ĐÀM THOẠI DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH - Kyniem
Có thể bạn quan tâm
ĐÀM THOẠI DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH
HỎI: 1-*Thế nào gọi là kinh Đại Thừa ?
Đáp: Kinh Đại Thừa Là: Theo định nghĩa thông của các nhà chú giải kinh điển Bắc Tạng thì kinh Đại thừa được ví như là một cổ xe lớn. Hay cái bè lớn . Có khả năng đưa chúng sanh từ chốn đau khổ đến nơi an lạc, từ chỗ ác đến chỗ lành, từ bến mê lầm đến bờ giác ngộ. Giáo pháp vừa lợi mình và lợi người. Người tu theo pháp môn này cũng không khác nào vừa độ mình và độ cho người khác, cũng thoát khỏi khổ đau đến chỗ an vui đó gọi là tu theo Đại Thừa Giáo.
HỎI: 2 ) -* Trong kinh Đại Thừa đức Phật dạy thế nào ?
ĐÁP:Trong kinh đức Phật dạy người tu Đại Thừa Giáo thì phải phát tâm rộng lớn như bốn lời nguyện của Bồ Tát:
“ Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.
Hoặc phát lời nguyện khác:
“ Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật Đạo”.
Hỏi: 2-*Muốn thành tựu được như vậy thì phải tu theo pháp môn nào ?
Đáp: Muốn thành tựu thì phải tu theo pháp môn: Bố thí –Trì giới- Nhẫn nhục –Tinh tấn –Thiền định – Trí tuệ gọi là Sáu Ba La Mật. Hay Bát Chánh Đạo: Chánh kiến-Chánh ngữ-Chánh tư duy- Chánh nghiệp –Chánh mạng- Chánh tinh tấn-Chánh niệm- Chánh định.
Nếu tu theo Sáu Pháp Ba La Mật và Bát Chánh Đạo thì cũng có thể độ được mình và độ được người khác nữa.
Đó là pháp tu theo Đại Thừa Giáo. Hay nói cách khác là nền tảng của kinh Pháp Hoa, độ cho người chính là độ cho mình.
Hỏi: 3-*Vậy nội dung kinh đại thừa giáo là gì ?
Đáp: Kinh Đại Thừa Giáo là thể hiện những lời đức Phật khuyên bảo, răn dạy để chúng sanh mở lòng từ bi, mở rộng trí tuệ,để nhìn thấy khổ của mình, của mọi người , mà phát tâm rộng lớn, nguyện độ cho mình và độ cho mọi người khác, chứ không phải độ riêng cho mình mà thôi, cho nên kinh này , lời dạy này được gọi là Đại thừa Giáo.
HỎI: 4 ) -*Nói rộng ra như thế nào ?
ĐÁP: Nói rộng ra, những lời dạy nào mang ý nghĩa tự lợi, lợi tha, vì giác ngộ cho mình và giác ngộ cho người, thì lời dạy đó, những kinh đó cũng được gọi là kinh Đại Thừa.
Riêng kinh Pháp Hoa nhằm về Đại Thừa Giáo
Chỉ cho chúng ta cách tu: tự lợi mình, lợi người hơn hẵn, vì độ cho người tức là độ cho mình nên gọi là kinh Đại Thừa. Vì bản tâm Đại Thừa là chúng sanh tâm. Cái tâm ấy lớn bao nhiêu thì cỗ xe hay cái bè ấy lớn bấy nhiêu. Chở chúng sanh từ bến mê sang bến ngộ.Đó là tóm tắt sơ qua về Đại Thừa Giáo.
Hỏi: 5-* nguồn gốc lịch sử của kinh Pháp Hoa như thế nào ?
Đáp:Nguồn gốc xuất phát bộ kinh Pháp Hoa. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là bộ kinh được toàn thế giới kính trọng,Thọ, trì, đọc ,tụng, giảng nói,biên chép.
Mỗi người tùy trình độ tu chứng khác nhau, mà cảm nhận về kinh cũng khác nhau.
HỎI: 5 ) -* Các Đại Sư giảng kinh Pháp Hoa đánh giá thế nào ?
ĐÁP: Ngài Thế Thân Bồ Tát cho kinh này là Tối Thượng Thừa
Vì nó vượt trên các kinh, là chính mục tiêu của Tam Thừa.
Ngài Trí Giả Đại Sư cho kinh này là một phép mầu nhiệm có thể thống nhất các pháp.
Ngài Nhật Liên Thánh Nhân cho kinh Pháp Hoa là môn đại Đà La Ni.
HỎI: 6 ) -* Người tu chỉ cần thế nào ?
ĐÁP: Người tu chỉ cần niệm đề kinh là tiêu trừ được các tội chướng và chứng Vô Thượng Bồ Đề. ( Thành Đức Phật)
Ngoài ba vị thánh trên, tất cả Pháp Sư, Thiền Sư, đều thọ trì, lễ bái, Thậm chí có người đảnh lễ từng chữ, từng câu,
Ngài Thái Hư Đại Sư nói: “Chưa thấy bộ kinh nào được kính trọng như thế”.
HỎI: 7 ) -* Đối với Bồ Tát thì phaỉ thế nào ?
ĐÁP:Đối với vị Bồ Tát hay người có căn lành, đặt trọn niềm tin và thân mạng nơi Đức Phật. thì dòng lịch sử của Diệu Pháp Liên Hoa kinh ví như dòng trí tuệ, chư Phật chôi chảy vĩnh viễn từ thời Phật Oai Âm Vương và trước đó nữa đến ngày nay vĩnh hằng ,Bất tử,không bao giờ ngừng nghỉ.
HỎI: 8 ) -* Bất cứ ai muốn thành Phật đều phải tu theo kinh nào ?
ĐÁP: Vì bất cứ Đức Phật nào tu hạnh Bồ Tát thành phật đều phải học và tu tập theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa này.
Kinh này là Diệu Pháp Liên Hoa văn tự của Chư Phật, Chư Bồ Tát, Đức Phật đang sống và Giữ gìn.
Thường Bất Khinh Bồ Tát nghe được kinh Pháp Hoa sau khi đốt thân bằng lửa Tam Muội.
HỎI: 9 ) -* Khi Ngài ngồi Bồ Đề Đạo tràng nghe được kinh gì ?
ĐÁP: Thái Tử Sĩ Đạt Ta. Nghe được kinh Pháp Hoa sau khi 49 ngày tư duy Thiền định ở Bồ Đề Đạo Tràng. Chính nguồn kinh như vậy đã tạo thành dòng lịch sử Phật Giáo siêu Việt, nuôi dưỡng tuệ giác cho người con Phật hơn 2555 , vẫn còn sống mãi. Kinh Pháp Hoa là Lịch sử của người đang sống với bản tâm, không bị thân ngũ ấm ngăn che. Vượt qua được không gian, mười muôn ức thế giới và tự tại với thời gian ngũ bách ức trần.
HỎI: 10 )-* Về mặt học thuật: kinh Pháp Hoa như thế nào?
ĐÁP: Kinh Pháp Hoa còn là một thể tài, chứa dựng những tư tưởng phong phú, tạo sự thích thú cho học giả khắp thế giới.
Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 19 công sứ người Anh, Nhật, Pháp, Đức đã sưu tầm được 20 bộ kinh Pháp Hoa ở trong hang đá miền Bắc viết bằng lá đề. Đoàn khảo cứu vẫn tiếp tục sưu tầm trên thế giới, tới nay đã có 28 bộ kinh Pháp Hoa viết bằng lá đề để trong hang đá ,đem ra tra cứu thì tư tưởng căn bản của kinh Pháp Hoa vẫn không thay đổi. trọng tâm của kinh nằm trong phẩm 2, phẩm 11và nửa phẩm 15 trọn phẩm 16 và một nửa phẩm 17 tất cả bộ kinh nào cũng có đủ các phẩm đó.
HỎI: 11 ) -* Kinh Pháp Hoa được xuất hiện vào thời gian nào ?
ĐÁP: Theo sự khảo cứu trên, kinh Pháp Hoa được kết tập vào khoảng 100 năm trước Tây lịch.
Vua A Dục cho xây 84.000 tháp ở khắp nơi theo tinh thần ở phẩm Dược Vương trong kinh Pháp Hoa và cũng mang tinh thần của phẩm Tựa. Cũng giống như tám người con của Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh.
HỎI: 12 -* Các người con của Vua Dục như thế nào ?
ĐÁP:Các người con của vua A Dục đều bỏ thú vui thế tục, xuất gia trở thành nhà truyền giáo nhiệt tâm ở thời kỳ bấy giờ. Họ xây chùa, đem kinh pháp hoa đi truyền bá tại Trung Đông, Trung Á, tới Giao Châu( hà Nội) để truyền bá kinh Pháp Hoa vào năm 256 trước Công nguyên.
HỎI: 13 ) -* Một bằng chứng khác ta thấy như thế nào ?
ĐÁP: Một bằng chứng khác cho thấy sự hiện hữu của kinh Pháp Hoa là một vài tác phẩm xuất bản vào đầu thế kỷ thứ nhất đã mang tư tưởng Pháp Hoa.Đặc biệt là Đại Trí Luận của Long Thọ Bồ Tát,đã dùng kinh Pháp Hoa để chứng minh trung đạo.
Đến Ngài Thế Thân Bồ Tát chẳng những dùng kinh Pháp Hoa trong bộ Diếp Đại Thừa Luận mà còn soạn kinh Pháp Hoa Luận để làm nền tảng về sau.
HỎI: 14 ) -* Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Việt Nam như thế nào?
Đáp: Sự nghiệp dịch kinh của người Việt Nam rất sớm và phát triển mạnh nhất vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai. Theo lịch Đại Tam Bảo Ký. Bộ kinh Pháp Hoa Tam Muội đã được ngài Chi Cương Lương kết hợp với học giả Việt Nam dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán ở Giao Châu (Hà Nội) vào năm 256 trước Công Nguyên và Ngài Khương Tăng Hội đã trích phẩm Thí dụ với tên Phật thuyết Ta Xa Du kinh.
HỎI: 15 ) -* Lịch sử viết kinh Pháp Hoa như thế nào ?
ĐÁP: Lịch sử chữ viết kinh Pháp Hoa có thể chia làm ba thời kỳ:
1-Thời kỳ chữ Hán
2-Thời kỳ chữ Nôm
3-Thời kỳ chữ Quốc Ngữ
HỎI: 16 )-*Thời kỳ chữ Hán: Theo Sử liệu Trung Hoa Đạo tràng phiên dịch kinh ở Giao Châu (Hà Nội ) đã được thành lập vào đời Hậu Hán do sự giúp đỡ của các quan Thứ Sử và hợp tác với danh gia Ấn Độ do con vua A Dục dẫn đầu, cùng kết hợp với Trung Á, Trung Đông v,v…
Một nhà thương gia Khương Tăng Hội đem cúng hết của hương hỏa và xin hợp tác với đạo tràng vào năm 247 trở thành một nhà truyền giáo nổi tiếng ở Đông Ngô và các học giả khác ở Trung quốc cũng xin vào nghiên cứu cùng đạo tràng .
HỎI: 17 ) -* Diệu Pháp Liên Hoa kinh được dịch như thế nào ?
ĐÁP: Một bộ Diệu Pháp Liên Hoa kinh sáu quyển được dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán tại đạo tràng Giao Châu ( Hà Nội) vào năm 256 đã làm cho đạo tràng này ngày càng thêm sáng chói trên văn đàn Trung Quốc. Kế tiếp có một số Tu Sĩ Việt Nam được mời vào cộng đồng phiên dịch ở Trường An Trung Quốc.
HỎI: 18 ) -* Thời kỳ chữ Nôm Được phát triển như thế nào ?
ĐÁP: Các nhà Sư Việt Nam rất thông chữ Hán. Lòng yêu nước và tinh thần tự chủ đã thúc đẩy họ dùng ký hiệu quốc âm thành chữ Nôm để thoát ly ảnh hưởng văn học Bắc Thuộc.
Nhiều tác phẩm Phật Giáo vừa mới tìm thấy ở trong hang núi miền Bắc có thể coi là sớm nhất trong văn học Quốc Âm (chữ nôm) .
HỎI: 19 ) -* Bộ quốc dịch Diệu Pháp Liên Hoa kinh như thế nào ? ĐÁP: Bộ Quốc dịch Diệu Pháp liên hoa kinh bằng chữ Nôm, hiện còn ở tại Đông Dương Văn Khố Tokyo đã nói nên tinh thần dân tộc, Độc lập,tự chủ, óc sáng tạo, của Thiền Nhân Việt Nam.
HỎI: 20 )-* Chữ quốc ngữ được xuất hiện thời kỳ nào?
ĐAP: Thời kỳ chữ Quốc Ngữ: Sau khi bắt buộc học văn hóa Pháp và dùng lối ký âm la tin vào năm 1937 Cư sĩ Đoàn Trung Còn cũng đã so sánh hai bản dịch của Pháp và chữ Hán mà soạn ra bộ Pháp Hoa bằng tiếng quốc âm.
HỎI: 21 ) -* Mười năm sau như thế nào ?
ĐÁP: Mười năm sau, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh cũng ký âm latin và dịch nghĩa bộ Diệu Pháp Liên Hoa kinh để giúp các nhà tân học dễ việc trì, tụng, nghiên cứu, duy trì Phật Pháp.
Nhìn lại sự nghiệp kể trên, chúng ta thấy dân tộc Việt Nam, đã đóng góp cho sự nghiệp phát huy tư tưởng “Nhất Phật Thừa” không ít và kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã trở thành nguồn sống của dân tộc Việt Nam
HỎI : 22 -* Qua những ý trên ta thấy kinh Pháp Hoa có những ích lợi như thế nào ?
ĐÁP: Qua những ý trên ta thấy nội dung, và tinh thần của Diệu Pháp Liên Hoa kinh rất Thánh diệu, việc thực hành giáo lý cũng Thánh Thiện. Chúng ta sống, đời sống hàng ngày một cách bình thường. Nhưng do hiểu giáo lý của Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tu tập theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa, chúng ta cố gắng tiến tới một trạng thái tâm thức thoát ngoài ảo tưởng khổ đau. Chúng ta cần hiểu rằng con người cần phải sống trong hòa thuận và giúp đỡ lẫn nhau. Nếu ai có cảm nhận được như thế dù chỉ sống trong vài giờ mỗi ngày thì sức khỏe và hoàn cảnh người đó sẽ tự nhiên biến đổi thành tốt hơn. Đây là giải thoát thực sự.
HỎI: 23 ) -* Mong sao diệu Pháp Liên Hoa được trên thế giới đón nhận ?
ĐAP: Mong sao trên thế giới đều có những cảm nhận được như thế và sống hạnh phúc, Đây là lý tưởng và nguyện vọng tối hậu được diễn tả trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Thật vậy: Diệu Pháp Liên Hoa kinh là một giáo lý của sự tôn trọng con người. Của sự tôn trọng toàn thiện và hòa bình. Bình đẳng nhân quyền, tôn trọng lẫn nhau
HỎI: 24 ) -* Giáo lý Diệu Pháp Liên Hoa Kinh làm cho Ta Bà như thế nào ?
ĐÁP: Đây là giáo lý nhân bản, chúng ta tái hiện lại tinh thần của Diệu Pháp Liên Hoa và thiết lập lại một cuộc sống tốt đẹp hơn nhằm cho chúng ta; cho gia đình ta; cho xã hội của chúng ta; và cho toàn thế giới hòa hợp và yêu thương nhau, Xây thành Tịnh Độ ngay ở Ta Bà này.
HỎI: 25 ) -* Ý nghĩa của nhan đề Diệu Pháp Liên Hoa kinh như thế nào ?
ĐÁP: Trước khi bàn về Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Tôi xin bàn vắn tắt về nhan đề của kinh,để biểu thị nội dung , hình thức của kinh. Tôi tin rằng nhan đề này đặc biệt biểu thị ý nghĩa sâu xa của toàn bộ bản gốc của Diệu Pháp Liên Hoa kinh được viết bằng Phạn văn.
HỎI:26 ) -* Nhan đề kinh Pháp Hoa được dịch thế nào? ĐÁP: Nhan đề này được Ngài Cưu Ma La Thập dịch là Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh, chân lý tuyệt đối mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng nghiệm được, trình bày chân lý này gọi là Diệu Pháp do bởi sự sâu xa của Diệu Pháp nhưng đã được nêu trong Vô Lượng Nghĩa. Trước hết đã được biểu thị bằng từ “ thực tướng của tất cả các sự vật”.
HỎI: 27 ) -* Giảng từ Pháp như thế nào ?
ĐÁP: Giảng từ “Pháp” ý thứ nhất là: Tất cả các sự vật hiện hữu trong vũ trụ và tất cả các sự kiện xảy ra trên thế giới này đều là Pháp.
Ý thứ hai nghĩa là: Một chân lý duy nhất thâm nhập vào tất cả các sự vật gọi là Pháp.
Ý thứ ba nghĩa là:quy luật như một nguyên tắc được thiết lập khi chân lý xuất hiện như một hiện tượng, mà chính ta có thể nhìn thấy bằng mắt, nghe bằng tai gọi là Pháp.
Ý Thứ tư nghĩa là: Giáo lý mà chân lý của đức Phật, chân lý biểu thị ý niệm căn bản của bốn ý niệm này được gọi là pháp cũng gọi là đức Phật.
HỎI: 28 ) -* Từ Pháp được tóm tắt như thế nào ?
ĐÁP: Theo đó Pháp điều động vô hình những liên hệ của tất cả các sự vật trong vũ trụ, kể cả con người, cũng là sự điều động của Pháp. Đức Phật, lời dạy, lời giảng về người ta sống như thế nào? Về Đạo Đức trên căn bản của chân lý thương yêu và hòa hợp, làm cho Ta Bà trở thành Tịnh Độ, cũng là pháp cũng là đức Phật.
