, được người ta gọi là "Vua của thóc lúa", đó là gì? Ta cấm người ta gọi ngươi như vậy, nếu không để chế diễu ngươi mà biết bao ruộng lúa không được cày xới. Ta sẽ đưa cho các ngươi hai mươi cái cày. Y Đê, Y Đjut và Y Đong đã học ở Huế, sẽ bày cho các ngươi cách làm và cách dùng. Các ngươi có nghe thấy không? Các tù tưởng Đã nghe rồi. Hây. Công sứ Các ngươi có hiểu không? Các tù trưởng Sao chúng tôi không hiểu. Hây. Công sứ Nếu các ngươi hiểu, thì năm nay sẽ không có nạn đói. Nếu trong một làng, ta thấy một người gầy, ta sẽ bỏ tù chủ làng. Chưa hết đâu. Ta sẽ phát cho các ngươi mười nghìn cây cà phê, năm nay ta sẽ phân phát ba mươi nghìn. Ta đã nói với các ngươi, mỗi dầu dân đinh phải trồng mười cây cà phê"" Ông cũng là người sưu tầm, soạn thảo ra Luật tục Êđê gồm 236 điều với khoảng trên dưới 8.000 câu. Cuối thời cai trị của mình, ông đã ra lệnh tuyệt cấm người Việt lên lập nghiệp ở Darlac với chủ trương cực đoan "đất Tây Nguyên của người Tây Nguyên", rồi lại vận động khâm sứ Trung Kỳ là Pierre Pasquier áp dụng chung chính sách này cho toàn cao nguyên Trung phần. Chính vì quá độc quyền vùng Tây Nguyên nên ông ta bị nhân dân phản đối. Cuộc biểu tình của người Ê Đê do Y Jut lãnh đạo đã buộc Pháp phải đuổi ông ta về nước (10/1925). Giran lên thay.
  15. ^ a b Theo Annuaire general de L'Indochine 1914, Daklak là một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum mới thành lập, với Leopold Sabatier (ra thay Louis Cottez từ giữa năm 1913) làm đại lý (tương đương chủ quận) lệ thuộc vào Jules-Francois Guénot (công sứ Kon Tum), chỉ huy là Kaufman (đóng ở Buôn Ma Thuột). Pháp đưa Phan Tử Khâm làm tri huyện quản lý cả tỉnh Kon Tum rộng lớn (bao gồm Daklak, đến năm 1917 thêm cả An Khê), đặt H'Ma (người Ê-đê) làm tri huyện ở Mang-yang
  16. ^ Giran, tên đầy đủ là Paul Giran, ông này thay Leopold Sabatier làm Công sứ tỉnh Đắc Lắc khi ông này (tức Sabatier) bị Tổng thanh tra Đông Dương đuổi do có hành động miệt thị dân Thượng (đấu tranh của nhân dân Edeh do thầy giáo Y Jut lãnh đạo (1925)). Dưới thời Công sứ Giran, Pháp cho xây dựng Tòa Công sứ Đắc Lắc (1926 - 1927) và tiếp tục đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống Pháp, nhất là khởi nghĩa N'Trang Lơng.
  17. ^ "LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  18. ^ "LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT". Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016.
  19. ^ Quyết định 230-CP năm 1977 về việc chia huyện Krông Buk thành huyện Krông Buk và huyện Ea Sup và chia huyện Krông Pắk thành huyện Krông Pắk và huyện M'Drắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
  20. ^ Quyết định 110-CP năm 1980 về việc chia huyện Krông Buk thành hai huyện, huyện Krông Buk và huyện Ea H'Leo và thành lập một số xã mới của huyện Ea Súp thuộc tỉnh Đắk Lắk
  21. ^ Quyết định 75-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới của huyện và thị xã Buôn Ma Thuột thuộc tỉnh Đắk Lắk
  22. ^ Quyết định 15-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới huyện Ea Sup thuộc tỉnh Đắk Lắk
  23. ^ Quyết định 19-HĐBT năm 1986 về việc chia huyện Đắk Nông thành hai huyện Đắk Nông và huyện Đăk R'lấp thuộc tỉnh Đắk Lắk
  24. ^ Quyết định 108-HĐBT năm 1986 về việc thành lập huyện Ea Kar thuộc tỉnh Đắk Lắk
  25. ^ Quyết định 227-HĐBT năm 1990 thành lập huyện Cư Jút thuộc tỉnh Đắk Lắk
  26. ^ Nghị định 08/CP năm 1995 về việc thành lập thành phố Buôn Ma Thuột và điều chỉnh địa giới hành chính giữa thành phố với các huyện Cư Jút, Ea Súp, Krông Pắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
  27. ^ Nghị định 61-CP năm 1995 về việc chia xã và thành lập huyện mới thuộc tỉnh Đắk Lắk
  28. ^ Nghị định 30/2001/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Đắk Nông và huyện Đắk Mil để thành lập huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Lắk
  29. ^ "NGHỊ QUYẾT 22/2003/QH.11 VỀ VIỆC CHIA VÀ ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH MỘT SỐ TỈNH".
  30. ^ Quyết định 38/2005/QĐ-TTg công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại II do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  31. ^ Nghị định 137/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc các huyện: Krông Ana, Ea Kar, Krông Búk, M'Drắk, Ea H'Leo; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Ana để thành lập huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk
  32. ^ Nghị định 07/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Krông Búk, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Búk để thành lập thị xã Buôn Hồ và thành lập các phường trực thuộc thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk
  33. ^ Quyết định 228/QĐ-TTg năm 2010 công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  34. ^ xaydungchinhsach.chinhphu.vn (ngày 7 tháng 8 năm 2025). "Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH". xaydungchinhsach.chinhphu.vn. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
  35. ^ "Toàn văn Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Đắk Lắk năm 2025". Báo Điện tử Chính Phủ. ngày 16 tháng 6 năm 2025.
  36. ^ Căn cứ vào Đề án số 341/ĐA-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đắk Lắk (mới) năm 2025
  37. ^ tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 6 tháng 1 năm 2026). "Dân số tỉnh Đắk Lắk là 2,8 triệu hay 3,3 triệu người?". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  38. ^ https://thongkedaklak.nso.gov.vn/tin-tuc/40. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  39. ^ a b Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  40. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  41. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  42. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  43. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  44. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  45. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  46. ^ a b Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  47. ^ Tính đến ngày 31/12/2000, toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 2 di tích lịch sử văn hoá Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Đắk Lắk.
  • Tin tức Đắk Lắk
  • Tỉnh Đắk Lắk
  • Đài truyền hình và phát thanh Đắk Lắk
  • Đắc Lắc tại Từ điển bách khoa Việt Nam
  • "Họp báo công bố tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk năm 2024". khdt.daklak.gov.vn. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  • x
  • t
  • s
Flag of Vietnam Các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Đắk Lắk
Phường (14), xã (88)
Phường (14)

