Đắk Lắk – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Bài viết này cần được cập nhật do có chứa các thông tin có thể đã lỗi thời hay không còn chính xác nữa. Bạn có thể giúp Wikipedia bằng cách cập nhật cho bài viết này. (10/2025) |
| Đắk Lắk | |||
|---|---|---|---|
| Tỉnh | |||
| Biệt danh | Thủ phủ cà phêXứ Nẫu | ||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | |||
| Vùng | Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên | ||
| Trung tâm hành chính | phường Buôn Ma Thuột | ||
| Trụ sở UBND | Số 9 đường Lê Duẩn, phường Buôn Ma Thuột | ||
| Phân chia hành chính | 14 phường, 88 xã | ||
| Thành lập | 22/11/1904 | ||
| Tổ chức lãnh đạo | |||
| Chủ tịch UBND | Tạ Anh Tuấn | ||
| Hội đồng nhân dân | 111 đại biểu | ||
| Chủ tịch HĐND | Cao Thị Hòa An | ||
| Chủ tịch UBMTTQ | Y Giang Gry Niê Knơng | ||
| Chánh án TAND | Nguyễn Văn Chung | ||
| Viện trưởng VKSND | Phạm Trung Thuận | ||
| Bí thư Tỉnh ủy | Lương Nguyễn Minh Triết | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: 12°45′59″B 108°19′31″Đ / 12,766268°B 108,325195°Đ | |||
| |||
| Diện tích | 18.096,40 km²[1] | ||
| Dân số (31/12/2024) | |||
| Tổng cộng | 3.346.853 người[1] | ||
| Mật độ | 184 người/km² | ||
| Dân tộc | Kinh, Ê Đê, M'Nông, Nùng, Tày, Thái, Dao | ||
| Kinh tế (2024) | |||
| GRDP | 141.362 tỉ đồng (5,56 tỉ USD) | ||
| GRDP đầu người | 71,6 triệu đồng (2.821 USD) | ||
| Khác | |||
| Mã địa lý | VN-33 | ||
| Mã hành chính | 66[2] | ||
| Mã bưu chính | 63xxxx | ||
| Mã điện thoại | 0262 | ||
| Biển số xe | 47, 78 | ||
| Website | daklak.gov.vn | ||
| |||
Đắk Lắk (hay Darlac trong thời kỳ Pháp thuộc; tên gọi bắt nguồn từ tiếng Ê Đê: Đắk nghĩa là nước, Lắk nghĩa là hồ) là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên lớn thứ ba Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Buôn Ma Thuột.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (có hiệu lực từ ngày ban hành). Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk được sắp xếp lại để thành lập một đơn vị hành chính mới, giữ nguyên tên gọi là tỉnh Đắk Lắk.
Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Đắk Lắk có diện tích: 18.096 km², xếp thứ 3; dân số: 3.346.853 người, xếp thứ 17; GRDP 2024: 198.132.950 triệu VNĐ, xếp thứ 21; thu ngân sách 2024: 14.095.836 triệu VNĐ, xếp thứ 25; thu nhập bình quân: 46,82 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 27.[3]
Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.
Tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Theo các nhà nghiên cứu, Đắk Lắk [daːk laːk] bắt nguồn từ tiếng M'Nông (phát âm gần giống như "đác lác") nghĩa là "hồ Lắk", với dak nghĩa là "nước" hoặc "hồ". Từ dak này, cũng giống như các từ có âm "đạ" (Đạ Tẻh), "đà" (Đà Lạt, Đà Nẵng). Đa/đạ/đà là âm của một từ có nghĩa là "nước, nguồn nước, sông" của vùng người dân tộc sinh sống.[4]
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Vị trí địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Tỉnh Đắk Lắk nằm ở vùng Nam Trung Bộ, đầu nguồn của hệ thống sông Srêpốk và một phần của sông Ba. Tỉnh Đắk Lắk có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 189 km[5]
- Phía tây giáp tỉnh Mondulkiri của Campuchia với đường biên giới dài 193 km[5]
- Phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Lâm Đồng
- Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai.
Độ cao trung bình 400 – 800 m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442 m so với mực nước biển, đây cũng chính là đỉnh núi cao nhất ở Đắk Lắk.
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia tách và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea Trang (huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) nằm trong diện tranh chấp để phân định địa giới hành chính giữa 2 tỉnh.[6]
Điều kiện tự nhiên
[sửa | sửa mã nguồn]Đắk Lắk mới có địa hình đa dạng được phân chia bởi dãy Trường Sơn như sau:
- Phần phía Tây và trung tâm tỉnh (thuộc khu vực tỉnh Đắk Lắk cũ và phía Tây tỉnh Phú Yên cũ trước đây) có địa hình có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là 1 cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven các dòng sông chính. Khí hậu của khu vực được chia thành 2 tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía Đông và phía Nam của khu vực có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa trong năm. Riêng vùng núi trung tâm tỉnh do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng.[7] Lượng mưa trung bình nhiều năm tại khu vực phía Tây đạt từ 1600–1800 mm.
- Phần phía Đông dãy Trường Sơn (thuộc khu vực tỉnh Phú Yên cũ) có 3 mặt là núi, phía Bắc có dãy Đèo Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả, phía Tây là mạn sườn đông của dãy Trường Sơn, và phía Đông là biển Đông. Chính giữa các dãy núi kể trên là khu vực đồng bằng Tuy Hòa - nơi có hệ thống Sông Đà Rằng, Sông Bàn Thạch, Sông Kỳ Lộ chảy qua - được xem là vựa lúa của miền Trung. Khí hậu của phần phía Đông tỉnh chủ yếunhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,5 °C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm.
Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất cả nước[5] với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học, phân bố trong điều kiện thuận lợi nên tái sinh rừng có mật độ khá lớn. Khoáng sản với trữ lượng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã được xác định là sét cao lanh, sét gạch ngói, ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như vàng, phosphor, than bùn, đá quý... có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.[8] Ngoài ra khu vực phía Đông (thuộc Phú Yên cũ) có nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh. Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomite (90 triệu m3), đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m3), vàng sa khoáng (300 nghìn tấn)
Đối với khu vực phía Tây, hệ thống sông suối khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, tuy nhiên do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô. Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay còn có rất nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea So...[8]. Đối với khu vực phía Đông, có hệ thống Sông Đà Rằng, Sông Bàn Thạch, Sông Kỳ Lộ chảy qua với tổng diện tích lưu vực là 16.400 km², tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m3, đảm bảo đủ nước tưới cho nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt.