Pháp và đức Phật là một và như nhau, nói cách khác Đức Phật và mọi chức năng của Đức Phật có thể biểu thị bằng từ “Pháp” vì Pháp có ý nghĩa tối cao, thâm sâu và khó biểu thị nên Pháp được biểu thi thêm bằng tính từ “Diệu” do đó được viết bằng “Diệu Pháp” để nhấn mạnh trọng tâm của chủ ngữ Pháp.
Hỏi: 29 ) -* Vậy từ “Liên Hoa” có những đặc tính gì ?
Đáp: Liên Hoa nghĩa là hoa Sen, hoa này được coi là đẹp nhất trong đời, vì mọc rễ trong bùn đen nhưng lại trổ bông tinh khiết, đẹp và không bị nhiễm bùn. Đây là biểu thức có tính cách ẩn dụ của ý niệm nền tảng của Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Dù rằng con người sống trong thế giới cấu uế này mà có thể sống một cuộc đời
đẹp đẽ, với sự tự do, trọn vẹn của Tâm. Xứng đáng với những câu ca dao:
Trong đầm gì đẹp bằng Sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
HỎI: 30 ) -* Hoa Sen có đặc điểm gì ?
ĐÁP: Hoa Sen là một loại hoa rất đặc biệt, bản chất thanh cao của nó hơn hẳn các loài hoa khác.
Cuộc đời đức Phật từ khi Ngài Đản sanh đến khi Ngài Nhập diệt, luôn luôn gắn liền với hoa Sen, vì vậy hoa Sen biểu thị cho sự giải thoát trong Phật Giáo “ Chín phẩm Sen vàng nên giải thoát”.
Khi Đức Phật Ngài Đản sanh Ngài đi trên hoa Sen bẩy bước.
Khi Đức Phật truyền Pháp cho Ngài Tôn Giả Ka Diếp Ngài cũng cầm hoa Sen. Vì vậy đức Phật luôn luôn tôn trí ngồi trên hoa Sen.
HỎI: 31 ) -* Hoa Sen có đặc tính như thế nào ?
ĐÁP: Hoa Sen ấy cao quý vô cùng, nó từ dưới bùn mọc lên, nhưng không dính mùi bùn. Hoa Sen có hoa mọc trước; có hoa mọc sau; nhưng khi có cơ hội mọc lên, gặp ánh nắng mặt trời tất cả đều nở ra, tỏa mùi thơm ngát như nhau.
HỎI: 32 ) -* Hoa Sen có Đặc tính khác với các loài hoa khác như thế nào ?
ĐÁP: Hoa Sen khác với các loài hoa khác, hoa Sen vừa búp đã có quả, quả mọc trong gương Sen. Hoa Sen to chừng nào, thì quả và gương to chừng ấy, hoa quả đồng thời, Hoa Sen có đặc biệt là ong bướm không đậu, Sâu không ăn, người ta không lấy để trang sức.
HỎI: 33 ) -*Khi đức Phật thành đạo Ngài có suy nghĩ gì ?
ĐÁP: Khi đức Phật mới thành đạo dưới cội Bồ đề, Ngài liền suy nghĩ: “Giáo lý của Ta chứng được quá siêu việt, Siêu lý luận, Siêu ngôn ngữ, thậm thâm vi diệu. Còn chúng sanh ở giữa chợ đời này ham thích ái dục, khoái ái dục, làm sao hiểu được cho thấu.” Cho nên Ngài chần chừ, ngần ngại, chưa muốn thuyết pháp. Hàng Chư Thiên đến thỉnh Ngài thuyết pháp.
HỎI: 34 ) -* Trước khi giảng Pháp Ngài nhìn hồ Sen thấy thế nào ?
ĐÁP: Trước khi giảng Pháp Đức Phật nhìn hồ Sen, thấy hoa Sen mới ngoi ra khỏi bùn mà chưa lên mặt nước. Có thứ ngoi lên mặt nước mà chưa nở. Có thứ hoa Sen đã lên cao đang chờ ánh sáng mặt trời để nở ra tinh khiết.
HỎI: 35 ) -* Đức Phật Ngài nghĩ như thế nào ?
ĐÁP: Đức Phật nghĩ rằng: “ Tất cả chúng sanh ở thế giới này cũng thế, Có hạng căn cơ thấp, có hạng căn cơ vừa, có hạng căn cơ cao, Tất cả căn cơ đó gặp được giáo lý của đức Phật sẽ được giác ngộ, Giải thoát”. Do đó Ngài quyết định chuyển Pháp luân, thuyết pháp độ sanh.
Hoa Sen đặc biệt là Diệu Pháp của Ngài, Diệu Pháp đó là Phật Tính, là tri kiến Phật.
HỎI: 36 ) -*Thấy biết như thế nào là thấy biết của chúng sanh ?
ĐÁP: Việc phải mà thấy trái; Vô thường mà thấy thường; Vô ngã mà thấy ngã; Việc có mà nói là không; Đó là thấy biết của chúng sanh.
HỎI: 37)-Thấy biết như thế nào là thấy biết của Phật ? ĐÁP:Việc có nói là có; việc phải nói là phải; Vô thường nói là vô thường, thấy đúng sự thật. Đó là thấy biết của Đức Phật.
HỎI: 37 )-*Hoa Sen mọc trong bùn có ẩn dụ gì ?
ĐÁP: Phật giáo ví bùn là phiền não của chúng sanh, phiền não làm cho cái biết của Phật bị che lấp không hiện ra được, không mọc lên được. Cũng như bùn khuất lấp hoa Sen, khi nào bùn đó được vạch ra, hoa Sen mọc lên, hoa Sen mọc lên từ bùn, cũng như cái thấy biết của đức Phật mọc nên từ trong tâm phiền não của chúng sanh.
HỎI: 38 ) -* Ngài Thiền Sư Việt Nam đã diễn tả như thế nào ?
ĐÁP: Vì thế thiền Sư Chân Nguyên Việt Nam đã diễn tả:
“ Trần trần sát sát Như Lai
Chúng sanh mỗi người mỗi có hoa Sen
Hoa là bản tánh trạm viên
Bao hàm trời đất dưới trên cùng bằng
Hậu học có biết hay chăng ?
Tâm hoa ứng miệng nói năng mọi lời” .
HỎI: 39 ) -* Ngài giải thích đoạn kệ trên như thế nào ?
ĐÁP: Trần trần sát sát Như Lai nghĩa là cõi phật nhiều vô cùng, vô tận, không ai đếm hết được, thế giới chúng sanh cũng nhiều như thế.
Chúng sanh mỗi người mỗi có Hoa Sen. Mỗi chúng sanh đều có giá trị, không trí , giầu sang, nghèo, khổ,thông minh, ngu đần, thậm chí đến người hung dữ, cũng đều có hoa Sen. Xét cho cùng người nào cũng có một đốm lửa sáng hay là Hoa Sen, còn gọi là Phật Tánh.
HỎI: 40 )-*Ngài Ngộ Ấn Thiền Sư đã nói như thế nào ?
ĐÁP: Ngài Ngộ Ấn Thiền Sư Việt Nam đã nói:
“ Diệu Tánh rỗng không chẳng thể bâu
Rỗng không tâm ngộ có gì đâu ?
Trên non ngọc đốt màu thường đẹp
Sen nở trong lò ướt chưa khô.”
HỎI: 41 ) -* Đoạn kệ trên Ngài nói nghĩa thế nào ?
ĐÁP: Hoa là bản thể trạm viên: Trạm là đứng lặng; Viên là tròn đầy viên mãn. Hoa Sen chúng sanh dù có lặn lội; khi làm trời;làm người; làm xúc sanh ; Ngã quỷ, nói chung là luân hồi trong sáu nẻo. Thông minh,ngu dốt đều có Hoa Sen. Tánh tri kiến Phật vẫn không bao giờ thay đổi, chỉ thay đổi bên ngoài mà thôi.
HỎI: 42 ) -* Bao hàm trời Đất dưới trên cùng bằng nghĩa như thế nào ?
ĐÁP: Bao hàm trời đất dưới trên cùng bằng: Hoa Sen đó viên tịch bình đẳng; không cao ,không thấp, không ngắn không dài,Tất cả đều bình đẳng như nhau. Khi Hoa Sen bị phiền não vùi lấp,thì con người trở nên bé nhỏ.Khi cái ngã trong người nhỏ đi thì Hoa Sen Phật Tánh lớn lên. Đức Phật hoa sen Ngài đã nở trọn vẹn cho nên Đức Phật lớn lắm, dù Ngài đã nhập diệt hơn 2555 năm rồi mà chúng sanh vẫn tưởng niệm đến Ngài. Vẫn thấy Ngài hằng ngày hiện hữu khắp nơi.Đức Phật là bao hàm trời đất dưới trên cùng bằng nên Ngài tuyên bố: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Ngài thị hiện Pháp giới khắp mười phương để độ hết thảy chúng sanh.
HỎI: 43 ) -* Hậu học có biết không chăng nghĩa là gì ?
ĐÁP: Hậu học có biết hay chăng: Ngài Chân Nguyên nói hậu học có biết hay chăng, là chỉ chúng ta có biết không ? là lời nhắc nhủ để chúng ta cảnh tĩnh; dứt bỏ mê lầm, phiền não để tự thấy Hoa Sen trong chính mình là Phật Tánh.
HỎI: 44 ) -* Tâm hoa ứng miệng nói năng mọi lời là ý gì ?
ĐÁP: Tâm Hoa ứng miệng nói năng mọi lời:là ý trong tâm ứng ra miệng đẻ nói cho đúng với cái tâm hoa của mình tức là Hoa Sen. Tâm hoa thì phải thơm, nhẹ nhàng phảng phất, thơm như Hoa Sen. Giáo Pháp của đức Phật cũng có cái đặc sắc, vi diệu như tâm hoa sen là Phật Tánh là tâm hoa tri kiến Phật, đó chính là Diệu Pháp.
HỎI: 45 ) -* Đức Phật lấy hoa sen làm biểu tượng gì ?
ĐÁP: Tất cả Giáo Lý của Đức Phật từ đầu đến cuối đều lấy Hoa Sen làm biểu tượng cho nên đạo Phật còn gọi là đạo Hoa Sen.
-Khi Đức Phật Ngài giáng sanh cũng đi trên Hoa Sen.
-Khi Phật sắp thuyết Pháp cũng nhìn thấy Hoa Sen
-Khi đức Phật truyền pháp cho Ngài Ca Diếp cũng cầm Hoa Sen ở trên hội Linh Sơn.
HỎI: 46 ) -*Đức Phật Ngài dạy như thế nào ?
ĐÁP: Ngài nói rằng: Vô hữu, Chánh Pháp, nhãn tạng ,Niết Bàn,diệu tâm,thật tướng, vô tướng, vi diệu pháp môn, kim phó cho Ma Ha Ca Diếp. Nghĩa là có cái kho tàng mắt tạng con mắt chánh pháp là Niết Bàn Diệu Tâm, thật tướng, vô tướng. Nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp lãnh cái giáo chủ của Đức Phật, để sau này khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Ngài kết tập kinh điển để truyền bá cho đến ngày nay.
HỎI: 47 ) -* Ngài Đường Tam Tạng thấy hoa Sen như thế nào ?
ĐÁP: Ngài Đường Tam Tạng đi ẤN Độ thỉnh kinh, cũng nhìn thấy Hoa Sen . Ngài đi du học cũng nhìn thấy hoa Sen xuất hiện. Đến khi Ngài nhập Niết Bàn cũng nhìn thấy hoa sen xuất hiên ngay trước mặt.
Đức Phật Ngài cho biết: Đời này thấy hoa sen hiện ra như thế nào ? Thì ngày mai ở Tịnh Độ Hoa Sen cũng hiện ra như thế.
HỎI: 48 ) -* Chúng ta thọ, trì, kinh Pháp Hoa lợi ích gì ?
ĐÁP: Chúng ta thọ,Trì, đọc, Tụng, sao chép, diễn nói Diệu Pháp Liên Hoa kinh, cũng chỉ làm sao cho cái Hoa Sen trong Tâm mình ngày càng lớn lên tươi tốt, xuất hiện phô bày tỏa hương thơm ngát cho đời.
Như nàng Tiên Thánh từng nguyện trước Phật Đài:
“Trước đấng Từ Bi nguyện mấy lời
Chẳng sanh đất Phật chẳng lên Trời
Xin làm giọt nước cành dương nhỏ
Sáng rực Đài Sen sạch bụi đời”.
Đây là ý nghĩa của “Liên Hoa”trong “ Diệu Pháp Liên Hoa kinh”
HỎI: 49) -* Xin thầy cho biết thế nào gọi là kinh ?
ĐÁP : “Kinh” Có nghĩa là một sợi dây hay một sợi chỉ đỏ, nữ thanh niên có thói quen trang điểm tóc mình bằng những bông hoa sâu qua sợi dây đỏ.
Đây cũng vậy: Giáo lý Thánh Diệu của Đức Phật được góp nhặc lại thành một tác phẩm gọi là “kinh” .Nói chung nhan đề Diệu Pháp Liên Hoa kinh nghĩa là: Giáo Pháp tối thượng của Đức Phật để dạy chúng sanh có thể sống một cuộc đời đúng đắn, không bị điên đảo, ảo tưởng, trong khi đang sống ở thế giới Ta Bà ác trược này.
HỎI: 50 ) -*Niệm đề Diệu Pháp Liên Hoa kinh được những ích lợi gì ?
ĐÁP: a)- Ngài Nhật Liên Thánh Nhân niệm đề Diệu Pháp Liên Hoa kinh mà trở thành người sáng suốt, những điều Ngài không học cũng thuyết giảng được.
Bọn bà La Môn ghen tỵ tố cáo với nhà vua đến bắt ngài buộc tội không học mà nói bậy, đem ra chém Ngài, Ngài chỉ một lòng niệm:Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Giáo kiếm của người chém gẫy từng đoạn nhà vua không giết được. liền gọi Ngài lên hỏi có phép thuật gì? Ngài Nhật Liên chỉ một lòng tâu: chỉ nhiếp tâm niệm Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Từ đó nhà vua hoảng sợ. Kẻ trực tiếp giết Ngài bỏ kiếm xin làm đệ tử. Ngài bị mang đi đày. Ngài vẫn tiếp tục niệm đề kinh Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Niệm đề kinh thật hiệu nghiệm không lường.
Ngài Nhật Liên Thánh Nhân, nhận ra đúng pháp chân thật. Người ngoài thấy Ngài cũng phát bồ đề tâm, nghe Ngài thuyết giảng kinh mọi người thấy thanh tịnh vui mừng, tâm muốn được đọc, tụng, thọ, trì Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
Hòa Thượng ThíchTríQuảng.
HỎI: 51 ) -* Trường hợp thứ nhất cũng ở Nhật bản như thế nào ?
ĐÁP: Trường hợp điển hình ở Nhật Bản có ông Ikeda sử dụng được công đức này. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ được Ngài Nhật Đạt Thượng nhận dạy ông niệm đề kinh. Bất thần ông mất tiếng gọng, trở thành một pháp sư nói giỏi hơn thầy. Nhờ niệm đề “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”. Ông thông hiểu được tất cả các pháp. Nương thần lực kinh mà ông tự động giảng được những phẩm mà ông chưa từng đọc.
Hòa Thượng Thích Trí Quảng
HỎI:52) -* trường hợp thư hai cũng ở Nhật bản như thế nảo?
ĐÁP: ) -* trường hợp thứ hai cũng ở Nhật Bản có vợ chồng ông OkaNo làm nghề chữa ra -đi –ô tầm thường, hai vợ chồng ông
Đã nhất tâm niệm đề : “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa kinh”. Cuộc đời của ông bà hoàn toàn đổi mới. Trở thành hai pháp sư nổi tiếng nhạo thuyết biện tài đắc Đà La Ni trở thành hai Hòa Thượng. Ai đến với ông bà cũng được bình an vui mừng. Cuộc đời trở nên khá hơn, tinh thần cao thượng. Hòa Thương Thích Trí Quảng.
HỎI: 53 ) -* Hiện nay ở Nhật Bản Môn niệm đề kinh như thế nào ?
ĐÁP: Hiện nay các chùa ở Nhật Bản pháp môn niệm đề “Diệu Pháp Liên Hoa kinh”. Vẫn được thịnh hành đến ngày nay. Là nguồn sống tinh thần của nhân dân Nhật Bản.
Môn niệm đề Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thật hiệu nghiệm không lường.
Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
Hòa Thượng Thích Trí Quảng.
HỎI:54 ) -*Lược văn kinh như thế nao ?
ĐÁP: Văn Kinh này gắn gọn, xúc tích, nhiều nghĩa không lược gắn lại được.
VĂN KINH:
HỎI:55 ) -*Lược Văn kinh như thế nào ?
Ta nghe như vầy, Một lúc nọ Đức Phật ở núi Kỳ Xà Quật(1))
Tại thành Vương Xá với một muôn hai ngàn vị đại Tỳ Kheo(2) Tám muôn vị đại Bồ Tát(3) các hàng Thiên(4) Long(5), Dạ xoa(6), Càn Thát Bà(7)A tu la(8) Ca lầu la(9) Khẩn na la(10) Ma hầu la dà(11) Các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu bà tắc(12 Ưu bà di(13) Vua đại chuyển luân14) Vua tiểu chuyển luân, Vua Ngân luân, và các vị luân vương khác, Lại có các vị Quốc Vương(15) Vương tử,(16) Quốc thần(17)Quốc dân(18)Quốc sĩ(19)Quốc nữ(20)Quốc đại trưởng giả(21)
HỎI: 55)-* Cùng với nhân dân đến chỗ Phật như thế nào? ĐÁP: Cùng với bà con xung quanh số đến trăm ngàn muôn đồng đến trước đức Phật cúi đầu làm lễ, quanh theo mình Phật trăm ngàn vòng, đốt hương, rải hoa, cúng dường các thứ, cúng dường xong đều lui về một phía.