Buôn Ma Thuột · Bình Kiến · Buôn Hồ · Cư Bao · Đông Hòa · Ea Kao · Hòa Hiệp · Phú Yên · Sông Cầu · Tân An · Tân Lập · Thành Nhất · Tuy Hòa · Xuân Đài

Xã (88)

Buôn Đôn · Cư M’gar · Cư M’ta · Cư Pơng · Cư Prao · Cư Pui · Cư Yang · Cuôr Đăng · Đắk Liêng · Đắk Phơi · Dang Kang · Dliê Ya · Đồng Xuân · Dray Bhăng · Đức Bình · Dur Kmăl · Ea Bá · Ea Bung · Ea Drăng · Ea Drông · Ea H’Leo · Ea Hiao · Ea Kar · Ea Khăl · Ea Kiết · Ea Kly · Ea Knốp · Ea Knuếc · Ea Ktur · Ea Ly · Ea M’Droh · Ea Na · Ea Ning · Ea Nuôl · Ea Ô · Ea Păl · Ea Phê · Ea Riêng · Ea Rốk · Ea Súp · Ea Trang · Ea Tul · Ea Wer · Ea Wy · Hòa Mỹ · Hòa Phú · Hòa Sơn · Hòa Thịnh · Hòa Xuân · Ia Lốp · Ia Rvê · Krông Á · Krông Ana · Krông Bông · Krông Búk · Krông Năng · Krông Nô · Krông Pắc · Liên Sơn Lắk · M’Drắk · Nam Ka · Ô Loan · Phú Hòa 1 · Phú Hòa 2 · Phú Mỡ · Phú Xuân · Pơng Drang · Quảng Phú · Sơn Hòa · Sơn Thành · Sông Hinh · Suối Trai · Tam Giang · Tân Tiến · Tây Hòa · Tây Sơn · Tuy An Bắc · Tuy An Đông · Tuy An Nam · Tuy An Tây · Vân Hòa · Vụ Bổn · Xuân Cảnh · Xuân Lãnh · Xuân Lộc · Xuân Phước · Xuân Thọ · Yang Mao

Nguồn: Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15
  • x
  • t
  • s
Đơn vị hành chính cấp tỉnh của Việt Nam
Trung du và miền núi phía Bắc
  • Cao Bằng
  • Điện Biên
  • Lai Châu
  • Lạng Sơn
  • Lào Cai
  • Sơn La
  • Phú Thọ
  • Thái Nguyên
  • Tuyên Quang
Đồng bằng sông Hồng
  • Hà Nội
  • Hải Phòng
  • Bắc Ninh
  • Hưng Yên
  • Ninh Bình
  • Quảng Ninh
Bắc Trung Bộ
  • Huế
  • Hà Tĩnh
  • Nghệ An
  • Quảng Trị
  • Thanh Hóa
Duyên hải Nam Trung Bộvà Tây Nguyên
  • Đà Nẵng
  • Đắk Lắk
  • Gia Lai
  • Khánh Hòa
  • Lâm Đồng
  • Quảng Ngãi
Đông Nam Bộ
  • Thành phố Hồ Chí Minh
  • Đồng Nai
  • Tây Ninh
Đồng bằng sông Cửu Long
  • Cần Thơ
  • An Giang
  • Cà Mau
  • Đồng Tháp
  • Vĩnh Long
  • In đậm: Thành phố trực thuộc trung ương
  • In thường: Tỉnh
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn Sửa dữ liệu tại Wikidata
Quốc tế
  • VIAF
  • FAST
  • WorldCat
Quốc gia
  • Hoa Kỳ
  • Pháp
  • BnF data
  • Israel
Địa lý
  • MusicBrainz area
Khác
  • IdRef
  • Yale LUX

Từ khóa » đặc Lý