Nạn phá rừng
[sửa | sửa mã nguồn]Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn có hơn 720.000 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng hơn 526.000 ha, độ che phủ rừng đạt hơn 39,3% (tính cả cây cao su). Rừng được giao cho 15 công ty lâm nghiệp, 7 ban quản lý rừng đặc dụng, 4 ban quản lý rừng phòng hộ, 69 doanh nghiệp có chức năng quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, khoanh nuôi bảo vệ rừng và 1 phần giao cho UBND cấp huyện, cấp xã quản lý, Thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, trong năm 2020, các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 1.407 vụ vi phạm, tịch thu 2.441,7 m³ gỗ và 717 phương tiện các loại, thu nộp ngân sách nhà nước hơn 18,8 tỷ đồng. So với năm 2019, số vụ vi phạm giảm 217 vụ. Tuy số vụ giảm, nhưng những vụ phá rừng với quy mô lớn và táo bạo vẫn diễn ra.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn phá rừng là do chính quyền địa phương có rừng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao trong quản lý bảo vệ rừng. Một số cán bộ, công chức trong lực lượng bảo vệ rừng còn thiếu trách nhiệm, thậm chí bao che, tiếp tay cho lâm tặc nên còn sơ hở để các đối tượng làm ăn phi pháp lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm.[9]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử hành chính Đắk Lắk1. Giai đoạn trước khi thực dân Pháp thiết lập nền cai trị (đầu thế kỷ XIX – 1899)[10]
[sửa | sửa mã nguồn]
Ghi chép những sự kiện quá khứ xa xưa về vùng đất Tây Nguyên, sách Đại Nam thực lục viết rõ: Thủy Xá, Hỏa Xá “ở phía trên nước Nam Bàn (khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, dòng dõi nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía tây), thôn lạc có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy ở phía đông núi, vua Hỏa ở phía tây núi”; chi tiết hơn, sách thuật lại rằng: “Buổi quốc sơ, vì cớ họ giáp với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ). Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa vật phẩm địa phương (kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực) để hiến”, điều này thể hiện mối quan hệ bang giao giữa vùng Tây Nguyên với người Kinh được diễn ra một cách tự nhiên, tự nguyện. Sau khi đánh tan quân Chiêm Thành, triều đình nhà Lê ban hành một số chính sách nhằm duy trì mối quan hệ với các dân tộc nơi đây, đồng thời thực hiện di dân, lập ấp ở miền núi, thúc đẩy giao thương; tiến cử các vị tù trưởng, tộc trưởng từng vùng đất và tấn phong cho vua Thủy Xá, Hỏa Xá; tạo “vùng đệm” ngăn cách Đại Việt với Chăm-pa, ổn định vùng biên giới phía Nam.
Đến thời kỳ trị vì của triều Nguyễn, địa bàn Tây Nguyên - Đắk Lắk được gọi là "trấn Man" do triều Nguyễn gián tiếp quản lý. Nhận thấy vị trí trọng yếu về chính trị, quân sự vùng đất này (nằm giữa nước Việt Nam - Đại Nam với Lào, Cao Miên, Xiêm La, các vua nhà Nguyễn (nhất là Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức,…) thường xuyên cử sứ bộ đi lại giữa hai nước, lập đồn, tiến hành tuần tra, canh phòng biên giới và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm. Như vậy, vùng đất Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng từ lâu đã được định hình trong tâm thức người Việt, vai trò nơi đây đối với bảo đảm an ninh nước Đại Việt cũng được khẳng định, nhìn nhận từ sớm. Tuy nhiên, thời bấy giờ, đây vẫn là địa bàn xa lạ, có phần bí hiểm với người Kinh, ít ai có điều kiện lui tới bởi sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, lối sống,... Đến năm 1867, thực dân Pháp tổ chức các đoàn thám hiểm tìm cách xâm nhập sâu vào nội địa vùng Tây Nguyên; năm 1899, Pháp ép vua Đồng Khánh trao quyền quản lý trực tiếp nhằm tiến hành chia để trị nơi đây và bắt đầu thực hiện các chính sách thực dân.[11]
2. Thời kỳ Pháp thuộc và quá trình hình thành tỉnh Đắk Lắk (1899–1945)
[sửa | sửa mã nguồn]Từ cuối thế kỷ XIX, Tây Nguyên trở thành vùng đất thuộc quyền cai trị trực tiếp của thực dân Pháp. Ngày 31 tháng 01 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập cơ sở hành chính tại Bản Đôn (trực thuộc Lào). Ngày 02 tháng 11 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương tiếp tục ra Nghị định thành lập Đại lý hành chính Đắk Lắk, đặt trụ sở tại Buôn Ma Thuột, cũng trực thuộc Lào.

Trước phong trào đấu tranh bền bỉ của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên và sức ép từ triều đình nhà Nguyễn, ngày 22 tháng 11 năm 1904, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập tỉnh Đắk Lắk (ghi theo tiếng Pháp là Darlac). Từ đây, Đắk Lắk chính thức trở thành một trong 20 tỉnh Trung Kỳ và là một trong 73 tỉnh, thành phố của Việt Nam thời Pháp thuộc.
Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, nhiều công sứ Pháp đã lần lượt cai quản tỉnh Đắk Lắk, tiêu biểu như:
Leon Bourgeois (1899–1904)[12], Charles J. Bardin (1904–1905), Henri Besnard (1905–1909)[13], Antoine G. Groslier (1909–1912), Louis Cottez (1912–1913), Leopold Sabatier (1913–1925)[14][15], Paul E. Giran (1925–1931)[16], Desteney (1931–1934)[17], Henri Gerbinis (1935–1938)[18].
Ngày 09 tháng 02 năm 1913, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Kon Tum[15], trong đó Đại lý Đắk Lắk bị sáp nhập và trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum. Đến ngày 02 tháng 7 năm 1923, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định tách Đắk Lắk khỏi tỉnh Kon Tum để tái lập tỉnh Đắk Lắk độc lập.
Khi mới tái lập, tỉnh Đắk Lắk chưa được chia thành các đơn vị hành chính cấp huyện hay tổng, mà chỉ gồm các đơn vị làng (buôn, bon). Trong đó, người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M’Dhur có 120 làng, người M’Nông có 117 làng và người Xiêm có 1 làng.
Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk Lắk được chia thành 5 quận gồm: Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đắk Song, Lắk và M’Đrắk, với tổng cộng 440 làng. Ngày 09 tháng 4 năm 1934, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị định chia tỉnh thành 24 tổng. Theo số liệu năm 1936, tỉnh Đắk Lắk có diện tích khoảng 21.300 km², dân số 106.000 người, gồm 30 tổng và 576 xã.
Ngày 06 tháng 01 năm 1942, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị định số 3268, điều chỉnh lại đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk, gồm 3 quận (Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Lắk) và 2 đại lý (M’Đrắk, Đắk Dam).
3. Giai đoạn 1945–1975
[sửa | sửa mã nguồn]Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Về mặt hành chính, tỉnh Đắk Lắk thuộc Trung Bộ và sau đó được đặt dưới sự quản lý của Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung Bộ để phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ngày 15 tháng 4 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ số 6, đặt Cao nguyên Trung phần - trong đó có Đắk Lắk - thành Hoàng triều Cương thổ, áp dụng chế độ cai trị riêng.
Ngày 02 tháng 7 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 356-BNV/HC/NĐ, ấn định tỉnh Đắk Lắk (Darlac) gồm 5 quận, 21 tổng và 77 xã. Ngày 23 tháng 01 năm 1959, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách gần như toàn bộ quận Đắk Song để thành lập tỉnh Quảng Đức, khiến tỉnh Darlac chỉ còn 4 quận. Sau đó, quận M’Đrắk tiếp tục bị chia tách, một phần sáp nhập vào tỉnh Khánh Hòa, một phần vào tỉnh Phú Yên.