HỎI: 56 )-Trong pháp hội các Đại Bồ Tát như thế nào ?
ĐÁP:Trong pháp hội(22) Có các vị đại Bồ Tát như: Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử, Đại Oai Đức Tạng pháp vương tử, Vô Ưu Tạng Pháp vương tử, Đại Biện Tạng Pháp vương tử, Di Lặc Bồ Tát. Đạo Thủ Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Tự Tại Vương Bồ Tát.Quan Thế Âm Bồ Tát.Đại Thế Chí Bồ Tát. Thường Tinh Tấn Bồ Tát. Bửu Ấn Thủ Bồ Tát. Bửu Tích Bồ Tát. Bửu Trượng Bồ Tát. Việt Tam Giới Bồ Tát. Tỳ Ma Đạt la Bồ Tát. Hương Tượng Bồ Tát. Đại Hương Tượng Bồ Tát. Sư Tử Hẩu Vương Bồ Tát. Sư Tử Du Hí Thế Bồ Tát. Sư Tử Phấn chấn Bồ Tát.Sư Tử Oai Mảnh Phục Bồ Tát. Trang Nghiêm Vương Bồ Tát. Đại trang Nghiêm Vương Bồ Tát. Kể chung tám muôn vạn Bồ Tát. Các vị Bồ Tát này đều là pháp thân đại sĩ(23) Đã chứng đặng năm phần pháp thân: Giới(24 Định(25 Huệ(26) Giải thoát(27) Giải thóat tri kiến(28).
HỎI: 57 ) -* Tâm các vị đó như thế nào ?
ĐÁP: Tâm thường thiền tịch(29) trụ trong chánh định(30), an ổn lặng lẽ, Không còn lẫn lộn, những việc tạo tác, dục vọng, loạn tưởng điên đảo. Chí mầu mênh mang tịch mịch, vắng lặng trong suốt, trì chí vững chắc, trải qua trăm ngàn kiếp, cũng không lay chuyển.
HỎI: 58 ) -* Các Pháp môn hiện ra như thế nào ?
ĐÁP:Các môn vô lượng, đều hiện ra trước mắt, đặng đại trí huệ(31), thông suốt các pháp,hiểu biết rành rẽ, tánh tướng(32) của nó, xưa nay chân thật, không còn những hình tướng hiện ra bên ngoài như:dài ngắn v..v..
Lại biết được tánh dục của chúng sanh không giống nhau, nên dùng pháp Đà la Ni(33) Vô ngại biện tài(34) mà xưa kia đức Phật dùng để chuyển pháp luân, nay cũng theo pháp ấy mà chuyển pháp luân.(35)
HỎI:59 ) -* Trước hết đức Phật làm gì ?
ĐÁP: Trước hết rưới cho chúng sanh vài giọt nước pháp, gội bớt những bụi bặm tham dục, nhơ nhớp, mới mở cửa Niết Bàn(3), quạt ngọn gió giải thoát thổi lồng lên, xa gần đặng thấy mát mẻ, đuổi tan không khí nóng nảy bội bực.
Lần lần nói nghĩa lý sâu xa của Pháp thập nhị nhân duyên(37) dụng rưới tắt ngọn lửa vô minh(38) lão, bênh, tử v.v.. Đang bừng cháy dữ dội, như ánh nắng mặt trời gom lại một chỗ.
HỎI: 60 ) -* Tiếp theo Đức Phật dùng Phương Tiện gì ?
ĐÁP: Tiếp theo tuôn xối mưa Pháp Vô thượng Đại Thừa(39), thấm nhuần các chúng sanh(40), căn lành đầy đủ. Đem những hạt giống lành gieo khắp trong ruộng công đức, làm cho hết thảy chúng sanh nứt mầm bồ Đề(41),,Trí huệ như ánh sáng vầng nhật nguyệt, phương tiện(42)như thời tiết bốn mùa xăn sóc bồi đắp sự nghiệp Đại Thừa tăng trưởng, làm cho chúng sanh mau thành đạo vô thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác(43).
HỎI: 61 )-* Các Ngài dùng lòng Đại Bi như thế nào? ĐÁP: Các Ngài thường an trụ trong chỗ khoái lạc, nhiệm mầu, lòng đại bi không có hạn lượng lo cứu khổ chúng sanh, các Ngài là ông thiện tri thức(44) chân chánh của chúng sanh, là ruộng phước tốt của chúng sanh, là ông thầy cứu độ chúng sanh, không mời mà vẫn đến, chỗ cứu giúp, chỗ ủng hộ,chỗ nương ngụ vững bền, chỗ an ổn vui vẻ của hết thảy chúng sanh, không luận nơi nào, đều vì chúng sanh làm vị Đại nương điệu.(45).
HỎI: 62 ) -*Các vị Điệu Sư như thế nào ?
DÁP: Vị Điệu sư, Đại Điệu sư hay vì những chúng sanh mắt đui, tai điếc, mũi sứt, miệng câm, mà giúp cho đều đặng mắt thấy,tai nghe, mũi ngửi, miệng nói, các căn hư sứt què giúp cho đầy đủ, Điên cuồng, mê loạn giúp cho chánh niệm vững chắc. Vị Thuyền sư,đại thuyền sư, chở chuyên chúng sanh qua dòng sông sanh tử đến bờ Niết Bàn.
HỎI: 63 ) -* Vị Y Vương như thế nào ?
ĐÁP: Vị y Vương, đại y vương, phân biệt chứng bệnh, hiểu rành tánh thuốc, bệnh nào thuốc nấy,giúp cho người bệnh tin chắc sự công hiệu của thuốc, vui mừng uống vào không chút nghi ngại.
Vị Điều ngự, đại điều ngự luyện tập chúng sanh tính thuần hòa, không còn các hạnh lung lăng tán loạn, như người lài luyện tập voi ngựa, dầu con nào khó tánh cũng đều luyện tập được hết. như con sư tử oai lực dõng mãnh các loài thú đều ép phục không giám chống cự.
HỎI: 64 ) -* Các vị Bồ Tát thực hành sáu Ba La Mật thế nào ?
ĐÁP: Các vị Bồ Tát dạo chơi Sáu Pháp Ba La mật(49), quyết định đi cho đến địa vị của Như Lai, bền vững không nao núng, an trụ vào nguyện lực, tịnh Phật Quốc Độ(50), không bao lâu, sẽ đặng thành đạo vô Thượng Chánh đẳng Chánh Giác. Các vị đại Bồ tát này, đều có công đức nói trên, khó nghĩ bàn được.
HỎI: 65 ) -* Các vị Tỳ Kheo như thế nào ?
ĐÁP: Lại có những vị Tỳ Kheo như là: Đại Trí Xá Lợi Phất, thần thông Mục Kiền Liên, huệ mạng Tu Bồ Đề, Ma Ha Ca Chiên Diên, Di La Đa Ni tử, Phú Lâu Na, A Nhã Kiều Trần Như v. v…Thiên Nhãn A Na Luật, trì luật Ưu Ba Ly, Thị Giả A Nan, Phật tử Na Vân, Ưu Ba Nan Đà, Ly Bà Đa, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Châu Đà, Dầu Đà Dại Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Dà Đa Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp v..v…
HỎI: 66 ) -* Các vị Tỳ Kheo trên đây như thế nào ?
ĐÁP: Các vị tỳ kheo trên đây, kể ra một muôn hai ngàn, đều là bậc A La Hán, trừ sạch kiết lậu(51) không còn bị cột trói trong vòng ba cõi. Đặng giải thoát Chơn Chánh.
Khi bấy giờ Đại Trang nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát, khắp theo đại chúng trong pháp hội, Đâu đó ngồi yên,Tâm ý ổn định.
HỎI:67 ) -* Các vị Bồ Tát cùng Đại chúng như thế nào ĐÁP: Mới cùng trong đại chúng,Tám muôn vị đại Bồ Tát, từ chỗ ngồi đứng dậy, đồng đến trước đức Phật, cúi đầu làm lễ, quanh theo mình Phật, trăm ngàn vòng đốt hương rải hoa liền đó các thứ: Thiên hoa(52), thiên hương(53). Thiên y(54)Thiên Anh Lạc(55) Thiên vô Gía Bửu(56), từ trên hư không, lần lần rơi xuống bốn phía gom lại cúng dường đức Phật.
HỎI:68 )-* Các đồ như thế nào ?
ĐÁP: Đồ Thiên trù(54), Thiên bát khí(55),Thiên bá Vị(56),đầy dãy dư dật, các thức ăn,các vật quý này, ngửi được mùi thơm, thấy được hình sắc đủ làm cho người no. Thiên tràng(60). Thiên Phan(61). Thiên hiên Các(62) Thiên diệu Nhạc(63), Sắp đặt thứ lớp, trong ngoài rực rỡ, Nhạc trời trổi vang lên, làm vui đẹp Đức Phật. Tám muôn vị đại Bồ Tát đều đến trước đức Phật, một lòng quỳ gối chắp tay, đồng cất tiếng một lượt đọc bài kệ khen ngợi đức Phật như vầy:
HỎI: 69 ) – Các vị Bồ Tát đọc bài kệ như thế nào ?
ĐÁP:“ Lớn lao thay Pháp Vương(64) tôn quý
Không nhiễm nhơ, lụy hệ triền miên
Làm thầy đều ngự nhơn Thiên
Phất gió đạo đức khắp miền thơm tho
Trí(65),Tình(66)Lự(67)như tro nguội tắt
Ý thức(68)tâm đều bạt lặng trang
Tư tưởng vọng niệm tiêu tan
Đại(69), nhập(70)ấm(71)Giới(72)rõ ràng cũng không
Có với không, thân không dấp dính
Không nhân duyên , không chấp tự tha
Vuông, tròn, dài, ngắn, lìa xa,
Cũng không sanh diệt vào ra làm gì ?
Không tạo tác, có chi sanh khởi
Không đứng , đi, lại với nằm ngồi
Nhà tịnh động, chuyển đẹp rồi
An nguy lui tới cũng thôi nào hòng
Việc phải quấy mất còn chẳng sá
Điều lại qua bỉ ngã cũng không,
Không xanh, vàng, trắng, đỏ, hồng,
Màu màu, sắc sắc, đều không đâu còn,
Giới, Định, Huệ, năm phần hiển hiện
Đao(73), Minh(74),Thông(75),Tiến triển phát sanh
Thập lục(76) Vô úy(77)Từ bi.
Chúng sanh duyên đủ nhân đầy ứng ra
Hiện tượng sáu sắc vàng rực rỡ,
Hình nghiêm trang sáng suốt huy hoàng
Bạch hào tướng(78) hạnh nhựt quang(79)
Tóc doanh nhục kế(80) láng sanh một mầu
Mắt như gương sáng làu làu lấp loáng
Mày, sạm đen, miệng lại đẹp vuông
Lưỡi môi như trái chín hường
Răng đủ bốn chục, tráng đường tuyết phau.
Mặt tròn trịa, mũi cao, trán rộng
Ngực nổi hình chữ Vạn(81) Sư vương
Tay chân ngàn xoáy mịn màng
Nách, tay, niềm lạc nắm trong nắm ngoài
Ngón búp măng tròn dài thẳng vót,
Cổ tay tròn cánh chỏ đuột đà,
Da thía mêm mại nõn nà
Mày lông xanh dợn xoay ra thuận chiều
Xương mắt cá, vun đầy lấp bít
Âm mã tàng(82), ẩn kín bên trong
Khớp xương gân nhỏ bọc vòng
Trái bụng cân đối như hình lộc dương
Thân trong ngoài như gương sáng suốt,
Dầu nước trong bụi nhớp không phai
Các tướng đầy đủ băm hai
Tám mươi sắc tốt in bày hiện ra
Xem kỹ lại thật là Vô tướng
Tránh xa lìa hữu tướng phát sanh
Từ không sanh có thân hình
Giống như thân tướng chúng sanh một mầu
Khiến người người bái chào hoan hỷ
Biểu lòng thành cung kỉnh siêng năng
Dẹp trừ ngã mạn kiêu căng
Chúng sanh cũng đặng sắc thân tốt màu
Trong hội này cùng nhau tám vạn
Đều cúi đầu, quy mạng(84) Thế Tôn (85)
Tâm ý diệt tư tưởng vong,
Đều ngự trương mã(86)mà không khoe tài.
Quy y(87) Pháp sắc thân Đức Phật
Năm phần hương giới định thường sanh
Quy y theo tướng tốt màu
Cúi đầu theo vị, cao sâu không lường
Tiếng vang dội phô trương tám giọng(88).
Nhiệm mầu cùng sâu rộng u huyền,
Tứ đế(89) Lục Độ(90)nhân duyên
Thuận theo tâm nghiệp dạy khuyên các loài.
Người nghe đến lòng khai ý mở,
Dứt tử sanh, cởi mở buộc ràng,
Hoặc chứng Quả Tu đà hoàn(91),
Hoặc quả La Hán(92) Tư Dà(93) A Na(94)
Hoặc Bồ Tát ấy là vô diệt95)
Duyên giác Thừa hẵn thiệt vô vi(96).
Hoặc vô lượng Đà la ni
Biện tài vô ngại trong khi luận bàn
Diễn kệ báu mở mang lý đạo
Dòng pháp kia tắm mát thảnh thơi
Hoặc hiện thần túc(97) bay chơi
Ra vào nước lửa, thảnh thơi an nhàn
Đây là tướng pháp luân như vậy,
Khó nghĩ bàn trong sạch không ngằn
Chúng tôi ép phục kiền thiềng
Nương theo xe pháp phô tuyên hộ bày
Nương theo tiếng Phạn âm(98) vang dội
Cùng nương theo Đế, Độ, Nhân duyên
Thế Tôn nhiều kiếp vô biên,
Tu tập đức hạnh, cầu chuyên nhọc nhằn
Vì chúng ta, Trời ,Thần, Quỷ
Và mọi loài cả thảy chúng sanh
Hay bỏ những việc khó khăn,
Vợ, con, của báu, nước, thành, giang san.
Dầu thân mạng, bạc, vàng ,không chấp.
Đầu, mắt, tai, tỷ, óc ,cho liền,
Giữ gìn giới luật tinh chuyên,
Dầu mất tánh mạng, giữ nguyên vẹn toàn.
Đem dao, gậy, chực toan đánh, đập,
Chửi rủa cùng mắng nhiếc chẳng sân
Khổ thân nhiều kiếp không cần
Ngày đêm Thiền định(99) Lo phần nhiếp tâm
Học các Pháp thậm thâm vi diệu
Trí huệ sâu hiểu thấu chúng sanh
Nên đặng năng lực tự mình
Các pháp tự tại làm vì pháp vương
Chúng con đồng tán dương lễ bái
Dồng cúi đầu quỳ lạy quy y
Các pháp thật khó nghĩ nghì
Nương về theo vị Từ Bi tinh cần.
HỎI:70 )-*Sao lại gọi là Kỳ Xà Quật ?
ĐÁP:Còn dịch là núi Linh Thứu, Đỉnh núi giống hình con chim Thứu thường hay tụ tập, vì vậy nên đặt tên là Linh Thứu. núi ấy nằm ở phía Đông Bắc của thành Vương Xá trong dãy núi Ma Kiệt Đà Trung Ấn Độ, là chỗ Đức Phật thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa
HỎI 72 )- * Thế nào gọi là đại tỳ Kheo ?
ĐÁP: Những vị Tỳ Kheo đức cao tuổi lớn, Tỳ Kheo gồm 3 nghĩa: 1)-Khất sĩ, các thầy đi khất thực cầu Pháp 2)- Bố Ma: làm cho tà ma sợ hãi 3)- *Phá Ác: dẹp trừ tội ác ,phiền não. Của chúng sanh.
HỎI : 73)-* Thế nào gọi là Bồ Tát?
ĐÁP: Có thể chia làm hai bậc: Đại và Tiểu. Bồ tát mới phát tâm là tiểu. Bồ Tát thâm hạnh là đại. Bồ Tát còn gọi là bồ Đề Tát đỏa là bậc tự mình giác ngộ lại hay giác ngộ cho chúng sanh, Cứu giúp người nghèo khổ. Không tự cao tự đại, thấy người đến cầu pháp tận tình giúp đỡ, không chửi mắng xua đuổi, làm cho người đến học nhụt chí không phát triển được Phật Tánh.Pháp của Bồ Tát dễ thực hiện sát với quần chúng, không gò bó cứng nhắc như pháp Thanh Văn.
HỎI:74)-* Thế nào gọi là Thiên Chúng ?
ĐÁP: Nghĩa là chúng Trời, sáu tầng trời gọi là dục giới. Bốn tầng từ sơ Thiền đến Tứ Thiền ở sắc giới. Bốn tầng trời không xứ ở Vô sắc giới. Những vị Trời này thân hình sáng chói, sáng rực rỡ nên gọi là Trời.Lại có quả báo tốt đẹp nên gọi là trời, Khi Phật thuyết Pháp những vị trời này thường hay đến nghe pháp nên gọi là Thiên Chúng.
HỎI: 75 ) -* Thế nào gọi là Càn Thát Bà ?
ĐÁP: Càn Thát Bà dịch là tầm hương. Giống thần này hay đi tìm kiến mùi thơm làm món ăn uống, là vị nhạc thần của Trời Đế Thích.
HỎI: 76 )-* Thế nào gọi là A Tu La ?
Đáp: A Tu La có ba nghĩa: Phi Thiên; Vô đoan Chánh, Vô Tửu. Quả báo gần giống như các vị Trời. Mà thân hình không giống trời, nên gọi là Phi Thiên. Dung mạo xấu xa nên gọi là đoan chánh.
Quả báo của vị thần này có cái đẹp là không uống rượu nên gọi là Vô Tửu. Những vị này thường bay đi tìm Trời Đế Thích để chiến đấu
HỎI : 77 )-* Thế nào gọi là Ca Lâu La ?
ĐÁP: Ca Lâu La là chim xí điểu Cánh vàng thường bay đi bắt rồng con ăn thịt
HỎI: 78)- Thế nào gọi là khẩn na la ?
ĐÁP: khẩn na la còn dịch là Phi Nhơn, hình dáng giống người mà trên đầu mọc sừng nên gọi là Phi Nhơn, là nhạc thần của Trời Đế Thích, có hai thứ nhạc Trời :Càn Tát Bà và Thần Phi Nhơn tấu nên hai nhạc hòa lẫn nhau gọi là Pháp nhạc
HỎI: 79 )- *Thế nào gọi là Ma Hầu La Dà ?
ĐÁP: Ma Hầu La dà còn gọi Mãng Sà Thần, là thần Mãng Sà lớn, có tám bộ chúng mắt người không nhìn thấy, Thần này trước kia ở trên núi Phổ Đà
HỎI: 80)- *Thế nào gọi là Pháp Thân đại Sĩ ?
ĐÁP:Pháp Thân Đại Sĩ còn gọi là Pháp thân Bồ Tát. Vị Bồ Tát này đã trừ được mọi phần vô minh, đã hiện ra hình tướng tốt đẹp, hiện ra mọi phần Pháp Tánh, từ bậc sơ địa đến Thập địa.
HỎI: 81 ) -* Vua đại chuyển luân là thế nào ?
ĐÁP: Vua đại chuyển Luân, là Ngài Đại nhựt Như Lai biến hóa mười hai cánh tay hào quang sáng ngời.
HỎI: 82 ) -* Giới pháp Thân là như thế nào ?
ĐÁP: Giới là ba nghiệp, Thân, Khẩu, Ý, của Đức Như Lai Xa lìa được tất cả mọi tội lỗi nên gọi là giới Pháp Thân.
HỎI: 83)- * Thế nào được gọi là Định ?
ĐÁP:Định có nghĩa là Chân Tâm của Đức Như Lai vắng lặng, xa lìa tất cả vọng niệm, hoặc còn gọi là Chân Tâm rỗng không, nên thường gọi là Định Pháp Thân .
HỎI: 84)-* Thế nào được gọi là Huệ ?.
ĐÁP: Huệ được gọi là Chân trí của Như Lai sáng suốt hoàn toàn, đầy đủ, quan sát rõ thấu Pháp Tánh nên được gọi là huệ Pháp Thân. Còn có nghĩa nữa là mạng sống dài lâu.
HỎI: 85) -* Thế nào được gọi là giải thoát ?
ĐÁP: Giải thoát nghĩa là Thân Tâm của Đức Như Lai cởi mở hết sự ràng buộc. hành giả Pháp Hoa cũng Phải tu tập được như Thân Tâm của Như Lai, nên gọi là giải thoát Pháp Thân.
HỎI: 86)- * Thế nào được gọi là giải thoát tri kiến ?
ĐÁP:Phật Tử tu tập lâu dài, thân tâm cởi mở được hết sự ràng buộc của thế gian, không nghĩ gì đến năm dục, lúc nào cũng hướng tâm về Như Lai, biết chắc chắn được nên gọi là giải thoát tri kiến. Còn gọi là Hậu Đắc Trí, Năm phần này đều theo thứ lớp mà sinh khởi. thí dụ như: Giới sanh Định, Định sanh Huệ, Huệ sanh đặng giải thoát, nhờ giải thoát mà giải thoát tri kiến. ba phần trên gọi là nhân. Hai phần sau thuộc về quả: Đức Phật nhờ năm phần công đức này mà thành Phật, nên gọi là năm phần Pháp Thân, được gọi là Giải thoát tri kiến.Chứng đạo Bồ Đề. Hay Chánh Đẳng Chánh Giác.
HỎI: 87) – Thế nào gọi là Thiền tịch ?
ĐÁP: Thiền chữ Phạn dịch là Tịnh lự, Nghĩa là Tâm lúc nào cũng ở chỗ vắng lặng, để tưởng tượng lại những việc đã làm và những việc mình chưa làm hay luôn luôn nghĩ đến giáo Pháp của Đức Phật.
HỎI: 88) -*Thế nào được gọi là đại trí huệ?
ĐÁP: Trí có nghĩa là quyết đoán; Huệ có nghĩa là chọn lựa, hiểu biết các Pháp tục, (tức là pháp thế gian). Còn gọi là pháp Chân đế (pháp xuất thế gian) gọi là vô sắc giới được gọi là huệ. Vì thế nên gọi là Đại trí Huệ
HỎI: 99) - * thế nào gọi là Tánh Tướng ?
ĐÁP: Tánh là tự thể của Pháp, ở bên trong không rời đổi. Tướng là mạo hiện ra bên Ngoài, phân biệt được. Tương đối là hữu vi hay Vô vi; Vô vi là Tánh; Hữu vi là tướng. hữu vi hay vô vi đều là Tánh Tướng cả, cụ thể gọi là tánh; thấy biết hiện ra bên ngoài như dài, ngắn, béo, gầy,đi, đứng, nằm, ngồi gọi là tướng.
HỎI: 100) -* Thế nào lại gọi là Đà la Ni ?
ĐÁP: Đà La Ni dịch là tổng trì, tác trì, có lực dụng giữ gìn các Pháp lành không cho tan mất. Giữ các pháp dữ không cho sanh khởi.Phát triển các Pháp lành cho luôn luôn tăng trưởng đến chứng Chánh Đẳng Chánh Giác.
HỎI: 101) - * thế nào lại gọi là chuyển Pháp luân ?
ĐÁP: Giáo Pháp của đức Phật
gọi là Pháp luân. Giảng nói giáo pháp gọi là chuyển Pháp luân. Chữ Luân là bánh xe báu của vị Chuyển Luân Thánh Vương có hai nghĩa là : Lăn tròn và Cán Nát. Lăn tròn khắp bốn Châu thiên Hạ, Cán nát những oán dịch (người phạm tội ngỗ nghịch).
Giáo Pháp của Đức Phật cũng lăn tròn vào tất cả chúng sanh giới, diệt trừ những phiền não. Tham, sân, si. Nghi , ác, kiến, chuyển giáo pháp trong Tâm chúng sanh trở thành những người hiền lành biết quy y Tam Bảo.
HỎI: 102) - * Sao lại gọi là Niết Bàn ?
Đáp: Niết Bàn dịch là diệt độ, nghĩa là diệt trừ các nhân quả sanh tử. vượt khỏi dòng sanh tử lôi cuốn, nên gọi là Niết Bàn.
HỎI: 103) - * Thế nào gọi là Thập Nhị Nhân Duyên ?
ĐÁP: Thập nhị là 12 Nhân duyên đắp đổi làm nhân duyên với nhau mà khéo dắt chúng sanh vào trong ba cõi sáu đường: 1) Vô minh, 2) hành, 3) Thức, 4)danh sắc, 5)Lục, 6)Xúc, 7) Thọ, 8) Ái, 9) Thủ, 10) Hữu, 11)sanh, 12 lão tử đây là thập nhị Nhân duyên.
HỎI: 104) - *Thế nào gọi là Vô minh ?
ĐÁP: Vô minh là cái tâm mờ tối, không có trí sáng làm những việc ác, không có trí tuệ để soi rõ sự lý các Pháp, vô minh cũng là Si.
HỎI: 105) – thế nào gọi là Vô thượng đại thừa ?
ĐÁP: Những người có trí tuệ sáng suốt hiểu rõ giáo lý của đức Phật, phát sanh nhiều công đức, làm nhiều đều lành, lúc nào cũng nghĩ lợi tha hơn tự lợi, lời khen ngợi giáo pháp cao tột vượt khỏi bậc Nhị thừa (Thanh Văn).
HỎI: 106) – Những ai được gọi là chúng sanh ?
ĐÁP: Chúng sanh có ba nghĩa: 1) kiếp ban sơ những người trên trời hết phước đức phải xuống thế gian làm người, những người trời ấy đồng nhau, sanh ra nam nữ, không phân biệt sang hèn, cao thấp nên gọi là chúng sanh.
2)Nương theo năm ấm: Sắc, thọ, tưởng, hình, thức hòa hợp mà sinh ra chúng sanh.3) trải qua nhiều phen sống chết nên gọi là chúng sanh. Bởi có sanh thì phải có tử, có tử thì phải có sanh nên gọi là chúng sanh
HỎI: 107) thế nào được gọi là phương tiện?
ĐÁP: Phương tiện là phương pháp,Tiện là tiện dụng, Phương là đem ra dùng thuận lợi thích hợp với căn cơ của mỗi chúng sanh, phù hợp với từng chỗ, hợp với thời gian hoàn cảnh, nên gọi là phương tiện, Ở mỗi chỗ, mỗi nơi, có khác nhau. Không Phải chỗ nào cũng dùng một phương tiện đó được.
HỎI: 108) – Thế nào gọi là thiện tri thức ?
Đáp: Trong kinh Pháp Hoa, văn cú quyển thứ tư có nói, nghe được danh hiệu gọi là tri, thấy hình tướng gọị là thức, người này giúp cho ta được lợi ích về Đạo Bồ Đề, nên gọi là thiện tri thức.
HỎI: 109) Đại lương điệu là gì ?
ĐÁP: Đại lương điệu là người dẫn dắt đến con đường lành, Đức Phật và các vị Bồ Tát thường hay xưng là Điệu Sư, trong kinh báo ân có nói. Vị đại điệu sư hay dẫn dắt chúng sanh đi đến đường Niết Bàn, đặng các pháp vô vi, vô lạc v..v..
HỎI: 110) – thế nào được gọi là điều ngự đại điều ngự ?
ĐÁP: Người dạy các thú vật giỏi hơn người khác, điều ngự là điều phục, ngự là trị. Trị hết thảy chúng sanh tánh tình hung hăng dữ tợn, cũng như voi điên, ngựa chứơng, Đức Phật cũng như người nài luyện tập sửa trị cho mọi người đều hằng phục, nên gọi là đại điều ngự.
HỎI: 111 ) - * Thế nào được gọi là sáu Ba La Mật ?
ĐÁP: Sáu Ba La Mật là 1) –Bố thí ,2) – trì giới, 3) Nhẫn nhục, 4) – Tinh tấn ,5) Thiền Định, 6)- trí huệ,
Ba la Mật được dịch ra ba nghĩa: 1) – Cứu cánh, 2) – Đáo bỉ ngạn, 3) – Độ vô cực. Danh từ Ba La Mật này, là do đại hạnh của các vị Bồ tát mà đặt tên. Đại hạnh của các vị Bồ Tát này chính mình đã thực hành rồi giáo hóa các người khác đều đến chỗ rốt ráo nên được gọi là Cứu cánh. Nương theo đại hạnh này nên được từ bờ sanh tử bên này được sang bờ Niết Bàn bên kia nên gọi là đáo bỉ ngạn. Nhờ đại hạnh này mà được các Pháp hóa độ rộng rãi. Sâu xa, không bờ bến nên gọi là Độ Vô Cực.
HỎI: 112) – Thế nào được gọi là Tịnh Phật Quốc Độ ?
ĐÁP: Phật Quốc Độ là quốc độ của Chư vị Bồ Tát cảm ứng sau khi thành Phật. Muốn quốc Độ mình được an trụ sau này được an tịnh, trước hết tâm của mình được an tịnh, Tâm của mình được an tịnh rồi thì quốc độ cũng được thanh tịnh được gọi là “Tịnh Phật Quốc”.
HỎI: 113)-*thế nào gọi là thành tựu chúng sanh?
ĐÁP: Thành tựu chúng sanh: Bồ tát cảm ứng Phật Độ, Do sự cảm Hóa chúng sanh thanh tịnh hay ô uế. Giáo hóa chúng sanh thanh tịnh thời quốc độ được thanh tịnh. Giáo hóa chúng sanh ô uế thì quốc độ cũng ô uế. Vị Bồ Tát mướn mau thành thanh tịnh Phật Quốc được trang nghiêm, nên ngày nay phải cần giáo hóa chúng sanh, chúng sanh nhờ sự giáo hóa ấy mà thân đặng thanh tịnh. Nghiệp lành thanh tịnh nên đời sau được vãng sanh về Phật Quốc Độ. Năng hóa là Phật, Sở hóa là chúng sanh, Y báo là vật dụng, chánh báo là thân hình. Nhân đó mà phải giáo hóa chúng sanh nên gọi là “ Thành Tựu Chúng sanh”
HỎI: 114)- tại sao lại gọi là Kết Lậu ?
ĐÁP: hai tên khác nhau mà cũng gọi là phiền não, phiền não cột trói thân tâm gọi là Kiết. Phiền não từ sáu căn: Mắt, Tai, mũi, Lưỡi , Thân, Ý ngày đêm luôn luôn tuôn chảy gọi là Lậu vậy kiết Lậu cũng là phiền não.
HỎI: 115 )- Thiên Y là cái gì ?
ĐÁP: Thiên y là áo mặc của người cõi trời, nhẹ nhàng, mỏng mảnh, áo của người trời Tịnh Cư nặng ba thù. Áo của người trời Đao Lợi nặng sáu thù. Áo của người trời Tứ Thiên Vương nặng hai lượng. ( một thù là 12 phân, Một phân nặng bằng 12 hạt lúa, mỗi lượng là 10 phân).
HỎI: 116 -Thế nào được gọi là giới ?
ĐÁP: có 18 Giới: Sáu căn: Nhãn, nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, ý,
Sáu trần: Sắc , Thanh , Hương, Vị, xúc, Pháp.
Sáu thức: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức. Tổng cộng lại là 18 giới.
HỎI: 117 ) -* Thế nào được gọi là Tam Minh ?
Đáp: 1)- Túc mạng minh; biết được những việc sống chết của mình và của người khác về đời trước.
2)- Thiên nhãn minh: biết được sự sống chết về đời sau của mình và của người khác.
3 – Lậu tận minh nghĩa là: biết được những khổ hiện tại của mình và của người khác biết dùng trí tuệ trừ sạch các phiền não.
HỎI: 118 ) – Thế nào được gọi là Lục Thông ?
ĐÁP: Lục Thông là: 1) – Thiên nhãn thông: Con mắt nhìn thấy xa đến cả đại Thiên Thế Giới, những vật nhỏ như vi trùng, những vật có chất cản trở đều thấy được hết, thấy rõ các chúng sanh nhiều kiếp lâu xa, chết ở cõi nào ; sanh về cõi nào, đều thấy rõ rệt, không sai lầm.
HỎI:119 )-*Thiên nhĩ thông là thế nào?
ĐÁP: Thiên nhĩ thông: Lỗ tai nghe xa đến cả thế giới, những tiếng rung động hết sức nhỏ. Những tiếng nói của các loài đều nghe được hết
-3)- Tam Tâm Thông: hiểu biết được tâm niệm, tư tưởng của người khác, đến với mình lành, hay dữ đều biết được.
HỎI: 120 ) -*Túc mạng thông,Thần Thông;Lục tận thông là thế nào?
ĐÁP: – Túc mạng thông: Biết rõ được kiếp trước của mình và của người khác
-5)- Thần túc thông: Chính mình đắc được các pháp thần thông, biến hiện được tự tại, người khác không làm được.
-6) – Lậu tận thông là trừ hết phiền não, không cho sanh khởi, diều dữ khởi lên, Phải diệt trừ ngay. Luôn luôn sanh diều lành.
HỎI: 121 )- Thế nào được gọi là Vô úy ?
ĐÁP: CÓ bốn pháp Vô Úy 1) –Nhất Thiết Chủng Trí Vô Sở Úy : Đức Phật đối với trong đại chúng thường hay nói rõ Ta vì những người Nhất Thiết Chủng trí mà nói pháp, nên Tâm Ta không có chút gì lo Sợ
2)-Lậu Tận Vô Sở Úy; Vì Phiền não:Đức Phật đối với đại chúng thường hay nói rõ, Ta đã trừ hết mọi phiền não, nên tâm ta không có chút lo sợ
HỎI:122 )- Nói các pháp đã chứng:Thuyết chướng đạo ĐÁP:Vô Sở Úy Đức Phật đối với đại chúng thường hay nói rõ những pháp chướng ngại, Sự tu hành như là nghiệp v. v…mà tâm Ta không có chút lo sợ.
4)- Thuyết tận khổ Vô Sở Úy: Đức Phật ở trong Đại chúng thường hay nói rõ Giới Định Huệ là con đường chân chánh để trừ diệt các khổ mà tâm Ta không chút gì lo sợ.
HỎI: 123 )- Thế nào gọi là bạch hào tướng ?
ĐÁP: Là cái Lông trắng mọc giữa hai chân mày thường phóng ra ánh sáng. Một tướng tốt trong ba mươi hai tướng
HỎI: 124) – Tám Giọng gọi là những gì ?
ĐÁP: Âm thanh của Đức Như Lai phát ra rõ tám giọng:
1)– Cực hảo âm: Đức hạnh của Đức Phật rộng lớn, khiến cho mọi người nghe đều phát tâm đi theo con đường lành
2)- nhu nhuyển âm:Đức Phật có những đức tánh từ thiện khiến cho người nghe rồi đều bỏ tánh căng cường mà giữ theo giới luật.
3) – Hòa thích âm: Đức Phật ở vào lý trung Đạo, nên tiếng nói được điều hòa khiến cho người nghe rồi đều được dung hòa, thích tìm hiểu chân lý.
HỎI: 125 ) – Tôn huệ âm là thế nào ?
ĐÁP:Tôn huệ âm: Đức Phật có những đức tính tôn cao, khiến cho người nghe rồi sanh tâm tôn trọng, mở trí sáng suốt
5) – Bất nữ âm: Đức Phật an trụ vào định “ thủ Lăng Nghiêm” có những đức tánh “ người đời ham muốn” nên tiếng nói làm cho người nghe tôn trọng, sanh tâm tôn kỉnh. Những đến ma ngoại đạo đều quy đầu kính phục.