Tháng 12 năm 1960, Chính phủ Cách mạng chính thức thành lập tỉnh Quảng Đức, lấy mật danh là B4. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, thành lập thêm quận Phước An; đến năm 1965 bãi bỏ cấp tổng, hệ thống hành chính chỉ còn cấp quận và xã.
Theo số liệu năm 1967, dân số tỉnh Darlac là 157.534 người, trong đó Quận Ban Mê Thuột có 95.664 người; Buôn Hồ 31.527 người; Lạc Thiện 19.456 người; Phước An 10.887 người.
Tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức được sáp nhập trở lại vào tỉnh Đắk Lắk. Khi đó, tỉnh Đắk Lắk gồm Buôn Ma Thuột và 6 huyện: Đắk Mil, Đắk Nông, Krông Búk, Krông Pắc, Lắk và Buôn Hồ.
4. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 30 tháng 8 năm 1977, huyện Krông Búk được chia thành huyện Krông Búk và huyện Ea Súp; huyện Krông Pắc được chia thành huyện Krông Pắc và huyện M’Drắk.[19]
Ngày 3 tháng 4 năm 1980, tiếp tục chia huyện Krông Búk để thành lập huyện Ea H’leo, phần còn lại là huyện Krông Búk.[20]
Ngày 19 tháng 9 năm 1981, thành lập huyện Krông Ana trên cơ sở tách một phần diện tích của huyện Krông Pắc và Buôn Ma Thuột; đồng thời chia huyện Krông Pắc thành huyện Krông Pắc và huyện Krông Bông.[21]
Ngày 23 tháng 1 năm 1984, huyện Ea Súp được chia thành huyện Ea Súp và huyện Cư M’gar.[22]
Ngày 22 tháng 2 năm 1986, chia huyện Đắk Nông thành huyện Đắk Nông và huyện Đắk R’lấp.[23]
Ngày 13 tháng 9 năm 1986, thành lập huyện Ea Kar trên cơ sở tách diện tích của huyện Krông Pắc và huyện M’Drắk.[24]
Ngày 9 tháng 11 năm 1987, huyện Krông Búk được chia thành huyện Krông Búk và huyện Krông Năng; đồng thời thành lập huyện Krông Nô trên cơ sở tách một số xã thuộc các huyện Đắk Mil, Đắk Nông và Lắk.
Ngày 19 tháng 6 năm 1990, thành lập huyện Cư Jút trên cơ sở tách một phần diện tích của huyện Đắk Mil và Buôn Ma Thuột.[25]
Ngày 21 tháng 1 năm 1995, Buôn Ma Thuột được chuyển từ đơn vị hành chính cấp thị xã lên thành phố Buôn Ma Thuột.[26]
Ngày 7 tháng 10 năm 1995, chia huyện Ea Súp để thành lập huyện Buôn Đôn, phần còn lại là huyện Ea Súp.[27]
Ngày 21 tháng 6 năm 2001, thành lập huyện Đắk Song trên cơ sở tách diện tích của huyện Đắk Nông và huyện Đắk Mil.[28]
Đến cuối năm 2002, tỉnh Đắk Lắk có diện tích 19.576,4 km², dân số 2.029.972 người, đơn vị hành chính gồm thành phố Buôn Ma Thuột và 18 huyện: Buôn Đôn, Cư Jút, Cư M’gar, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R’lấp, Đắk Song, Ea H’leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Nô, Krông Pắc, Lắk và M’Drắk.
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 22/2003/QH11[29], chia tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Sau khi chia tách:
- Tỉnh Đắk Lắk gồm thành phố Buôn Ma Thuột và 12 huyện: Buôn Đôn, Cư M’gar, Ea H’leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắc, Lắk và M’Drắk; đồng thời tiếp nhận các xã Ea R’Bin, Nam Ka (từ huyện Krông Nô) và các xã Hòa Khánh, Hòa Xuân, Hòa Phú (từ huyện Cư Jút).
- Tỉnh Đắk Nông gồm 6 huyện: Đắk R’lấp, Đắk Nông, Đắk Song, Đắk Mil, Krông Nô (trừ các xã Ea R’Bin, Nam Ka) và Cư Jút (trừ các xã Hòa Khánh, Hòa Xuân, Hòa Phú).
Ngày 28 tháng 2 năm 2005, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại II.[30]
Ngày 27 tháng 8 năm 2007, huyện Krông Ana được chia thành huyện Krông Ana và huyện Cư Kuin.[31]
Ngày 23 tháng 12 năm 2008, thành lập Buôn Hồ trên cơ sở tách từ huyện Krông Búk[32]. Từ thời điểm này đến hết ngày 11 tháng 6 năm 2025, tỉnh Đắk Lắk có 1 thành phố, 1 đơn vị hành chính cấp thị xã và 13 huyện.
Ngày 9 tháng 2 năm 2010, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk.[33]
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk được sắp xếp để thành lập tỉnh Đắk Lắk mới. Sau sắp xếp, tỉnh Đắk Lắk có diện tích 18.096,40 km² và quy mô dân số 3.346.853 người[34].
Hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]Tỉnh Đắk Lắk được chia thành 102 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó bao gồm 88 xã và 14 phường.[35]
| Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Đắk Lắk[36] | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Kinh tế - xã hội
[sửa | sửa mã nguồn]Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDPBài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu ngườiKinh tế chủ đạo của Đắk Lắk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản. Tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2017, tỉnh Đắk Lắk xếp ở vị trí thứ 31/63 tỉnh thành. Đắk Lắk là tỉnh có diện tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, với diện tích 182.343 ha và sản lượng thu hoạch hàng năm đạt trên 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cả nước.[37] Tỉnh cũng là nơi trồng bông, ca cao, cao su, điều lớn của Việt Nam. Đồng thời, là nơi phát triển các loại cây ăn trái khác, như cây bơ, sầu riêng, chôm chôm, xoài...
Năm 2016, Đánh giá về việc thực hiện 18 chỉ tiêu nhiệm vụ chủ yếu năm 2016 cho thấy, có 12 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra, nổi bật nhất là chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, tổng sản phẩm xã hội (GRDP - theo giá so sánh 2010) khoảng 44.571 tỷ đồng, đạt 101,3% kế hoạch; tăng trưởng kinh tế 7,02%. Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): nông - lâm - thủy sản đạt 44,81%; công nghiệp - xây dựng đạt 14,48%; dịch vụ đạt 38,68% (kế hoạch năm 2016 tương ứng là: 43 - 44%, 16 - 17%, 36 - 37%).
• Ngành nông, lâm, thủy sản ước đạt 18.892 tỷ đồng, bằng 107,6% kế hoạch, tăng trưởng 4,25% (Kế hoạch: 17.559 tỷ đồng, tăng 3,5 - 4%). Giá trị sản xuất của các loại cây trồng lâu năm và hằng năm trên địa bàn tỉnh tăng khoảng 250,4 tỷ đồng, tương ứng giá trị tăng thêm 118 tỷ đồng.
• Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.100 tỷ đồng, bằng 97,6% kế hoạch do HĐND tỉnh giao (kế hoạch: 4.200 tỷ đồng) và đạt 120,2% kế hoạch Trung ương giao (kế hoạch: 3.671 tỷ đồng), tăng 20,2% so với thực hiện năm 2015.
• Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) năm 2016 thực hiện 13.750 tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm 2015, đạt 108,2% kế hoạch.
Phấn đấu năm 2018, UBND tỉnh Đắk Lắk đề ra chỉ tiêu: Tổng sản phẩm xã hội đạt khoảng 51.480 tỷ đồng, tăng trưởng kinh tế 7,8 - 8%, thu nhập bình quân đầu người 41 triệu đồng, huy động vốn đầu tư toàn xã hội 27.720 tỷ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 600 triệu USD, thu ngân sách nhà nước khoảng 5.000 tỷ đồng.
Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 53 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 235 trường mẫu giáo.[38] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.[38]
Danh sách các trường Trung học Phổ thông
[sửa | sửa mã nguồn]| Stt | Mã trường | Tên trường | Stt | Mã trường | Tên trường |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 001 | Sở Giáo dục - Đào tạo Đắk Lắk | 38 | 038 | Trung học Phổ thông Lê Hữu Trác |
| 2 | 002 | Trung học Phổ thông Buôn Ma Thuột | 39 | 039 | Trung học Phổ thông Trần Nhân Tông |
| 3 | 003 | Trung học Phổ thông Chu Văn An | 40 | 040 | Trung học Phổ thông Lê Quý Đôn |
| 4 | 004 | Trung học Phổ thông Quang Trung | 41 | 041 | Trung tâm Giáo dục từ xa M'Drăk |
| 5 | 005 | Trung học Phổ thông Trần Phú | 42 | 042 | Trung tâm Giáo dục từ xa Ea Kar |
| 6 | 006 | Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú Nơ Trang Lơng | 43 | 043 | Trung học Phổ thông Huỳnh Thúc Kháng |
| 7 | 007 | Trung Tâm Giáo dục từ xa Đắk Lắk | 44 | 044 | Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Bông |
| 8 | 008 | Trung học Phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm | 45 | 045 | Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Ma Thuột |
| 9 | 009 | Trung học Phổ thông Lê Hồng Phong | 46 | 046 | Trung học Phổ thông Hùng Vương |
| 10 | 010 | Trung học Phổ thông Buôn Hồ | 47 | 047 | Trung cấp dạy nghề Đắk Lắk |
| 11 | 011 | Trung học Phổ thông Cư M'Gar | 48 | 048 | Cao đẳng Nghề Thanh niên Dân tộc, Đắk Lắk |
| 12 | 012 | Trung học Phổ thông Krông Ana | 49 | 049 | Trung học Phổ thông Phú Xuân |
| 13 | 013 | Trung học Phổ thông Việt Đức | 50 | 050 | Trung học Phổ thông Phan Chu Trinh |
| 14 | 014 | Trung học Phổ thông Phan Bội Châu | 51 | 051 | Trung học Phổ thông Nguyễn Trường Tộ |
| 15 | 015 | Trung học Phổ thông Ngô Gia Tự | 52 | 052 | Trung học Phổ thông Lý Tự Trọng |
| 16 | 016 | Trung học Phổ thông Trần Quốc Toản | 53 | 053 | Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Đôn |
| 17 | 017 | Trung học Phổ thông Krông Bông | 54 | 054 | Trung tâm Giáo dục từ xa Ea Súp |
| 18 | 018 | Trung học Phổ thông Nguyễn Tất Thành | 55 | 055 | Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Đắk Lắk |
| 19 | 019 | Trung học Phổ thông Ea H'leo | 56 | 056 | Trường Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk |
| 20 | 020 | Trung học Phổ thông huyện Lăk | 57 | 057 | Trường Văn Hóa 3 |
| 21 | 021 | Trung học Phổ thông Ea Sup | 58 | 058 | Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú Tây Nguyên |
| 22 | 022 | Trung học Phổ thông Hồng Đức (Buôn Ma Thuột) | 59 | 059 | Trung học Phổ thông Thực hành Cao Nguyên |
| 23 | 023 | Trung học Phổ thông Nguyễn Trãi | 60 | 060 | Trung học Phổ thông Nguyễn Huệ |
| 24 | 024 | Trung học Phổ thông Chuyên Nguyễn Du | 61 | 061 | Trung học Phổ thông Nguyễn Văn Cừ |
| 25 | 025 | Trung học Phổ thông Cao Bá Quát | 62 | 062 | Trung học Phổ thông Lê Duẩn |
| 26 | 026 | Trung học Phổ thông Phan Đình Phùng | 63 | 063 | Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai |
| 27 | 027 | Trung học Phổ thông Buôn Đôn | 64 | 064 | Trường năng khiếu Thể dục Thể thao |
| 28 | 028 | Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Ana | 65 | 065 | Trung học Phổ thông Phan Đăng Lưu |
| 29 | 029 | Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Pắk | 66 | 066 | Trung học Phổ thông Trường Chinh |
| 30 | 030 | Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Hồ | 67 | 067 | Trung học Phổ thông Trần Quang Khải |
| 31 | 031 | Trung tâm Giáo dục từ xa huyện Lăk | 68 | 068 | Trung học Phổ thông Nguyễn Thái Bình |
| 32 | 032 | Trung tâm Giáo dục từ xa Cư M'Gar | 69 | 069 | Trung học Phổ thông Trần Đại Nghĩa |
| 33 | 033 | Trung tâm Giáo dục từ xa Ea H'Leo | 70 | 070 | Trung tâm Giáo dục từ xa Cư Kuin |
| 34 | 034 | Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Năng | 71 | 071 | Trung học Phổ thông Phạm Văn Đồng |
| 35 | 035 | Trung học Phổ thông Hai Bà Trưng | 72 | 072 | Trung học Phổ thông Ea Rốk |
| 36 | 036 | Trung học Phổ thông Nguyễn Công Trứ | 73 | 073 | Trung học Phổ thông Trần Hưng Đạo |
| 37 | 037 | Trung học Phổ thông Y Jut |
Trường Đại Học / Cao đẳng / Trung cấp
[sửa | sửa mã nguồn]- Trường Đại học Tây Nguyên
- Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột
- Phân hiệu Trường Đại học Đông Á tại Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk
- Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk
- Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk
- Trường Đại học Phú Yên
- Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
- Học viện Ngân hàng – Phân viện Phú Yên
- Trường Cao đẳng Văn Hóa - Nghệ thuật Tỉnh Đắk Lắk
- Trường Cao đẳng FPT Polytechnic - Cơ sở Tây Nguyên
- Trường Cao đẳng Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên+Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắk+Trường Cao đẳng nghề Phú Yên)
- Trường Cao đẳng Bách Khoa Tây Nguyên
- Trường Cao đẳng Y tế Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Cao đẳng Y tế Đắk Lắk+Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên)
- Trường Cao đẳng Sư Phạm Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Trung cấp Sư phạm Mầm non Đắk Lắk+Trường Cao đẳng Sư Phạm Đắk Lắk)
- Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam - Cơ sở Đắk Lắk
- Trường Cao đẳng Công Thương miền Trung
- Trường Trung cấp Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Trung cấp Đắk Lắk+Trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật Đắk Lắk)
- Trường Trung cấp Trường Sơn
- Trường Trung cấp Tây Nguyên
Dân cư
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Số dân(người) | Năm | Số dân(người) | Năm | Số dân(người) | Năm | Số dân(người) | Năm | Số dân(người) | Năm | Số dân(người) | Năm | Số dân(người) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1995 | 1.398.300 | 2000 | 1.860.900 | 2005 | 1.658.500 | 2010 | 1.752.700 | 2015 | 1.853.700 | 2020 | 1.886.900 | 2025 | 3.346.853 |
| 1996 | 1.501.800 | 2001 | 1.912.200 | 2006 | 1.677.800 | 2011 | 1.770.500 | 2016 | 1.874.500 | 2021 | 1.909.000 | ||
| 1997 | 1.605.100 | 2002 | 1.954.500 | 2007 | 1.696.600 | 2012 | 1.791.400 | 2017 | 1.896.600 | 2022 | 1.949.000 | ||
| 1998 | 1.703.100 | 2003 | 1.995.600 | 2008 | 1.715.100 | 2013 | 1.812.800 | 2018 | 1.919.200 | 2023 | 1.970.500 | ||
| 1999 | 1.793.400 | 2004 | 1.635.600 | 2009 | 1.735.700 | 2014 | 1.833.300 | 2019 | 1.872.600 | 2024 | 1.997.700 |
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2023, dân số toàn tỉnh Đắk Lắk là 2.207.244 người, mật độ dân số đạt 135 người/km²[39] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt 462.013 người, chiếm 24,7% dân số toàn tỉnh,[40] dân số sống tại nông thôn đạt 1.407.309 người, chiếm 75,3% dân số toàn tỉnh.[41] Dân số nam đạt 942.578 người,[42] trong khi đó nữ đạt 926.744 người.[43] Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 0,75 ‰[44] Đây cũng là tỉnh đông dân nhất vùng Tây Nguyên với hơn 1,8 triệu dân. Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2023 đạt 25,76%.