6) – Bất ngộ âm: trí tuệ của đức Phật tròn sáng soi tỏ không sai lầm, khiến cho người nghe rồi đều được chánh kiến xa lìa 95 thứ ngoại đạo.
HỎI: 126 ) -*Thâm viễn âm là thế nào?
ĐÁP:7) - Thâm viễn âm: Trí tuệ của đức Phật đã đến chỗ như thật, hạnh vị quá cao, tiếng nói vang động mười phương, ở gần nghe không lớn , ở xa nghe không nhỏ, người nghe rồi đều chứng được chân lý thậm thâm vi diệu.
8) – Bất kiệt âm:Đức Như Lai đã chứng đến cực quả hạng nguyện vô tận, an trụ trong pháp tạng vô tận, nên tiếng nói luôn luôn không ngừng như nước chảy vô tận, làm cho người nghe tìm hiểu ý nghĩa trong lời nói mà chứng quả thường trụ vô tận.
HỎI: 127) – Thế nào gọi là Tu Đà Hoàn Quả ?
ĐAP: Tu Đà Hoàn Quả dịch là dự lưu quả, một quả trong Thanh Văn Thừa, thứ nhất ở trong bốn quả, đã dứt hết những kiến hoặc (sự thấy biết mê lầm) trong ba cõi, bắt đầu dự vào dòng Thánh không còn đọa lạc trong ba đường dữ.
HỎI: 128) _- thế nào gọi là A La Hán Quả ?
Đáp: A La Hán Quả được dịch là Sát Tặc, Ứng cúng, Bất sanh, một quả Thanh Văn Thừa, thứ tự trong bốn quả,(hết hẵn sự những Tư Hoặc ( Sự tư tưởng mê lầm) Kiến hoặc( Sự thấy biết mê lầm) ở trong ba cõi trừ dứt hết. những đến Tư Hoặc trên cõi Trời Phi phi tưởng cũng trừ dứt, Đây là quả vị cao tột của vị Thanh Văn Thừa nên gọi là Sát Tặc (giết giặc phiền não). Quả vị cao tột nên đặng người ở cõi người và người ở cõi trời cúng dường nên gọi là ứng cúng. Trong một đời này đã trừ hết quả báo nên được vào Niết Bàn. Không còn trở lại ba cõi nữa nên gọi là bất sanh nên gọi là A La Hán Quả.
HỎI: 129) -* Thế nào được gọi là Tư Đà Hàm quả ?
ĐÁP: Tư Đà Hàm Quả dịch là Nhất lai quả, một quả Thanh Văn Thừa, thứ hai ở trong bốn quả ở dục giới. vị này mới trừ dứt được sáu phẩm trước, còn lại ba phẩm sau. Nên còn phải một phen thọ sanh về cõi người nên gọi là Nhất Lai.
HỎI: 130) - thế nào gọi là A Na Hàm Quả ?
ĐÁP: A Na Hàm dịch là Bất hườn quả, một quả thanh văn thừa thứ ba, ở trong bốn quả vị này, đã dứt hết chín phẩm Tư Hoặc( Tư tưởng mê lầm) ở dục giới. Nên không thọ sanh lại Dục Giới nữa. Còn phải thọ sanh về Sắc giới hay Vô sắc Giới.
HỎI: 131) - *Thế nào gọi là Thiền Định ?
ĐÁP: Thiền là tiếng Phạn, nói đủ là Thiền Na, dịch là tư duy, tu tịnh lự. Tư duy là suy nghĩ những cảnh đối trước mình, nghĩa là nghiên cứu tu tập, Thiền (tịnh lự) tâm, thân vắng lặng có nghĩa suy tính tìm xét
HỎI:132 ) -* Phạm ngữ tam muội còn gọi là gì ?
ĐÁP:Phạn ngữ, tam muội: dịch là định, ý nói tâm trụ một cảnh. Xa lìa những vọng động. “Định còn gọi là rỗng không”2,
Một bên để tâm tìm xét sự vật gọi là Thiền. Một bên nhiếp niệm ngoại cảnh thanh tịnh gọi là Định, nên gọi là Thiền Định
HỎI: 133) - Giải thích những ý quan trọng mà ý đức Phật muốn dạy trong phẩm đức hạnh như thế nào ?
ĐÁP: Pháp Hoa là con đường dẫn đến thế giới nhiệm mầu của đức Phật., là giai đoạn trót của Tam Thừa Ngài Kiều Trần Như; Ngài Ca Diếp; Ngài Xá Lợi Phất v.v… trải qưa 40 năm mới được nghe kinh Diệu Pháp Liên Pháp Hoa.
HỎI: 134 )- Chúng sanh không sống cùng vowisPhatj nhưng được thuận lợi gì?
ĐÁP: Chúng ta không sanh cùng thời với đức Phật, nhưng được đọc, thọ, trì, kinh Pháp Hoa. Cảm nhận được công đức của kinh. Điều này chứng tỏ chúng ta thành tựu một phần nào của bốn Pháp mà Phật giảng thuyết ở phẩm Phổ Hiền là:1)- Được Phật hộ niệm; 2)- Sống trong chánh định; 3) Phát Đại Bi bồ đề tâm; 4)- Sẵn có căn lành. Chư Phật luôn luôn hộ niệm chúng ta. Phật hiện ra trên thế gian như một đóa hoa Sen, một đấng cứu thế; Đứng ở vị trí ngũ thừa. Kinh Pháp Hoa được coi là Tối Thượng Thừa Viên Giáo.
HỎI: 135 ) -*Xét về năm phân thuyết Pháp của Đức Phật như thế nào ?
ĐÁP: Nếu xét trong năm phần thuyết Pháp của Đức Phật: Ngài nói Kinh Hoa Nghiêm; Kinh A Hàm; Kinh Phương Đẳng; Kinh Bát Nhã; Sau cùng Ngài mới giảng kinh Pháp Hoa. Với vị trí quan trọng như vậy. phương thức tu hành theo kinh Pháp Hoa hết sức tinh mật vì dạy cho Bồ Tát Và hàng đệ Tử Phật.
HỎI: 136 ) -* Chính Phật xác định trong phẩm Phương Tiện như thế nào ?
ĐÁP: Chính Phật xác định trong phẩm Phương Tiện. khi Ngài thành đạo dưới cội Bồ Đề, muốn mang pháp Tối Thượng này ra giảng dạy. Nhưng quán sát thấy chúng sanh trí kém; Đang bị lung nấu trong nhà lửa Tam Giới. Nếu Ngài chỉ nói pháp Nhất Thừa. họ không thể hiểu, sẽ chìm đắm trong sanh tử. Trong 40 năm nói Pháp Đức Phật Đã dùng vô số Phương Tiện, để giảng nói các pháp cho chúng sanh, xa rời ngũ dục thế gian.
HỎI:137 ) -* Đén hội Linh Sơn hàng A La Hán như thế nào ?
ĐÁP:Đến hội Linh Sơn hàng A La Hán dứt sạch chấp trước, lên bờ giải thoát, Ngài mới dạy chân lý Pháp Hoa. Bằng cách khai Tam Thừa nói Nhất Thừa. Khai phương tiện chỉ Chân Thật. Điêù này chứng tỏ kinh Phật nói vô lượng, vô biên, vô số nghĩa. Bước qua ngưỡng cửa Vô Lượng Nghĩa mới thâm nhập vào cảnh giới Pháp Hoa. Kinh Pháp Hoa được thuyết giảng nhiều năm. Vì vậy kinh Vô Lượng Nghĩa là cửa ngõ dẫn vào thế giới Pháp Hoa.
HỎI: 138 ) -* Theo Ngài Thiên Thai thọ trì Pháp Hoa và kinh Vô Lượng Nghĩa đạt được kết quả gì ?
ĐÁP:Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa giáo Bồ tát Pháp Phật Sở hộ niệm. Tất cả chư Phật khi hành đạo Bồ Tát đều phải tu theo kinh này là tu nhân ; thành Phật là kết quả.
Qua quá trình tu hành được đức Phật tìm ra chân lý; tìm được dòng thác trí tuệ của Như Lai. ! Chứng Đạo Bồ Đề. Tức là đạt Chánh Đẳng Chánh Giác .
HỎI:139 ) -*Kinh Vô Lượng nghĩa quan trọng như thế nào?
ĐÁP:Kinh Vô Lượng Nghĩa dẫn nhập vào kinh Pháp Hoa. Khởi đầu bằng sự miêu tả một số Bồ Tát, tán thán công đức, sự tối thắng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Phẩm này mở đầu bằng từ “ Tôi nghe như vầy”và tiếp theo đó bằng ngôn ngừ đẹp đẽ và trang nghiêm. Nêu hoàn cảnh vào lúc đức Phật đang trú tại một Tịnh Xá trên núi Linh Thứu( gọi như thế là vì núi có hình con ó) cùng với một hội chúng lớn mười hai nghìn đại Tỳ Kheo là những đệ tử của Phật như Xá Lợi Phất, Ca Diếp,Mục kiền Liên …
HỎI:.140 ) -* Mặc dù các vị Tỳ Kheo này chưa đạt Bồ Tát họ đã đắc quả gì?
DÁP: Những A La Hán tức là họ đã thoát khỏi ảo tưởng bằng phương tiện Giáo lý Tiểu Thừa. trong đại chúng có nhiều vị Bồ Tát Ma Ha Tát.
Bồ tát là vị tu tập giáo lý đại Thừa,Ma ha tát là người lớn chỉ bậc Đại nhân vì Bồ Tát có mục đích lớn lao là tìm cầu chứng ngộ Tối Thượng và cuối cùng thành Phật, bằng cách làm cho hết thảy mọi người được chứng ngộ.
HỎI:141 ) -* Trong hội chúng còn có những ai về dự hội Pháp Hoa ?
ĐÁP: Có cả chư Thiên, Phi long, Dạ Xoa, Ma, súc sanh, Chư Thiên là các chúng sanh sống ở trên trời, Dạ xoa là quỹ bay. Như thế đại chúng gồm cả quỹ thường gây hại cho người và xúc sanh.
Đại chúng này là một đặc trưng của Phật Giáo mà các tôn giáo khác không thể có được.
HỎI: 142 ) -*Đức Phật có Đại Từ Bi như thế nào ?
ĐÁP:Đức Phật lại không dẫn dắt riêng con người mà Ngài còn có lòng đại Từ Bi muốn cứu hết thảy chúng sanh trong vũ trụ thoát khỏi đau khổ đưa đến bờ phước lạc. Đến cả quỹ ăn thịt người cũng được dự pháp hội để nghe đức Phật thuyết pháp.
HỎI: 143 ) -*Chúng ta thể hiện lòng kính trọng Đức Phật như thế nào ?
ĐÁP: Đối với các Phật tử kính lễ phật là một sự biểu hiện của sự biết ơn. Khi ta cảm giác sâu xa về sự biết ơn đó. Để tôn kính đức Phật, người Phật tử kính lễ trước bàn thờ Phật của gia đình dâng các thứ, bông, trà, trái cây,nước lễ lạy tụng kinh.
Hết thảy Bồ tát trong hội chúng đều là các bậc Đại Thánh của Chánh Pháp và đã đạt Giới, Định, huệ , giải thoát, giải thoát tri kiến.
HỎI: 144 ) -* Chúng ta phải tu tập như thế nào ?
ĐÁP: Chư vị luôn luôn chú trọng định tâm của chư vị tĩnh lặng, không sao lãng, và chư vị bằng lòng với mọi hoàn cảnh, dững dưng không tham lợi cuộc đời. Chư vị đã không còn suy muội, Chư vị luôn luôn suy nghĩ sâu xa vô cùng, nhờ có tâm tĩnh lặng và sáng suốt đó. Do những trạng thái như thế, Chư vị có thể nhớ tất cả vô lượng giáo lý của đức Phật. Hơn nữa đạt được đại trí huệ, Chư vị có khả năng biết sự dị biệt và sự tương đồng.
HỎI: 145 ) -* Trí tuệ có khả năng như thế nào?
ĐÁP:Trí tuệ là caí khả năng nhận biết bất cứ ai cũng có thể trở thành vị Phật. Giáo lý của đức Phật nhấn mạnh rằng chúng ta không thể nhận thức tất cả các sự vật trên đời một cách đúng dắn.
Chư bồ Tát đức hạnh này phổ quảng Phật Pháp, giống như hết thảy chư Phật chuyển pháp luân. Chư Bồ Tát nhằm thực hiện để giảng pháp được nêu rõ trong phẩm này.
HỎI: 146 ) -*Trước tiên chúng ta hướng dẫn Pháp Phải như thế nào ?
ĐÁP: Giao Pháp như một hạt sương làm tan bụi trên nền đất khô cứng. Chư Bồ Tát nhấn chìm dục vọng của con người bằng những giọt giáo lý. Đây là điều quý nhất trong việc mở cửa vào Niết Bàn. Kế đó chư vị giảng con đường giải thoát, rủ bỏ mọi khổ đau, hư hảo con người đang phải đối mặt.
Chư Bồ Tát cũng làm cho con người cảm thấy an lạc, thanh thản như tâm họ được rửa sạch nhờ nghe Pháp.
HỎI: 147 ) -*Hành giả giảng về mười hai nhân duyên như thế nào ?
ĐÁP: Chư vị dạy mười hai nhân duyên cho những người còn đau khổ si muội: tuổi già , bệnh tật,cái chết, để những người này thoát khỏi khổ đau, giống như hạt mưa rào làm mát những người đang khổ vì nóng bức mùa hè.
Bồ Tát giác ngộ quần chúng nói chung theo thứ tự nói riêng và khiến cho mọi người nuôi lớn cái mầm Phật quả.
Chư vị cũng áp dụng những phương tiện thiện xảo để khai bày đại Thừa. cố gắng làm sao cho mọi người thành tựu sự chứng ngộ toàn hảo vô Thượng chánh Đẳng Chánh giác một cách “Tấn Tốc”.
HỎI:148 ) -* Đoạn văn trên cần giảng từ gì ?
ĐÁP: Cần giảng nhóm từ “ làm cho mọi người thành tựu sự chứng ngộ toàn hảo một cách tấn tốc” Từ “ Tấn Tốc”( Gồm ý nghĩa thẳng tới không đi vòng) cũng còn có ý nghĩa nữa là mau lẹ nhanh chống.
Khi tất cả các nhóm đều ngồi với tâm đỉnh tĩnh, hoàn toàn nghe Đức Phật thuyết Pháp. Bồ Tát đại trang nghiêm từ chỗ ngồi đứng dậy, cùng với nhiều Bồ Tát khác, đảnh lễ đức Phật bằng nhiều thứ cúng dường. Tỏ lòng tôn kính dưới chân đức Phật.
HỎI: 149 ) -* Bồ Tát Đại Trang Nghiêm đứng dậy đọc bài kệ như thế nao ?
ĐÁP:Bồ Tát đại Trang Nghiêm đứng dậy đọc bài kệ ca ngợi Ngài. Kệ thường dùng trong các kinh để nêu một cách ngắn gọn, những điểm chính trước đây được nêu bằng văn xuôi để dùng ca ngợi Phật và Bồ Tát.
HỎI: 150 ) -* Hết thảy các vị Bồ Tát đã ca ngợi Phật và Bồ Tát nhue thế nào ?
ĐÁP: Bồ Tát đại Trang Nghiêm ca ngợi diệu tâm của đức Phật, bậc đã hiểu tất cả, Đã vượt lên tất cả, đã dẫn dắt chúng sanh trong vũ trụ như Ngài mong muốn, Chư vị đã ca tụng mặt đẹp của đức Phật , thân thể âm thanh, của đức Phật là những thứ được thực hiện một cách tự nhiên do đức hạnh của Ngài, Ca ngợi sự việc một cách kỳ diệu .
HỎI:151)-*Chư Phật đã giác ngộ chúng sanh như thế nào ?
ĐÁP: Ngài giác Ngộ chúng sanh bằng giáo lý của ngài. Chư vị đã tán tụng sự việc của đức Phật, đã không nghĩ gì đến chính ngài, trong suốt nỗ lực lâu dài của ngài và sự việc Ngài đem hết sức cứu độ chúng sanh, bằng cách hết mọi khổ nhọc. từ bỏ tất cả để đưa chúng sanh đến giác ngộ.
Do đó Ngài được đại trí tuệ. Chứng Chánh Đẳng Chánh Giác.
HỎI: 152) -*Đoạn trót của phẩm này ca ngợi đức Phật như thế nào ?
ĐÁP: Ngài đã thành đạt giác ngộ, Đại thánh, diễn tả tán Phục của chư Bồ Tát đang trên đường chứng đạt trạng thái ấy. Nỗ lực của đức Phật đã thực hiện suốt thời gian dài. Chư vị chấm dứt tán thán bằng câu “ Chúng con xin quy phục đức Phật đã thành đạt tất cả những việc khó khăn”..
Tán tụng Đức Phật để tỏ lòng ghi khắc lý tưởng của chúng ta kính trọng Đức Phật sâu trong tâm trí chúng ta. Sự tán tụng này nêu rõ sự cứu cánh Phật quả, bằng cách xây dựng minh họa về hình ảnh và năng lực của đức Phật. Sự đón nhận lớn lao nhất là Ngài tuyệt đối hoàn hảo./..
PHẨM THUYẾT PHÁP
LƯỢC VĂN KINH
HỎI: 153) -* Đại Trang Nghiêm Bồ Tát và tám muôn vạn Bồ Tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn ! Các vị Bồ Tát muốn mau thành Đạo Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cần phải tu hành những pháp môn nào?
ĐÁP: Đức Phật bảo có một pháp môn gọi là Vô Lượng Nghĩa. Muốn tu hành được pháp môn Vô Lượng Nghĩa, cần phải quan sát Tánh Tướng của nó, xưa nay thường vẫn không tịch, không lớn, không nhỏ, không tới, không lui, không sanh, không diệt, không trụ, không động, như hư không ngoài ra không có hư không nào khác. Lại còn phải thấu rõ các Pháp:
HỎI:154 )-* Các Pháp của đức Phật như thế nào ?
ĐÁP: Pháp tướng như vậy sanh cũng như vậy,
Pháp tướng như vậy trụ cũng như vậy,
Pháp tướng như vậy dị cũng như vậy,
Pháp tướng như vậy diệt cũng như vậy,
Các pháp tướng như vậy mà hay sanh pháp dữ. Các pháp tướng như vậy mà hay sanh pháp lành.
Còn phải quan sát kỹ: mỗi niệm, mỗi niệm không ngừng. Sanh diệt nối nhau mãi mãi. Bốn tướng Sanh, trụ, dị, diệt,
HỎI: 155) -*Vô Lượng Nghĩa này từ một pháp sanh ra duyên cớ làm sao ?
ĐÁP:Một pháp ấy chính là vô tướng, mà chẳng phải Vô Tướng nên gọi là Thật Tướng.
Bạch Thế Tôn ! Từ khi Như Lai thành đạo đến nay hơn bốn mươi năm, vì chúng sanh diễn nói các pháp : Nghĩa khổ, Nghĩa không, Vô Thường, Vô ngã, Vắng Lặng. Nhiều người chứng các pháp sai khác từ Sơ địa đến Thập địa mà đạo Bồ đề chưa ai đạt được ? Duyên cớ làm sao ?
HỎI:156) -* Đại Trang Nghiêm Bồ Tát, Biết hỏi Như Lai những nghĩa lý Đại Thừa nhiệm màu thậm thâm Vô Thượng làm an vui cõi Trời, cõi Người duyên cớ làm sao?
ĐÁP:Vô Lượng Nghĩa văn lý chơn Chánh không pháp nào cao hơn. Các Đức Phật trong ba đời tán dương hộ trì. Không sợ ma quân ngoại đạo lẫn lộn.
Thế Tôn thuyết pháp thật khó nghĩ bàn , căn tánh chúng sanh thật khó nghĩ bàn.
HỎI:157) -Giáo lý của Đức Phật còn được ví như thế nào ?
ĐÁP: Pháp giống như nước có công năng rửa sạch bụi nhơ. Nước ao, sông, rạch, khe, suối không giống nhau. Pháp thủy cũng vậy đều có công năng rửa sạch bụi nhơ. Nói Pháp cũng vậy thời đầu, thời giữa, thới sau, văn lý tuy đồng mà nghĩa lý khắc nhau. Nên chúng sanh chứng quả cũng đều sai khác
HỎI: 158) -* Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Như Lai giảng nói như thế nào ?
ĐÁP: ĐứcPhật dạy: Này Trang thiện nam! Thời đầu, vì những người cầu bậc Thanh Văn(29nên nói pháp Tứ Đế có đến tám ức vị Trời đến nghe pháp phát Bồ Đề tâm. Thời giữa vì những người cầu Bích Chi Phật nên diễn nói thập nhị nhân duyên. Thời sau nói kinh Phương Đẳng. kinh Bát Nhã. Nói kinh Hoa Nghiêm nói rõ sự tu hành của nhiều Bồ Tát nhiều kiếp trước .
HỎI: 159)-*Đức Phật giảng pháp như thế nào ?
ĐÁP:Từ khi ta thành đạo thường ở Ta bà chỗ chỗ nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Bởi nghĩa nhiều như thế, nên Chư Phật không nói hai lời. Đây là những cảnh giới sâu xa của các đức Phật, thật khó nghĩ bàn, hàng Nhị Thừa vẫn không biết được, Bồ Tát cũng không biết được. Chỉ có Phật với Phật mới hiểu thấu nhau. Các vị Bồ Tát muốn mau thành Phật phải học kỹ Vô Lượng Nghĩa này.
HỎI:160 ) -* Đức Phật thuyết pháp vừa xong trên hư không suất hiện những gì ?
ĐÁP: Trên hư không sáu phương chấn động. Rải xuống những thứ hoa báu như: Hoa Ưu Bát la(134)Hoa Bát Đàm Ma(135)Hoa Câu Vật Đà(136)Hoa Phân Đà Ly(137) rải các thứ đồ: Thiên tràng, thiên Phan, Thiên hiên cái, Thiên Diệu Nhạc. Nhạc Trời trổi vang lên ca ngợi đức Phật Bồ Tát Thanh Văn và Đại chúng .
HỎI:161) -* Trong đại chúng còn có những ai ?
ĐÁP:Trong đại chúng có đến ba mươi hai ngàn vị Bồ Tát đặng Vô Lượng Nghĩa Tam Muội. có đến hai bốn ngàn vị Bồ Tát đặng Vô Lượng Nghĩa Đà La Ni. Các vị Bồ Tát ở mười phương y theo giáo pháp của Đức Phật mà chuyển pháp luân không lui sụt. Vô Lượng chúng sanh phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
HỎI:162) -* Các Bồ Tát Ma Ha Tát bạch ĐứcPhật Pháp môn là gì ?
ĐÁP:Đức Phật dạy: Những pháp tắc để dạy đời gọi là Pháp. Những pháp tắc này là con đường đi vào đạo của các vị Thánh nên gọi là Môn
HỎI:163) -* Bồ Tát bạch Đức Phật Vì sao lại gọi là kinh Vô Lượng nghĩa ?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Từ một pháp Vô Tướng sanh ra trăm ngàn nghĩa, Trong trăm ngàn nghĩa mỗi nghĩa lại sanh ra trăm ngàn muôn ức nghĩa, nhưng đến vô lượng vô biên nghĩa, nên gọi là Vô Lượng Nghĩa
HỎI: 164) -* Thế nào được gọi là Sanh, trụ, dị, diệt, ?
ĐÁP: Bốn tướng này nó bày rõ cụ thể các pháp Hữu Vi:1)-Sanh tướng là sự việc bắt đầu ra. 2)- Trụ tướng: Sự việc được an Trụ vững chắc, hay gọi là đứng yên một chỗ. 3 –Dị tướng:là sự vật suy lần lần 4) –Diệt tướng: Sự vật hư hoại hay gọi là chết.
HỎI: 165) - * Bồ Tát bạch đức Phật Như Lai là thế nào ?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Tiếng Phạn dịch là Đa Đa A Dá Đà gọi là Như Lai. Một hiệu ở trong mười hiệu. Chư Như Lai là Chân Như, nương theo đạo Chân Như từ nhân đến Quả là thành bậc Chánh Giác,nên gọi là Như Lai. Lại nương theo đạo Chân Như đến ba cõi để giáo hóa chúng sanh gọi là Như Lai. Đây là Ứng Thân Như Lai
HỎI:166 ) -*Thế nào được gọi là Pháp Tánh ?
ĐÁP: pháp tánh cũng được gọi là pháp Tướng, Chân Như, Pháp giới, Niết Bàn v.v..danh từ tuy khác mà vẫn đồng một thể. Tánh chính là thể không đổi, không dời đi chỗ khác. Chân Như là thể của vạn pháp. ở trong nhiễm, trong tịnh, hữu tịnh, tánh nó không dời sai khác, nên gọi là Pháp Tánh.
HỎI: 167) -* Thế nào gọi là Pháp Tướng ?
ĐÁP: Đồng một tánh nhưng thể hiện ra bên ngoài nhìn thấy hình tướng sai khác, thấy nó sai khác không đồng nhau nên gọi là Pháp Tướng.
HỎI:168 ) -* Như thế nào được gọi là noãn pháp ?
ĐÁP: Một vị thứ nhất trong bốn vị thiện căn, sau khi quan sát qua tổng tướng, biết tướng của Tứ Niệm Sứ rồi, vị này bắt đầu chuyên chú quan sát khổ, tập, diệt, Đạo của pháp Tứ Đế và mười sáu tướng hạnh khổ không v,v.. Vị này gần được phát sanh Vô Lậu Trí Kiến đạo(thấy rõ chân lý Đế) nên trí giải bắt đầu mường tượng, Vô lậu huệ, giống như lửa gần cháy, tướng nóng hiện ra, nên gọi là Noãn pháp.
HỎI: 169) -* thế nào được gọi là Đảnh Pháp ?
ĐÁP: Vị này là vị thứ hai trong bốn vị thiện căn, Noãn vị và đảnh vị còn là Pháp Động Thiện( Thiện căn còn lay động) Nhãn và thế đệ nhất là pháp bất động thiện (Thiện căn hết nay động). Vị Đảnh này rất cao tột ở trong Pháp Động Thiện. Cũng như đảnh đầu của người. Nên gọi là Đảnh Pháp
HỎI: 170) –Nhẫn Pháp là thế nào ?
ĐÁP: Vị này là vị thứ ba ở trong bốn vị thiện căn. Nơi lý Tứ Đế, quyết định bám chịu đựng, trí không lay động nên gọi là nhẫn, Bộc nhẫn này, sau khi căn lành phát sanh rồi, không còn lui sụt trở lại Đảnh Pháp, Noãn pháp là không sợ sa đọa các đường dữ
HỎI: 171) -* Thế nào là đệ Nhất Pháp ?
ĐÁP: Vị này là vị thứ tư ở trong bốn Thiện căn, Vị này căn lành sanh ra sau khi tâm niệm đã chứng được Nhẫn pháp quán vào một hành tướng khổ Đế, đồng với nhẫn pháp trước. Cuộc đời hoàn toàn là pháp hữu lậu không siêu việt bằng pháp quán trí, mới là thù thắng, Nên gọi là thế đệ nhất pháp , vị này, trong một sát na quan sát không gián đoạn, nhờ đó mà trí vô lậu phát sanh vào bậc kiến đạo, chứng ngộ thắng đế chân chánh. Vị này bắt đầu từ đây không còn thai sanh phàm phu nữa.
HỎI:172 ) -* thế nào được gọi là Bích Chi Phật ?
ĐÁP: Đức Phật day :Quả vị đồng với bậc A la Hán, nhưng công danh tu hành thời khác, có hai dạng: 1) – Ra đời không gặp Phật, cũng không gặp giáo pháp, nhờ căn lành kiếp trước, phát tâm tìm đạo, tánh ưa thích ở chỗ vắng vẻ, tịch mịch, thấy cảnh tươi héo của cỏ hoa, thấy cảnh sống chết của loài người mà chứng ngộ lý Vô thường gọi là độc giác ( Tự mình giác ngộ).
2)– Ra đời gặp Phật, tu theo pháp thập nhị nhân duyên mà chúng ngộ quả Vô sanh, nên gọi là duyên giác( Nhờ mười hai nhân duyên mà giác ngộ).
HỎI: 173) -* Thế nào là Tam Địa Gọi là Phát Quang Địa ?
ĐÁP: Chư Phật dạy: Vị Bồ Tát này thành tựu nhẫn nhục Ba La Mật đoạn trừ tư hoặc, quan sát pháp Vô sanh nhẫn, trí tuệ sanh ra, gọi là Phát Quang địa.
HỎI:174 ) – Thế nào gọi là Thập Địa và Phát Vân Địa ?
ĐÁP: Chư Phật dạy:Vị Bồ Tát này thành tựu trí Ba La Mật, trừ sạch hết Tư hoặc, đầy đủ công đức Vô biên như mây bao phủ hư không đổ nước xuống, tràn lan không bờ không bến, nên gọi là Pháp Vân
HỎI: 175) - * Thế nào gọi là Ba La Nại ?
ĐÁP: ba la nại dịch là nhiễu thành, thành này có nhiều con sông bao bọc xung quanh, vườn Lộc Giả ở gần thành này.
HỎI: 176) -* thế nào được gọi là thập trụ Bồ Tát ?
ĐÁP: Chư Phật dạy:Thập trụ Bồ Tát hay gọi là Quán đảnh trụ, Vị Bồ Tát này đã là Phật Tử, đủ sức gánh vác phật sự, nên đức Phật dùng nước trí rưới trên đầu, như vị Vương Tử thọ chức, phải làm lễ rưới nước trên đầu.
HỎI: 177) -* thế nào được gọi là Ba ngàn đại thiên thế giới?
ĐÁP: Một thái dương hệ là một tiểu thế giới, một ngàn tiểu thế giới là một tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giớị là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới gọi là một đại thiên thế giới.
Vậy một đại thiên thế giới là một thế giới trải qua ba lần nhân cho số ngàn nên gọi là ba ngàn đại thiên thế giới. Thật ra chỉ có một đại thiên thế giới
HỎI: 178) -* thế nào được gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn ?
ĐÁP: Chư Phật dạy:Nói tắt Vô Sanh Pháp Nhẫn. Vô Sanh là cái lý thể của Chân Như Thật Tướng, xa lìa các pháp sanh diệt, thậm trí vào lý thể này mà không lay động, nên gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn, Pháp Vô Sanh Nhẫn này từ bậc Sơ địa đến Thập Địa mới chứng được.
HỎI: 179) - *Trong phẩm này, phần chính của kinh Vô Lượng Nghĩa là những gì ? Đức Phật dạy Ra sao ?
ĐÁP: Đức Phật thích Ca Ngài dạy: Từ khi chứng ngộ. Đức Phật đã thuyết pháp với mọi mục đích xác quyết và theo thứ tự xác quyết dù cho Pháp đã được giảng theo nhiều cách, các chân lý căn bản vẫn luôn luôn là pháp độc nhất , hay chân lý là nguồn gốc của Vô lượng pháp hay vô lượng giáo lý.
HỎI: 180) -* Cùng với nhiều Bồ Tát Ma ha Tát, Bồ Tát đại Trang Nghiêm hỏi Phật rằng : “Chúng con mong được hỏi Ngài về giáo pháp của đức Phật, chúng con thiết tha hy vọng Ngài nghe chúng con”.
ĐÁP: Đức Phật dạy: “ Hay lắm! hay lăm! Các ông hỏi ta câu hỏi này thật đúng lúc, Chẳng bao lâu Ta sẽ nhập Niết Bàn, Ta e rằng sau khi Ta nhập diệt. Mọi câu hỏi sẽ bị bỏ lững, hãy cứ hỏi Ta những gì các ông muốn. Ta sẽ trả lời câu hỏi mà các ông muốn”.
HỎI: 181) -* Bồ Tát đại Trang Nghiêm hỏi Đức Phật “ nếu Chư Bồ Tát tu tập giáo lý Đại Thừa muốn mau thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác một cách nhanh chóng thì chư vị ấy phải tu tập theo pháp môn nào ?
ĐÁP: Đức Phật dạy: “ Nay có một pháp môn Thánh diệu gọi là Vô Lượng Nghĩa, nếu vị Bồ Tát học pháp môn này thì vị Bồ Tát sẽ mau thành Chánh Đẳng Chánh Giác , Một vị Bồ Tát muốn học pháp môn Vô Lượng Nghĩa thì phải quan sát rằng: Tất cả các pháp hay hiện tượng có vẽ khác nhau và thay đổi không ngừng, nhưng thực ra cái căn bản của chúng, là một năng lực lớn lao không thay đổi theo hiện tượng khác nhau”.
HỎI:182 )-* Căn bản của các pháp như thế nào ?
ĐÁP:Các ông nên hiểu rằng tại căn bản của tất cả các pháp có một chân lý, vượt khỏi sự phân biệt, vĩnh viễn và bất biến. Chúng sanh thì không biết chân lý này nên phân biệt một cách ích kỷ “ đây có lợi hay không có lợi”. Do đó họ nuôi tư tưởng xấu. khiến họ sanh nhiều nghiệp xấu, phải luân hồi trong sáu cõi”.
Lục xứ hay lục Đạo là sáu cảnh giới mà chúng ta luân hồi : Địa ngục, Quỷ đói, súc sanh, A tu la, người , trời.
Vô Lượng Nghĩa này dạy chúng ta về những trạng thái tâm thức, cũng như cấu trúc của thế giới, với con người là trọng tâm.
HỎI: 183 ) -* sáu cõi giới chúng sanh luân hồi là những cảnh giới nào ?
ĐÁP: Chư Phật dạy : 1) – cõi Địa ngục là trạng thái tâm thức trong đó tâm của chúng ta bị sân hận, thiêu đốt, mọi người, mọi việc hình như một kẻ thù, khi chúng ta bị sân hận đốt cháy. Chẳng hạn như một người gây gỗ với vợ anh ta , anh ta ghét cả đến bát đĩa vốn chẳng dính dấp gì đến việc gây gỗ, có thể anh ta đập vỡ chúng nữa. bằng cách đập đĩa hay đánh thẳng vào đối thủ. Người phải chịu nhiều nhất là người sân hận.
HỎI:185 ) -* Những ai thì phải vào cảnh Ngạ Quỷ ?
ĐÁP: Cõi Quỷ đói(ngạ quỷ) là trạng thái tâm trong đó có một đám tham dục nảy sanh trong tâm ta. Tham dục không những chỉ giới hạn, tiền tài, vật chất, và còn nhiều sự tham lam, ham muốn vào lòng thương yêu của kẻ khác. Do những tham lam ta không biết làm sao để thỏa mãn ngay cả khi chúng ta đạt được tham dục trong nhất thời. Chúng ta có càng nhiều tham dục thì chúng ta càng trở nên vướng mắc vào chúng trong vòng lẫn quẩn, Địa ngục( Quỷ đói hay ngạ quỷ).
HỎI:186 )-*Người như thế nào phải tái sanh súc sanh ?
ĐÁP: Cõi súc sanh là diễn tả trạng thái tâm thức trí tuệ thiếu suy nghĩ, người không suy luận thì chỉ hành động theo bản năng, chỉ làm những việc gì mình muốn mà không nghĩ đến hậu quả.
HỎI:187 )-*Những người nào phải tái sanh A Tu La ?