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Đắk Lắk có 13 tôn giáo khác nhau chiếm 577.920 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo với 265.760 người, thứ 2 là Đạo Tin Lành với 181.670 người, thứ 3 là Phật giáo với 126.660, thứ 4 là Đạo Cao Đài có 3.572 người, cùng với các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo có 162 người, Hồi giáo có 65 người, Bửu sơn kỳ hương có 23 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 3 người, Bahá'í có 2 người, ít nhất là Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo và Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa mỗi đạo có 1 người.[45]
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc Kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ 2 là Người Ê Đê có 298.534 người, thứ 3 là Người Nùng có 71.461 người, thứ 4 là Người Tày có 51.285 người. Cùng các dân tộc ít người khác như M'nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người[45]...
Văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]Đắk Lắk có bản sắc văn hóa đa dạng như các trường ca truyền miệng lâu đời Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu, như các ngôn ngữ của người Ê Đê, người M'Nông...như các đàn đá, đàn T'rưng, đàn k'lông pút... Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.
Các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội cà phê... được tổ chức đều đặn hàng năm như một truyền thống. Các Di tích lịch sử tại Đắk Lắk như Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Khu Biệt điện Bảo Đại, Toà Giám mục tại Đắk Lắk, Hang đá Đắk Tur và Tháp Yang Prong...
Y tế
[sửa | sửa mã nguồn]Đắk Lắk là trung tâm về Y tế vùng Tây Nguyên. Với một số bệnh viện lớn cấp Vùng như Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên với quy mô 800 giường bệnh nội trú. Với nỗ lực của các Y - Bác sĩ, bệnh viện đã hạn chế được 1 phần về tình trạng bệnh nhân cấp cứu phải chuyển tuyến đến các bệnh viện tuyến trên như: Bệnh viện Chợ Rẫy (Hồ Chí Minh), Bệnh viện Đà Nẵng (Đà Nẵng), Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội).
Thể thao
[sửa | sửa mã nguồn]Đắk Lắk có phong trào thể thao phát triển, với các đội tham gia thi đấu ở các giải quốc gia. Tiêu biểu là Câu lạc bộ bóng chuyền Đắk Lắk, một đội bóng chuyền nữ chuyên nghiệp của tỉnh thi đấu tại Giải vô địch bóng chuyền quốc gia Việt Nam. Đội bóng tham gia giải này kể từ năm 2017 và góp mặt nhiều mùa giải.
Bên cạnh đó, Câu lạc bộ Bóng đá Đắk Lắk là đội bóng đá đại diện tỉnh, thi đấu ở Giải hạng Nhì quốc gia với mục tiêu thăng hạng lên các giải cao hơn trong hệ thống bóng đá Việt Nam.
Du lịch
[sửa | sửa mã nguồn]Du lịch Đắk Lắk đang có lợi thế với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, Thác Gia Long, cụm du lịch Buôn Đôn, Thác Krông Kmar, Thác Đray Nur, Thác Thủy Tiên,... bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo[46]...
Giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]1. Đường bộ (Quốc lộ & Cao tốc)
[sửa | sửa mã nguồn]Đây là mạng lưới xương sống kết nối các khu vực dân cư và các trung tâm kinh tế trực thuộc tỉnh.
- Trục dọc kết nối Bắc - Nam:
- Quốc lộ 1 & quốc lộ 1D: Chạy dọc hành lang phía Đông, kết nối các đô thị ven biển.
- Quốc lộ 14 (Đường Hồ Chí Minh): Trục xuyên tâm nối các khu vực trọng điểm phía Tây của tỉnh.
- Quốc lộ 14C: Tuyến vành đai biên giới phía Tây của tỉnh.
- Quốc lộ 19C: Trục kết nối nội vùng phía Đông của tỉnh.
- Cao tốc Chí Thạnh – Vân Phong: Đoạn tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông chạy qua địa phận phía Đông của tỉnh.
- Trục ngang kết nối Đông - Tây:
- Quốc lộ 25: Nối từ khu vực Tuy Hòa lên phía Tây tỉnh Gia Lai.
- Quốc lộ 26: Tuyến huyết mạch nối trung tâm Buôn Ma Thuột xuống các khu vực kinh tế biển phía Đông của tỉnh.
- Quốc lộ 27: Nối từ khu vực Buôn Ma Thuột đi hướng Lâm Đồng.
- Quốc lộ 29: Trục vận tải chiến lược từ Cảng Vũng Rô xuyên suốt qua các vùng nguyên liệu phía Tây của tỉnh.
- Cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột: Hành lang kinh tế trọng điểm thúc đẩy giao thương vùng cao và vùng biển.
- Đường địa phương: 14 tuyến tỉnh lộ (tổng chiều dài khoảng 460 km) đóng vai trò kết nối trực tiếp từ các đầu mối giao thông quốc gia đến các địa phương cơ sở.
2. Đường sắt
[sửa | sửa mã nguồn]- Tuyến đường sắt Bắc – Nam: Chạy qua khu vực phía Đông của tỉnh.
- Ga Tuy Hòa: Đầu mối giao thông đường sắt chủ lực, kết nối vận tải hành khách và hàng hóa xuyên Việt.