ĐÁP: Cõi A tu La nghĩa là trạng thái tâm thức quy ngã trong mọi sự, trong tận đáy lòng chỉ tự lợi. Chính loại tâm thức này đưa đến mâu thuẫn, ngây gỗ, chanh chấp, chiến tranh, giữa con người với nhau. Đây là trạng thái trong đó có sự ích kỷ, đưa đến tranh chấp.
HỎI: 188 )-* Những ai được tái sanh cõi người ?
ĐÁP:Cõi người là diễn tả trạng thái tâm thức cố gắng kiểm nghiệm bốn tâm tính sấu, đã nói ở trên nhờ vào ý thức, khiến chúng ta không đi đến cực đoan, dù rằng tất cả chúng ta có tất cả các trạng thái ở trên. Trạng thái tâm thức này là những người bình thường.
HỎI: 189 )-* Những người có công đức như thế nào thì được sanh lên cõi Trời ?
ĐÁP: Cõi Trời là thế giới hỷ lạc. Tuy nhiên đây không phải hỷ lạc bất biến, đạt được bằng sự chứng ngộ của đức Phật. đây chỉ là những lạc thú của các giác quan và cảm thọ. Tức là lạc thú theo ảo tưởng tạo nên. Cho nên đây là một hỷ lạc tạm bợ, có thể xa vào Địa ngục hay quỷ đói, A Tu La, ngay trong khi có điều bất ứng xảy ra.
Sự mê đắm là mẫu thức cho một trạng thái tâm thức như thế. Trong trường hợp này Trời chỉ là một nơi mà dân cư ở đó không khổ đau, không phiền muộn, hễ chừng nào chúng ta chưa đạt được chứng ngộ thực sự thì dù chúng ta có đạt đến cảnh trời, chúng ta vẫn không vừa ý với trạng thái này.
HỎI:190 )-* Tâm con người cứ thể hiện như thế nào ?
ĐÁP: Sáu cõi giới này cứ liên tiếp xảy ra trong tâm con người từ cảnh giới này sang cảnh giới khác trạng thái này của tâm gọi là “luân hồi trong sáu cõi”.
Nếu chúng ta không theo giáo lý thiện hảo, không có cách nào để tu tập, Chúng ta vẫn mãi mãi luân hồi trong sáu cõi, những buồn nản, khổ đau, của chúng ta không bao giờ tiêu mất, Ai cũng hiểu được điều này sau khi phản tĩnh về mình.
HỎI: 191) –* Bồ Tát Đại Trang Nghiêm hỏi Phật chúng sanh muốn ra khỏi sáu cõi thì phải tu hành như thế nào?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Này các Bồ Tát Ma Ha Tát, khi các vị quan sát hết thảy các chúng sanh đang luân hồi trong sáu cõi, Các vị hãy khởi nên lòng thương sót, thực hiện lòng đại từ , Đại bi, để cứu vớt họ ra khỏi các cảnh ấy. Trước tiên các vị phải thâm nhập tất cả các pháp.Nếu các vị thông hiểu pháp rồi,thì các vị có thể tự nhiên hiểu được trong tương lai những gì sẽ khởi sanh từ các pháp.
Các vị có thể hiểu rằng các pháp ổn định không biến đổi trong một thời gian. Các vị có thể hiểu rằng các pháp có thể biến đổi.
HỎI:192 )-* Tâm chúng sanh thường hiểu như thế nào ?
ĐÁP: Lại nữa các vị có thể hiểu rằng các pháp cuối cùng bị tiêu diệt. Do đó các vị có thể quan sát và biết được lý do sanh khởi của các pháp thiện và các pháp bất thiện. Vì chúng sanh có vô lượng bản chất tham dục. Việc thuyết giảng của các vị cho họ cũng vô lượng nên ý nghĩa cũng vô lượng. Sở dĩ như thế là vì giáo pháp Vô lượng Nghĩa sanh khởi từ một pháp.
HỎI: 193 )-*Một pháp ấy là gì ?
ĐÁP: Đó là một chân lý. Chân lý đó là Vô Tướng, Vượt khỏi sự phân biệt về tất cả sự vật. Các sự việc thì giống nhau, trong việc sở hữu Phật Tính. Sự việc này là Chân Lý, Là thực tướng của các sự vật.
HỎI:194 )-*Này các Bồ Tát Ma Ha Tát hãy phất tâm như thế nào ?
ĐÁP: Đại Bồ Tát phát lòng từ bi mà các vị biểu hiện một cách tự nhiên, sau khi đã hiểu các thực tướng này thì có công đức chứ không phải vô ích. Với lòng đại từ bi này, các vị độ chúng sanh khỏi đau khổ, hơn nữa còn khiến tất cả chúng sanh đến hỷ lạc. Do đó nếu tu tập toàn hảo pháp môn Vô Lượng Nghĩa chắc chắn các vị Bồ Tát chẳng bao lâu sẽ thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”.
HỎI: 195) -* Đại Trang Nghiêm Bồ Tát hỏi Đức phật “Đức Như Lai giảng pháp suốt bốn mươi năm, các pháp càng ngày càng sâu xa. Con sợ chúng sanh không phân biệt được. Trước đây và hiện nay. Bạch Thế Tôn xin Ngài giảng rõ cho tất cả chúng sanh”.?
ĐÁP: Đức Phật dạy: với Bồ Tát Đại Trang Nghiêm “Hay lắm!
Hay lắm ! này các đại thiện nam tử, các vị đã khéo hỏi Như Lai những điều này. Quả thực là do lòng đại từ bi mà các vị đã hỏi Ta về diệu nghĩa của Đại Thừa sâu xa và tối thượng, do Đức Phật thuyết giảng không phải chỉ chứng ngộ riêng của các vị mà vì tất cả chúng sanh.
HỎI:196 )-* Đức Phật Ngài dạy như thế nào ?
ĐÁP:Này các thiện nam tử, Ta đã thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác, sau khi đoan tọa dưới cội Bồ Đề. Bằng Phật nhãn, Ta thấy tất cả các pháp, có nhiều tướng trạng không thể giải thích được. Ta biết rằng các bản tính, tham dục của tất cả mọi chúng sanh không đồng đều nhau.Vì thế Ta giảng các pháp bằng năng lực phương tiện hơn bốn mươi năm. Nhưng suốt thời gian ấy, Ta chưa khai mở thực sự, do năng lực của chúng sanh quá kém thật quá khó có thể khiến họ thành tựu Phật qủa tối thượng một cách nhanh chóng.
HỎI:197 )-*Đức Phật phải dùng phương tiện như thế nào? ĐÁP:Này thiện nam tử ! Pháp giống như nước rửa sạch bụi, nhưng bản chất của mỗi dòng nước, một con sông, một cái giếng, một cái ao, một con rạch, một con mương, một biển lớn thì có khác nhau.Bản chất của pháp cũng giống như thế, dù mỗi thứ đều rửa sạch như nhau vì đều là nước, nhưng một cái giếng, không phải là một cái ao, không phải là một dòng sông, cũng không phải là một con rạch, một đường mương hay một biển cả.
HỎI:198 )-* Đức Phật liên hệ đến Pháp như thế nào ?
ĐÁP:Do đó, Như Lai thuyết pháp cũng lại như thế. Dù sự thuyết giảng lúc đầu, lúc giữa , lúc cuối, đều rửa sạch mê lầm của chúng sanh như nhau. Như lúc đầu không phải lúc giữa, lúc giữa không phải lúc cuối. Sự thuyết Giảng lúc đầu, lúc giữa, lúc cuối, giống nhau về văn từ nhưng nghĩa lý khác nhau.
HỎI:199 )-* Đức Phật giảng Pháp như thế nào ?
ĐÁP: Này thiện nam tử ! lúc mới đầu Ta chuyển pháp luân về Tứ Thánh đế cho năm anh em Tỳ Kheo tại vườn nai ở Ba La Nại
Ta giảng rằng Pháp thì bản nhiên rỗng lặng, không ngừng biến đổi và liên tiếp sanh diệt. Ta giảng như thế khi thuyết giảng mười hai nhân duyên và sáu Ba La Mật cho tất cả các Tỳ Kheo, Bồ Tát ở nhiều nơi, trong giai đoạn giữa.
Giờ đây về kinh Vô Lượng Nghĩa Đại Thừa này. Ta cũng thuyết giảng như thế.
HỎI:200 )-* Đức Phật giamngr kinh Vo Lượng Nghĩa như thế nào ?
ĐÁP: Này các thiện nam tử ! Việc thuyết giảng lúc đầu, lúc giữa, lúc sau, thì giống nhau về ngôn từ diễn tả. nhưng khác nhau về ý nghĩa, vì ý nghĩa khác nhau, nên sự hiểu biết của chúng sanh cũng khác nhau, Về chứng pháp , công đức, con đường cũng khác nhau. Điều này được chứng tỏ rằng bằng kết quả của sự việc, Ta giác ngộ những người nghe Ta, thuyết giảng trong mỗi thời kỳ.
Khi lúc đầu Ta thuyết giảng Tứ Thánh đế ở vườn nai, khi lúc giữa ta thuyết giảng giáo lý mười hại nhân duyên ở nhiều nơi.Kế đến thuyết giảng mười hai loại kinh Phương đẳng và các loại kinh khác.
HỎI:201 )-* Đức Phật nhắc lại nhiều lần như thế duyên cớ làm sao ?
ĐÁP: Này các Thiện Nam Tử ! Nói một cách khác Ta chỉ thuyết giảng chỉ một chân lý ngay từ lúc khởi đầu. Điều này không chỉ riêng Ta. Hết thảy chư Phật ở mười Phương cũng thuyết giảng như thế. Vì chân lý căn bản chỉ là một. Chư Phật đáp ứng rộng khắp mọi âm thanh bằng chỉ một lời. dù chỉ có một thân, Chư Phật thị hiện Vô lượng vô vàn thân ở khắp mười phương. Mỗi thân phô bày muôn vạn muôn hình tướng. Trong mỗi hình tướng lại hiện vô vàn các hình dáng.
HỎI:202 )-* Chư Phật không thể nghĩ bàn duyên cớ làm sao ?
ĐÁP:Các thiện nam tử ! Đây là Chư Phật không thể nghĩ bàn, Hàng Nhị Thừa không thể hiểu được và Bồ Tát ở cấp độ cao nhất Thập Trụ cũng không thể Lĩnh hội được.
Do đó, các vị phải thật nỗ lực đạt đến cấp độ của đức Phật nhờ kinh Vô Lượng Nghĩa mà Ta đang thuyết giảng đây: Kinh mầu nhiệm, sâu xa, cao siêu, hợp lẽ về mặt lý luận. HỎI:203 )-* Bồ Tát muốn mau thành Phật phải tu học kinh Vô Lượng Nghĩa duyên có làm sao ?
ĐÁP: Kinh Vô Lương Nghĩa,Vô thượng về mặt giá trị. Được hết thảy chư Phật trong ba đời hộ trì. Hàng Bồ Tát giữ gìn, không có ma quân nào thâm nhập vào được. Không bị tà kiến sinh tử nào làm hư hoại
Do đó, Chư Bồ Tát Ma Ha Tát muốn thành tựu Phật Quả thì phải học và quán triệt kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa thâm sâu tối thượng này”.
HỎI: 204) -* Khi Đức Phật thuyết giảng xong kinh Vô Lượng Nghĩa thì cảnh tượng Trời Đất như thế nào ?
ĐÁP: Khi Đức Phật thuyết giảng xong kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Trời và Đất rung động sáu cách, hiển bày cảnh tượng vô thường: Hoa, hương, áo, vòng hoa, vật báu vô giá từ trên trời rải xuống, Thiên nhạc được tấu nên ca ngợi Đức Phật, chư Bồ Tát Thanh Văn Đại chúng.
HỎI:205) -* Ngay đó hàng Bồ Tát và tứ chúng đắc pháp gì ?
ĐÁP:Nhiều Bồ Tát Ma Ha Tát trong Pháp hội chúng đắc Vô Lượng Nghĩa và nhiều Bồ Tát Ma Ha Tát đắc Vô lượng Đà La Ni, tất cả Tỳ Kheo, TỲ Kheo ni, ưu bà tắc ưu bà di, các vị trong hội chúng nghe đức Phật thuyết giảng kinh Vô Lượng Nghĩa tương ưng với cấp độ tâm thức của từng vị đạt được Phật Quả, bằng cách theo đúng giáo lý của Ngài và nỗ lực phổ biến giáo lý ấy.
PHẨM MƯỜI ĐIỀU CÔNG ĐỨC
VĂN KINH:
HỎI: 206 ) -*Đại Trang Nhiêm Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn, Thế Tôn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, nhiệm mầu , Vô thượng, Chắc thật thẳm sâu! Thẳm sâu ! Thẳm sâu” sở dĩ tại sao ?
ĐÁP: Đức Phật dạy, bởi trong pháp hội những vị Bồ Tát, tứ chúng và hàng Thiên long, Quỹ, Thần, Quốc Vương,Quốc Thần,Quốc dân hết thảy nghe kinh Đại Thừa Vô Lượng nghĩa thậm thâm vô thượng đều đạt pháp môn Đà La Ni, Tam pháp tứ quả, phát Bồ đề tâm, phải biết pháp này văn lý Chân Chánh, không pháp nào cao hơn, Các Đức Phật trong ba đời đều hộ trì không bị ma quân ngoại đạo lẫn lộn, không bị tà kiến khuấy rối.
HỎI: 207 )-* Đại Trang nghiêm Bồ Tát hỏi Phật sở dĩ tại sao ?
ĐÁP: Chư phật dạy: Nghe một pháp mà tổng trì được tất cả các pháp. Nếu chúng sanh nào nghe được kinh này sẽ có lợi ích lớn, Nếu người nghe giáo pháp này, mà y theo tu hành mau đặng thành Đạo Bồ đề. Chúng sanh nào không được nghe sẽ mất lợi ích lớn. trải qua nhiều kiếp A tăng kỳ, vô lương vô biên khó nghĩ bàn cũng không đặng đạo Bồ Đề
HỎI: 208)-*Đại Trang Nghiêm Bồ Tát bạch Phật sở dĩ tại sao?
ĐÁP: Đức Phật dạy : Chúng sanh không biết Bồ Đề là con đường rộng lớn, ngay thẳng, Còn đi con đường chật hẹp quanh co, phải gặp nhiều nguy hiểm, khó có đạt được đạo Bồ Đề.
HỎI:209)-* Cúi mong Thế Tôn, từ bi ai mẫn, vì tất cả chúng sanh mà phô bày nghĩa lý sâu thẳm của Đức Phật thật khó nghĩ bàn của kinh?
ĐÁP: Trang thiện Nam ! Ta nói kinh này thẳm sâu, thật chắc thẳm sâu, Vì làm cho chúng sanh mau thành đạo vô Thượng Bồ Đề, nghe một pháp mà tổng trì được tất cả các pháp, kinh này đối với chúng sanh có nhiều lợi ích, như đi đường rộng lớn, ngay thẳng khỏi gặp sự nguy hiểm, chóng đến đạo Vô Thượng Bồ Đề.
HỎI: 210) -* Bồ Tát đại Trang Nghiêm hỏi Phật kinh này từ đâu mà lại? An trụ vào đâu ? đi đến chỗ nào ?
ĐÁP: Trang thiện nam ! Kinh này từ các nhà đức Phật mà lại, Đi đến chỗ phát Bồ Đề tâm của các chúng sanh. An trụ vào chỗ Bồ Tát an trụ. Này Trang Thiện nam! Kinh này đi đến như vậy, an trụ như vậy, kinh này lại như vậy, cho nên kinh này có Vô Lượng công đức lực thật khó nghĩ bàn, hay làm cho chúng sanh phát Bồ Đề tâm. Kinh này có mười điều công đức ngươi có muốn nghe chăng ?
HỎI: 211 ) -*Đại Trang Nghiêm Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn ! Chúng con thích muốn nghe ?”
ĐÁP: Đức Phật dạy: “ Này Trang thiện nam ! phần thứ nhất kinh này hay khiến cho các vị Bồ Tát chưa phát bồ đề tâm phát bồ đề tâm. Người chưa có tâm nhân từ khởi tâm nhân từ. Người ưa sát hại khởi tâm đại bi. Người sanh tật đố khởi tâm tùy hỷ. Người hay ái trước khởi tâm năng xả. Người hay tham lam khởi tâm bố thí, người có nhiều tính kiêu mạn, khởi tâm trì giới. Người có tâm nóng dận lung lăng khởi tâm nhẫn nhục. Người tánh hay biếng nhác khởi tâm siểng năng. Người thường tán loạn khởi tam thiền định. Người hay ngu si khởi tâm trí tuệ. Người chưa có tâm hóa độ kể khác khởi tâm hóa độ kẻ khác, Người làm thập ác khởi tâm thập thiện. người tâm hay lui sụt khởi tâm không lui sụt. Người chấp lậu khởi tâm vô lậu. Người nhiều phiền não khởi tâm trừ diệt. Đây là phần thứ nhất kinh này có công đức, lực, thật khó nghĩ bàn.
HỎI:212) -*Đại Trang nghiêm Bồ Tát hỏi Phật phần thứ hai kinh Vô Lượng Nghĩa có công đức lực thật khó nghĩ bàn sở dĩ tại sao?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Bởi nghĩa nhiều đến Vô Lượng. Trang thiện nam ! Kinh này ví như một hạt giống, sanh ra trăm ngàn hạt giống. trong trăm ngàn hạt giống, mỗi hạt giống lại sanh ra trăm ngàn muôn ức. Như vậy lần lần tăng trưởng cho đến vô lượng. Kinh điển này cũng như vậy. Từ một pháp sanh ra trăm ngàn nghĩa, mỗi mỗi nghĩa lại sanh ra trăm ngàn muôn, như vậy lần lần tăng trưởng cho đến vô lượng vô biên nghĩa. Đây là phần thứ hai có công đức, lực, khó nghĩ bàn
HỎI:213 ) -* Phần thứ ba kinh Vô lượng nghĩa này có công đức lực thật khó nghĩ bàn như thế nào ?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Nếu có chúng sanh nào nghe đặng kinh Vô Lượng Nghĩa, hoặc đọc qua một phen, hay một bài kệ, dẫn đến một câu, đặng pháp Đà La Ni, thông đạt trăm ngàn muôn ức nghĩa. Chừng ấy dầu phiền não vẫn còn mà coi như không có, vào chốn sanh tử nguy hiểm mà ý tưởng cứng cõi không sợ sệt. đến với chúng sanh ý tưởng thương xót. Đối với giáo lý khởi ý tưởng mạnh mẽ, cũng như lực sĩ tráng kiện gánh vác trì kéo những vật nặng.