Nhà ga sân bay Buôn Ma Thuột
3. Đường hàng không
[sửa | sửa mã nguồn]Đắk Lắk là tỉnh hiếm hoi sở hữu đồng thời hai cảng hàng không, tạo lợi thế cực lớn cho du lịch và giao thương:
- Sân bay Buôn Ma Thuột (BMV): Cửa ngõ phía Tây.
- Các tuyến bay đi: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng, Cần Thơ, Huế, Thanh Hóa, Côn Đảo, Phú Quốc, Chu Lai.
- Sân bay Tuy Hòa (TBB): Cửa ngõ phía Đông.
- Các tuyến bay đi: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng, Cần Thơ, Huế, Thanh Hóa, Côn Đảo, Phú Quốc, Chu Lai.
4. Đường thủy (Cảng biển)
[sửa | sửa mã nguồn]- Cảng Vũng Rô: Cửa ngõ ra biển Đông của tỉnh Đắk Lắk, phục vụ việc xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng nông sản và công nghiệp từ các địa phương trong tỉnh ra quốc tế.
Danh nhân
[sửa | sửa mã nguồn]Chính trị, lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]- N'Trang Gưh (1845-1913): Là người dân tộc Êđê, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp từ năm 1887 đến 1913, gây nhiều khó khăn cho quân xâm lược.
- Ama Jhao (1840-1905): Tên thật là Y Yên Ayŭn, một tù trưởng giàu có và uy tín, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp từ năm 1889 đến 1905.
- Y Jút H'Wing (1888-1934): Một nhân sĩ trí thức người Êđê, đã tham gia phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của giới công chức, viên chức Buôn Ma Thuột vào những năm 1925-1926.
- Y Ngông Niê Kdăm (1922-2001): Là người dân tộc Êđê, một nhân vật chính trị tiêu biểu của Đắk Lắk. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk. Ông là Đại biểu Quốc hội 9 khóa liên tục (khóa I đến khóa IX).
- Ama Pui (1932-2005): Tên khai sinh là Y Liă Mjâo, từng giữ chức Phó Bí thư Thị ủy, Phó Chủ tịch UBND, Chủ tịch Mặt trận thị xã Buôn Ma Thuột sau năm 1975. Sau đó, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk.
- Lương Văn Chánh (?-1611) Danh tướng thời chúa Nguyễn, là người có công lớn trong việc khai phá, xác lập và đặt nền móng hình thành vùng đất Phú Yên vào đầu thế kỷ XVII. Ông được nhân dân Phú Yên tôn vinh là Tiền hiền khai khẩn của tỉnh.
- Lê Thành Phương (1825-1899): Nhà nho yêu nước, lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Phú Yên cuối thế kỷ XIX. Ông lãnh đạo nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, thể hiện tinh thần yêu nước, bất khuất của người dân Phú Yên.
- Lê Trung Kiên (1939-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Đại đội trưởng Đặc công 202 Phú Yên; anh dũng hy sinh trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại thị xã Tuy Hòa.
- Nguyễn Anh Hào (1932-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ An ninh tỉnh Phú Yên; chỉ huy lực lượng điệp báo, an ninh đô thị, hy sinh trong Xuân Mậu Thân 1968.
- Nguyễn Thế Bảo (1930-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ an ninh cách mạng Phú Yên; chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng trong cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968.
Văn hóa, nghệ thuật
[sửa | sửa mã nguồn]- NSND Y Moan Ênuôl (1957-2010): Được mệnh danh là "Giọng ca của đại ngàn Tây Nguyên", ông là một trong những nghệ sĩ người Êđê nổi tiếng nhất Việt Nam với những đóng góp to lớn cho âm nhạc dân gian và hiện đại.
- Nghệ nhân Y Nuh Niê (dưới 1922-?): Người có đóng góp lớn trong việc gìn giữ và phát huy sử thi Ê Đê, với hơn 45 năm miệt mài hát kể sử thi và truyền dạy cho nhiều thế hệ.
- NSND Y San Aliô (sinh năm 1960) và NSƯT Y Joel Knul (sinh năm 1975): Những nghệ sĩ đã được vinh danh vì những đóng góp trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa nghệ thuật của dân tộc Êđê.
- H'Hen Niê (sinh năm 1992): Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017, là người dân tộc thiểu số đầu tiên đăng quang ngôi vị cao nhất của cuộc thi này, truyền cảm hứng mạnh mẽ về nghị lực và bản sắc văn hóa.
- Nhã Phương (sinh năm 1990): Nữ diễn viên điện ảnh và truyền hình nổi tiếng, quê ở Đắk Lắk, được biết đến qua nhiều vai diễn ấn tượng.
- Hồ Quang Hiếu (sinh năm 1983): Ca sĩ nổi tiếng với nhiều bản hit, cũng là một người con của Đắk Lắk.
- Hiền Hồ (sinh năm 1997): Nữ ca sĩ trẻ tài năng và triển vọng, được biết đến sau Giọng Hát Việt 2017.
- Lê Bê La (sinh năm 1987): Nữ diễn viên truyền hình nổi tiếng tại Việt Nam. Cô được biết đến qua vai Tùng trong Cổng mặt trời và nhiều phim truyền hình khác như Hoa nắng, Thời gian để yêu, Bão ngầm...
- Trương Đình Hoàng (sinh năm 1990): Võ sĩ quyền anh chuyên nghiệp nổi tiếng, là niềm tự hào của thể thao Đắk Lắk.
- Y Điêng (1928–2010): Nhà văn dân tộc Êđê sinh tại Phú Yên, có nhiều tác phẩm giá trị về văn hóa, con người Tây Nguyên; được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật.
Doanh nhân
[sửa | sửa mã nguồn]- Đặng Lê Nguyên Vũ (sinh năm 1971): Doanh nhân tiêu biểu trong lĩnh vực cà phê, người sáng lập, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Trung Nguyên Legend. Ông được xem là một trong những doanh nhân có ảnh hưởng lớn nhất đối với ngành cà phê Việt Nam, góp phần đưa thương hiệu cà phê Việt vươn ra thị trường quốc tế, đồng thời khởi xướng nhiều hoạt động truyền cảm hứng khởi nghiệp và xây dựng văn hóa cà phê. Bên cạnh hoạt động kinh doanh, ông còn được biết đến với bộ sưu tập xe có giá trị lớn, thể hiện phong cách cá nhân và dấu ấn của một doanh nhân thành đạt.
Hình ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]-
Nhà thờ chính tòa Giáo phận Ban Mê Thuột -
Tòa giám mụcBan Mê Thuột -
Chùa Khải Đoan -
Chùa Phổ Minh -
Chùa Liên Trì -
Biệt điện Bảo Đại -
Tháp Chăm, Ea Súp
-
Sân vận động Buôn Ma Thuột nhìn từ trên cao -
Trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột về đêm]] -
Toàn cảnh khu vực chợ Thành phố Buôn Ma Thuột nhìn từ trên cao
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b c d "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Chữ và nghĩa: Đắk Lắk - xưa và nay".
- ^ a b c Phía Tây Đắk Lắk giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- ^ "Gấp rút xác định ranh giới Đắk Lắk - Khánh Hòa".
- ^ Giới thiệu viễn thông Đắk Lắk Lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2024 tại Wayback Machine, Website tỉnh Đắk Lắk.
- ^ a b Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất nước với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- ^ "Nạn phá rừng ở Tây Nguyên vẫn tiếp diễn". nhandan. ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016.
- ^ Lắk, Trung Tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công xã Liên Sơn (ngày 12 tháng 11 năm 2024). "Đăk Lăk 120 năm hình thành và phát triển". Trung Tâm Cung ứng dịch vụ công xã Liên Sơn Lắk. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ "Tạp chí cộng sản". Tạp chí Cộng sản. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ Louis Victor Bourgeois, công sứ Pháp đầu tiên ở Đắc Lắc (lúc đó Đắc Lắc thuộc Lào, năm 1904 thì thuộc về Việt Nam), cai trị tỉnh này từ năm 1899 - 1904. Bộ máy cai trị Đắc Lắc khá đơn giản, ngoài ông ta (Công sứ Bourgeois) thì còn có phó công sứ de Blakovitch; chỉ huy lính bản xứ Henry. Bourgeois là tên thực dân Pháp cáo già, lên Tây Nguyên vào những năm 90 của thế kỷ XIX; năm 1890, Bourgeois đã lần lượt thu phục các tù trưởng Khumjunop (vua săn voi nổi tiếng ở Bản Đôn), Ama Y Thuột, Ama Jhao (thất bại)... Ngày 2/11/1899, Bourgeois lập ra hạt đại lý khu vực Bản Đôn làm nơi thí điểm để bình định các dân tộc Edeh, M'nông (nhóm Kpă và Bih) vùng hạ lưu sông Krông Ana và sông Krông Nô...nhưng thất bại. Năm 1900, cuộc nổi dậy của N'Trang Gưh, người Bih chống lại Bourgeois làm tên này phải đối phó rất vất vả (1900 - 1914)
- ^ Năm cai trị của tên công sứ Besnard căn cứ theo "Monographie de la Province du Darlac (1930)" của A. Monfleur, p. 13 và "Lịch sử di tích cách mạng nhà ngục Đắk Mil", tr. 26
- ^ Leopold Sabatier, công sứ Pháp ở Đắc Lắc từ năm 1914 - 1925. Thời gian đầu khi cai trị, Sabatier đón tiếp Henri Maitre (Tham biện hạng nhất, đóng ở Peksa). Ông ta liên tiếp đem quân chống phá các cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng, cưới một người vợ Tây Nguyên (có chỗ ghi là người Lào) là Sao Nhuôn; ra thông tri về cai trị vùng Mọi (cho người dân tộc làm rưộng nước trên nương rẫy, trồng cây ăn quả). Trong Cuộc thương nghị của lời thề, ông lệnh cho các già làng làm ruộng (có trồng ngô và khoai) theo kế hoạch đã được định ra của Sabatier: "Ông công sứ "Những kẻ đầu cá kroa và đầu cá kenh cứng cổ, ta đã nói cho cac ngươi phải làm như thế nào. Tuy cac ngươi chỉ là những con trâu, ta vẫn muốn cứu các ngươi, nhưng ta sẽ làm cho những kẻ không nghe lời ta phải hối hận. Ta ra lệnh cho các ngươi làm ruộng vụ hè khắp nơi, ở nơi có đầm lầy và đất thấp có thể tưới nước. Các ngươi chặn dòng sông khắp nơi ở những nơi có thể. Trên bờ các ngươi làm ruộng trồng ngô và khoai để thu hoạch và phơi khô dành cho mùa ian mdé phùn (10)[...]" Ta ra lệnh cho các ngươi làm ruộng vụ hè. Ta ra lệnh cho các ngươi cày chứ không phải là dẫm đất. Ta nói với các ngươi chỉ một người với chỉ một con trâu kéo cày, sẽ làm ít vất vả hơn công việc của mười người và mười con trâu giẫm đất. Ngươi, Y Bak, được người ta gọi là "Vua của thóc lúa", đó là gì? Ta cấm người ta gọi ngươi như vậy, nếu không để chế diễu ngươi mà biết bao ruộng lúa không được cày xới. Ta sẽ đưa cho các ngươi hai mươi cái cày. Y Đê, Y Đjut và Y Đong đã học ở Huế, sẽ bày cho các ngươi cách làm và cách dùng. Các ngươi có nghe thấy không? Các tù tưởng Đã nghe rồi. Hây. Công sứ Các ngươi có hiểu không? Các tù trưởng Sao chúng tôi không hiểu. Hây. Công sứ Nếu các ngươi hiểu, thì năm nay sẽ không có nạn đói. Nếu trong một làng, ta thấy một người gầy, ta sẽ bỏ tù chủ làng. Chưa hết đâu. Ta sẽ phát cho các ngươi mười nghìn cây cà phê, năm nay ta sẽ phân phát ba mươi nghìn. Ta đã nói với các ngươi, mỗi dầu dân đinh phải trồng mười cây cà phê"" Ông cũng là người sưu tầm, soạn thảo ra Luật tục Êđê gồm 236 điều với khoảng trên dưới 8.000 câu. Cuối thời cai trị của mình, ông đã ra lệnh tuyệt cấm người Việt lên lập nghiệp ở Darlac với chủ trương cực đoan "đất Tây Nguyên của người Tây Nguyên", rồi lại vận động khâm sứ Trung Kỳ là Pierre Pasquier áp dụng chung chính sách này cho toàn cao nguyên Trung phần. Chính vì quá độc quyền vùng Tây Nguyên nên ông ta bị nhân dân phản đối. Cuộc biểu tình của người Ê Đê do Y Jut lãnh đạo đã buộc Pháp phải đuổi ông ta về nước (10/1925). Giran lên thay.
- ^ a b Theo Annuaire general de L'Indochine 1914, Daklak là một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum mới thành lập, với Leopold Sabatier (ra thay Louis Cottez từ giữa năm 1913) làm đại lý (tương đương chủ quận) lệ thuộc vào Jules-Francois Guénot (công sứ Kon Tum), chỉ huy là Kaufman (đóng ở Buôn Ma Thuột). Pháp đưa Phan Tử Khâm làm tri huyện quản lý cả tỉnh Kon Tum rộng lớn (bao gồm Daklak, đến năm 1917 thêm cả An Khê), đặt H'Ma (người Ê-đê) làm tri huyện ở Mang-yang
- ^ Giran, tên đầy đủ là Paul Giran, ông này thay Leopold Sabatier làm Công sứ tỉnh Đắc Lắc khi ông này (tức Sabatier) bị Tổng thanh tra Đông Dương đuổi do có hành động miệt thị dân Thượng (đấu tranh của nhân dân Edeh do thầy giáo Y Jut lãnh đạo (1925)). Dưới thời Công sứ Giran, Pháp cho xây dựng Tòa Công sứ Đắc Lắc (1926 - 1927) và tiếp tục đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống Pháp, nhất là khởi nghĩa N'Trang Lơng.
- ^ "LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
- ^ "LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT". Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016.
- ^ Quyết định 230-CP năm 1977 về việc chia huyện Krông Buk thành huyện Krông Buk và huyện Ea Sup và chia huyện Krông Pắk thành huyện Krông Pắk và huyện M'Drắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Quyết định 110-CP năm 1980 về việc chia huyện Krông Buk thành hai huyện, huyện Krông Buk và huyện Ea H'Leo và thành lập một số xã mới của huyện Ea Súp thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Quyết định 75-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới của huyện và thị xã Buôn Ma Thuột thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Quyết định 15-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới huyện Ea Sup thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Quyết định 19-HĐBT năm 1986 về việc chia huyện Đắk Nông thành hai huyện Đắk Nông và huyện Đăk R'lấp thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Quyết định 108-HĐBT năm 1986 về việc thành lập huyện Ea Kar thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Quyết định 227-HĐBT năm 1990 thành lập huyện Cư Jút thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Nghị định 08/CP năm 1995 về việc thành lập thành phố Buôn Ma Thuột và điều chỉnh địa giới hành chính giữa thành phố với các huyện Cư Jút, Ea Súp, Krông Pắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Nghị định 61-CP năm 1995 về việc chia xã và thành lập huyện mới thuộc tỉnh Đắk Lắk
- ^ Nghị định 30/2001/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Đắk Nông và huyện Đắk Mil để thành lập huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Lắk
- ^ "NGHỊ QUYẾT 22/2003/QH.11 VỀ VIỆC CHIA VÀ ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH MỘT SỐ TỈNH".
- ^ Quyết định 38/2005/QĐ-TTg công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại II do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- ^ Nghị định 137/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc các huyện: Krông Ana, Ea Kar, Krông Búk, M'Drắk, Ea H'Leo; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Ana để thành lập huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk
- ^ Nghị định 07/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Krông Búk, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Búk để thành lập thị xã Buôn Hồ và thành lập các phường trực thuộc thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk
- ^ Quyết định 228/QĐ-TTg năm 2010 công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- ^ xaydungchinhsach.chinhphu.vn (ngày 7 tháng 8 năm 2025). "Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH". xaydungchinhsach.chinhphu.vn. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
- ^ "Toàn văn Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Đắk Lắk năm 2025". Báo Điện tử Chính Phủ. ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ^ Căn cứ vào Đề án số 341/ĐA-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đắk Lắk (mới) năm 2025
- ^ Đắk Lắk là tỉnh có diện tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, Trang thông tin lễ hội cà phê.
- ^ a b Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
- ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
- ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
- ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
- ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
- ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
- ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
- ^ a b Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
- ^ Tính đến ngày 31/12/2000, toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 2 di tích lịch sử văn hoá Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Tin tức Đắk Lắk
- Tỉnh Đắk Lắk
- Đài truyền hình và phát thanh Đắk Lắk
- Đắc Lắc tại Từ điển bách khoa Việt Nam
- "Họp báo công bố tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk năm 2024". khdt.daklak.gov.vn. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
| |
|---|---|
| Phường (14), xã (88) | |
| Phường (14) | Buôn Ma Thuột · Bình Kiến · Buôn Hồ · Cư Bao · Đông Hòa · Ea Kao · Hòa Hiệp · Phú Yên · Sông Cầu · Tân An · Tân Lập · Thành Nhất · Tuy Hòa · Xuân Đài |
| Xã (88) | Buôn Đôn · Cư M’gar · Cư M’ta · Cư Pơng · Cư Prao · Cư Pui · Cư Yang · Cuôr Đăng · Đắk Liêng · Đắk Phơi · Dang Kang · Dliê Ya · Đồng Xuân · Dray Bhăng · Đức Bình · Dur Kmăl · Ea Bá · Ea Bung · Ea Drăng · Ea Drông · Ea H’Leo · Ea Hiao · Ea Kar · Ea Khăl · Ea Kiết · Ea Kly · Ea Knốp · Ea Knuếc · Ea Ktur · Ea Ly · Ea M’Droh · Ea Na · Ea Ning · Ea Nuôl · Ea Ô · Ea Păl · Ea Phê · Ea Riêng · Ea Rốk · Ea Súp · Ea Trang · Ea Tul · Ea Wer · Ea Wy · Hòa Mỹ · Hòa Phú · Hòa Sơn · Hòa Thịnh · Hòa Xuân · Ia Lốp · Ia Rvê · Krông Á · Krông Ana · Krông Bông · Krông Búk · Krông Năng · Krông Nô · Krông Pắc · Liên Sơn Lắk · M’Drắk · Nam Ka · Ô Loan · Phú Hòa 1 · Phú Hòa 2 · Phú Mỡ · Phú Xuân · Pơng Drang · Quảng Phú · Sơn Hòa · Sơn Thành · Sông Hinh · Suối Trai · Tam Giang · Tân Tiến · Tây Hòa · Tây Sơn · Tuy An Bắc · Tuy An Đông · Tuy An Nam · Tuy An Tây · Vân Hòa · Vụ Bổn · Xuân Cảnh · Xuân Lãnh · Xuân Lộc · Xuân Phước · Xuân Thọ · Yang Mao |
| Nguồn: Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15 | |
| ||
|---|---|---|
| Trung du và miền núi phía Bắc |
| |
| Đồng bằng sông Hồng |
| |
| Bắc Trung Bộ |
| |
| Duyên hải Nam Trung Bộvà Tây Nguyên |
| |
| Đông Nam Bộ |
| |
| Đồng bằng sông Cửu Long |
| |
| ||
| Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn | |
|---|---|
| Quốc tế |
|
| Quốc gia |
|
| Địa lý |
|
| Khác |
|
Từ khóa » Daklak Hay Ra Số Gì
-
Thống Kê XSDLK - Thống Kê Xổ Số Đắk Lắk 30 Ngày - Theo Tuần Tháng
-
Thống Kê Tần Suất Xổ Số Đắk Lắk - MINH NGỌC
-
Thống Kê Lô Gan Đắk Lắk Lâu Ra - Lô Gan DLK Lâu Chưa Về
-
Thống Kê Tần Suất Xổ Số Đắk Lắk, 5 Lần Quây - Xổ Số Phương Trang
-
XSDLK - Xổ Số Đắk Lắk Hôm Nay - XS DAKLAK - SXDLK - KQXSDLK
-
Thống Kê Lô Gan Đắk Lắk - Lô Gan DLK: Số Lâu Ra đài Đắc Lắc
-
Thống Kê Kết Quả Xổ Số Đắc Lắc- Thống Kê XSDLK - XSKT
-
XSDLK - Kết Quả Xổ Số Đắk Lắk - SXDLK Hôm Nay - KQXSDLK
-
Biển (bảng) Số Xe Đăk Lăk Là Bao Nhiêu?
-
Dự đoán Xổ Số Đắk Lắk - Soi Cầu Daklak - Dự đoán XSDLK Hôm Nay
-
Thống Kê Tần Suất Xổ Số Đắk Lắk - Minh Ngọc™
-
Xin Số đề Đắk Lắk | Dự đoán Kết Quả XSDLK Hôm Nay
-
Buôn Ma Thuột – Wikipedia Tiếng Việt
-
Trực Tiếp Xổ Số Đắk Lắk , Miền Trung Ngày 16/08/2022
Bản đồ tỉnh Đắk Lắk 