HỎI: 214 )-*Hành giả trì kinh này cũng được công đức gì ĐÁP:Người trì kinh này cũng như vậy, hay gánh vác những nhiệm vị lớn lao Vô Thượng Bồ Đề, dìu dắt chúng sanh ra khỏi sanh tử. Mặc dầu mình chưa được tế độ mà đã tế độ kẻ khác. Như ông chủ đò thân mang bệnh nặng, bốn vóc không an, nghỉ đậu bên này sông, sẵn có ghe thuyền vững chắc, phải lo sắp đặt những dụng cụ đưa đò, cho khách qua sông. Người thọ trì kinh này cũng lại như vậy.
Tuy còn cái thân lẫn quẩn trong năm đường ba cõi. Một trăm tám thứ bệnh mãi mãi theo đuổi buộc ràng đậu nghỉ bên này bờ Vô minh lão tử mà có kinh đại thừa vững chắc, mà sắp đặt đủ Vô Lượng Nghĩa dùng hóa độ chúng sanh. Chúng sanh nghe theo giáo pháp tu hành, sẽ đặng thoát khỏi đường sanh tử nguy hiểm. Đây là phần thứ ba kinh này có công đức, lực, thật khó nghĩ bàn.
HỎ: 215 ) -* Phần thứ tư kinh Vô Lượng Nghĩa có công đức lực thật khó nghĩ bàn như thế nào ?
ĐÁP: Đức Như Lai thường chiếu có đến người này mà diễn nói kinh pháp, người này nghe theo không sao lãng trở lại tùy cơ duyên vì chúng sanh nói các giáo pháp. Người ấy ví như bà phu nhân của quốc vương hạ sanh vương tử. Hoặc một ngày ,hai ngày cho đến bẩy ngày. Hoặc một tháng cho đến bẩy tháng. Hoặc một năm cho đến bẩy năm. Tuy chưa đủ chăm nom việc nước, mà đã được quần thần dân chúng tôn kính, Bà con với các vị Đại Vương tử, Quốc Vương và phu nhân gần gủi nói năng, nâng nui trìu mến. Bởi vì còn thơ ấu vậy.
HỎI: 216 )-* Người trì kinh Vô Lượng Nghĩa cũng như thế nào ?
ĐÁP: Người trì kinh này cũng lại như vậy, các đức Phật ví như vị Quốc Vương, Kinh Vô Lượng Nghĩa ví như bà Phu nhân. Hai bên hòa hợp sanh ra bồ tát Vương tử. Nếu vị Bồ Tát nghe đặng kinh này. Hoặc đọc một câu hay một bài kệ. hoặc đọc qua một phen hay là trăm ngàn muôn ức phen. Tuy chưa thấu tột chân lý. Tuy chưa chuyển đại pháp luân. Phạm âm vang rền chấn động ba ngàn đại thiên quốc độ mà đã được hàng tứ chúng Bồ tát tôn trọng kính ngưỡng, làm bà con với các vị đại Bồ Tát. Tỏ thấu những pháp bí mật của các đức Phật. Tự nói pháp nào cũng hợp với đạo lý không sai khác. Thường được đức phật thương yêu che chở, bởi vị bồ Tát này mới phát tâm tu học vậy. Đây là phần thứ tư kinh này có công đức, lực, thật khó nghĩ bàn.
HỎI:217) -*Đại trang nghiêm Bồ Tát hỏi Phật phần thứ năm kinh Vô Lượng Nghĩa có công Đức ,lực, thật khó nghĩ bàn như thế nào ?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Nếu có trang thiện nam, người thiên nữ, nào, Phật còn tại thế hay đã diệt độ rồi. Mà thọ, trì, đọc, tụng, biên chép,kinh Vô Lượng Nghĩa thẳm sâu vô thượng này. Người ấy tuy còn đủ các thứ phiền não buộc ràng. Chưa xa lìa được những việc hành động phàm phu,thực hiện được đạo Bồ Đề. Một ngày kéo dài trăm kiếp, Trăm kiếp rút ngăn lại một ngày. Làm cho chúng sanh vui mừng tin phục. Những thiện nam, người thiện nữ ấy giống như con rồng con mới sanh bẩy ngày mà đã biết nổi mây phun mưa. Đây là phần thứ năm kinh này có công đức, lực, thật khó nghĩ bàn.
HỎI:218 ) -* Đại Trang Nghiêm Bồ Tát bạch Phật phần thứ sáu kinh này có công đức lực thật khó nghĩ bàn như thế nào?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Như có thiện nam, người thiện nữ, hoặc Phật còn tại thế hay đã diệt độ rồi. Mà thọ, trì ,đọc, tụng, biên, chép, giảng, nói kinh này. Tuy còn đủ thứ phiền não, lại vì chúng sanh thuyết pháp dạy cho xa lìa những thứ phiền não, trừ dứt sự khổ ở đời. Chúng sanh nghe rồi tu hành đặng pháp ngộ đạo, chứng quả đồng với đức Phật thuyết pháp không sai khác.
HỎI:219 )-*Đức Phật dùng phương tiện gì ?
ĐÁP: Ví như vị Vương tử, tuy còn thơ bé, nhằm khi Quốc Vương đi tuần du hay bệnh hoạn, ủy thác việc nước cho vương tử trông nom. Vương Tử phụng hành lệnh Quốc vương, dạy bảo bá quan quần thần, những biện pháp trị an, nhân dân quốc độ đều được yên ổn, Cách trị an của vương tử đồng với cách trị an của Quốc vương không sai khác.
HỎI: 220 )-* Hành giả trì kinh này cũng như thế nào ?
ĐÁP: Những người trì kinh này cũng lại như vậy. Đức Phật còn tại thế hay đã diệt độ rồi, người trì kinh Pháp Hoa tuy chưa an trụ bậc Bồ Tát, từ sơ địa đến bất động địa, mà y theo giáo pháp của các đức Phật dùng để giảng giải, chúng sanh nghe rồi Hết lòng tu hành, diệt trừ phiền não, đặng pháp chứng quả đến ngộ Đạo. Đây là phần thứ sáu của kinh này có công đức, lực, thật khố nghĩ bàn .
HỎI: 221) -* Đại Trang Nghiêm Bồ Tát xin Ngài nói rõ phần thứ bẩy kinh này có công đức lực khó thể nghĩ ban ?
ĐÁP: Đức Phật dạy : Trang thiện nam , người thiện nữ, hoặc Phật còn tại thế hay đã diệt độ rồi, đặng nghe kinh này, vui mừng ưa thích,sanh tâm hy hữu thọ, trì, đọc, tụng, biên chép, giảng nói, tu hành theo kinh, phát Bồ Đề tâm, sanh các căn lành, khởi ý Đại Bi hóa độ hết thảy chúng sanh, còn đang khổ não, trang thiện nam này tuy chưa tu hành sáu Ba La Mật mà sáu Ba Mật tự nhiên hiển hiện. Đương đời liền đặng vô sanh pháp nhẫn, sanh tử phiền não lập tức tiêu tan, chứng lên bậc Thất Địa là địa vị của Bồ Tát.
HỎI: 222 )-*Người trì kinh này cũng như thế nào ?
ĐÁP:Ví như: Người có sức mạnh giúp Vua trừ giặc, giặc đã trừ xong, nhà vua rất vui mừng, cắt nửa phần đất trong nước mà ban thưởng cho người ấy, Kẻ thiện nam ,người thiện nữ thọ trì kinh này cũng lại như vậy.
Đối với bạn đồng tu lại có năng lực mạnh mẽ lạ thường, pháp báu lục độ không cầu mà tự đến, Giặc thù oán sanh tử lập tức tiêu tan, Chứng quả vô sanh Pháp Nhẫn, được ban thưởng nửa phần quốc độ Và đồ trâu bửu an hưởng khoái lạc. Đây là phần thư bẩy kinh này có công đức , lực, thật khó nghĩ bàn.
HỎI: 223 ) -* Đại Trang Nghiêm xin Ngài nói rõ phần thứ tám của kinh này có công đức, Lực, thật khó nghĩ bàn ?
ĐÁP:Đức Phật dạy: Như có thiện nam hay người thiện nữ nào khi Phật cồn tại thế hay đã diệt độ rồi. Người nào gặp kinh điển này, cung kinh tin tưởng cũng như gặp Phật, ưa mến thọ,trì,đọc, tụng,biên chép đầu đội, phụng hành theo đây, trì giới , nhẫn nhục, kiên cố và thực hành phương pháp bố thí., mở lòng từ bi sâu rộng, đem kinh đại Thừa Vô Lượng Nghĩa này ra giảng nói cho mọi người nghe. Gặp người không tin có tội phước quả báo, đem kinh này ra dùng đủ phương tiện giảng nói làm cho người phải tin theo, nhờ oai lực của kinh này,khiến cho tâm người kia hồi đầu thức tỉnh. Tín tâm đã phát khởi thì được tinh tấn mạnh mẽ. HỎI: 224 )-* Oai lực của kinh Vô Lượng Nghĩa như thế nào ?
ĐÁP:Nhờ oai lực kinh này mà đặng đạo chứng quả. Cho nên người thiên nam cùng người thiện nữ, nhờ công đức kinh này giáo hóa, nên hiện đời chứng vô sanh pháp nhẫn. Đặng nên bậc Sơ Địa, làm bà con với các vị Bồ Tát, đặng mau thành tựu chúng sanh, tịnh Phật Quốc độ không bao lâu đặng Đạo Vô Thượng Bồ Đề. Đây là phần thư tám kinh này có công đức, lực, thật khó nghĩ bàn.
HỎI: 225 ) -* Đại Trang Nghiêm Bồ Tát xin Ngài nói rõ phần thứ chín kinh này có công đức, lực,thật khó nghĩ bàn ?
ĐÁP: Đức Phật dạy tiếp nếu có Trang thiện nam người thiện nữ, hoặc đức Phật còn tại thế hay đã nhập diệt rồi, Gặp kinh này vui mừng phấn khởi, đặng chưa từng có thọ, trì, đọc, tụng, biên chép, cúng dường, phân biệt giảng nói Kinh Vô Lượng Nghĩa cho mọi người nghe, liền đó các nghiệp chứơng nhiều đời lập tức tiêu tan, tâm tánh trong sạch.
HỎI: 226 )-*Thọ trì kinh Vô Lượng Nghĩa có công đức, lưc, như thế nào ?
ĐÁP:Đặng pháp Vô Ngại biện tài, sáu Pháp Ba La Mật lớp lang rực rỡ, đặng các pháp Tam Muội, Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, Các pháp đại tổng trì tinh tấn chẫm hẫm, vượt lên Sơ Địa, có tài biến hóa thân hình khắp mười phương quốc độ. Tế độ hai mươi lăm loài chúng sanh khổ não, đều đặng giải thoát. Cho nên kinh Vô Lượng Nghĩa có năng lực như thế. Đây gọi là phần thứ chín kinh này có công đức, lực, thật khó nghĩ bàn.
HỎI: 227 ) -* Đại Trang Nghiêm Bồ Tát xin Ngài nói rõ công đức lực phần thứ mười của kinh Vô Lượng Nghĩa ?
ĐÁP: Đức Phật Ngài dạy tiếp: Này trang thiện nam, người thiện nữ. Khi Phật còn tại thế hay đã diệt độ rồi.Gặp kinh này phấn khởi vui mừng, sanh tâm ít có. Chính mình thọ, trì, đọc, tụng, biên, chép, cúng dường theo lời dạy trong kinh. Lại đem dạy khuyên người xuất gia, tại gia, thọ, trì, đọc, tụng, biên, chép, thuyết, giảng, tu hành đúng cách. Những người này tu hành đặng Đạo chứng quả do nhờ oai lực của kinh mà cũng nhờ tâm từ của người thiện nam ,thiện nữ khuyến hóa.
HỎI: 228 )-* Kinh Vô Lượng Nghĩa có công đức,Lực như thế nào ?
ĐÁP: Trang thiện nam, thiện nữ hiện đời đều đặng Đà La Ni, còn ở địa vị phàm phu, tự nhiên phát khởi thệ nguyện rộng lớn, vô số, vô số. Mong sao đại nguyện do lòng đại bi này phát khởi được mau thành tựu, hầu cứu độ tất cả chúng sanh, gồm chứa các hạt giống lành gieo vãi sự lợi ích cùng khắp, nhuận thấm khô khan, đem pháp được ban bố mọi loài an vui khoái lạc.
Lần lần vượt lên địa vị Pháp Vân, lòng lành bao phủ như mây, ân đức gội nhuần khắp cả, cứu khổ chúng sanh, dắt dẫn vào đường đạo pháp, những người này không bao lâu sẽ đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây gọi là phần thứ mười kinh này có công đức, lực, thật khó nghĩ bàn.
HỎI:229 )-* Kinh Vô Lượng Nghĩa có công đức, lực,như thế nào ?
ĐÁP: Kinh Vô Lượng Nghĩa này thâm sâu vô thượng, có thế lực oai thần rất lớn, không còn pháp nào cao hơn. Hãy làm cho chúng sanh ở địa vị phàm phu, đều thành quả Thánh, Xa lìa sanh tử, đến chỗ an vui, cho nên kinh này gọi là kinh Vô Lượng Nghĩa. Khiến cho chúng sanh còn ở địa vị phàm phu được nẩy nở vô số mầm đạo pháp
Của các vị Bồ Tát. Cây công đức cành lá xum xuê đắp bồi lần lần to lớn. Cho nên kinh này cũng gọi là bất khả tư nghì công đức, lực. Thật khó nghĩ bàn.
HỎI:300 )-* Bây giờ Đại trang nghiêm Bồ Tát cùng tám muôn vị Bồ Tát đồng thanh bạch Phật, như thế nào ?
ĐÁP:Thế Tôn, Y lời Phật nói: Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nhiệm mầu thẳm sâu, vô Thượng, văn lý Chân Chánh không pháp nào cao hơn. Các Đức Phật ba đời hộ trì, không sợ ma quân ngoại đạo lẫn lộn, không sợ tà kiến sanh tử quấy phá. Cho nên kinh này mới có mười phần công đức, lực, thật khó nghĩ bàn. Đem lại cho chúng sanh nhiều lợi ích, Các Bồ Tát đều đạt Vô Lượng Nghĩa Tam Muội. hoặc đặng trăm ngàn môn Đà La Ni, Hoặc chứng các địa vị Bồ tát, hoặc chứng vô sanh Pháp Nhẫn, hoặc chứng Duyên Giác, Tu Đà Hàm. Tư Đà Hàm. A la Hàm. A La Hán. Đức Thế Tôn từ mẫn sẵn sàng vì chúng sanh nói pháp như vậy. HỎI: 301 )-* Kinh Vô Lượng Nghĩa có công đức, lực, như thế nào ?
ĐÁP: Chúng con đăng lợi ích kỳ lạ từ xưa tới nay chưa từng có được nghe như vậy,Ân lành của Thế Tôn khó đền đáp được. Đại Trang Nghiêm Bồ Tát và muôn ngàn vị đại Bồ Tát bạch đức Phật vừa dứt lời. Liền Đó Ba Ngàn đại thiên thế giới sáu phương chấn động. Trên hư không rưới xướng những thứ hoa: hoa Thiên ưu bát la, hoa câu vật đà v. v.. Các đồ : Thiên Hương, Thiên y, Thiên anh lạc v.v.. Những thứ: Thiên Trang , Thiên Phan, Thiên hiên cái, sắp đặt thứ lớp trong ngoài rực rỡ. Nhạc trời trổi lên ca ngợi đức Phật.
HỎI: 302 )-*Bấy giờ Đức Phật bảo ông Đại Trang Nghiêm và tám muôn vị đại bồ Tát Ma Ha Tát như thế nào ?
ĐÁP: “ Các người đối với kinh này, cần phải phát tâm thành kỉnh, Y theo giáo pháp tu hành, hóa độ tất cả chúng sanh, để tâm lo lưu hành kinh điển, ngày đêm cần phải ân cần hộ trì, làm cho tất cả chúng sanh đều đạt pháp lợi. Lòng đại từ, đại bi của các ông mới thật là chân chính. Mang nguyện lực thần thông ái niệm hộ trì kinh này, chớ cho ngăn ngại. Qua đời sau phải lưu hành khắp Nam Diêm Phù đề.
Cho hết thảy chúng sanh đặng nghe thấy đọc, tụng, thọ, trì, biên chép, cúng dường. Nhờ nhân duyên này mà các người mau thành đặng Chánh Đẳng Chánh Giác.”.
HỎI: 303 ) -* Để tỏ lòng tôn kính, cúng dường Đức Phật các vị đại Bồ Tát thể hiện như thế nào ?
ĐÁP: Bấy giờ Đại Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát cùng tám muôn ngàn vị Đại Bồ Tát, đến trước Phật cúi đầu làm lễ đi quanh theo mình Phật trăm ngàn vòng, rồi quỳ gối đồng thanh bạch Phật; “ Thế Tôn, chúng con vui mừng, nhờ lòng từ mẫn của đức Thế Tôn, vì chúng con mà nói kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa thẳm sâu nhiệm màu Vô Thượng này.
HỎI: 304 )-* Sau khi Như Lai diệt độ chúng con phải làm gì ?
ĐÁP:Kính vâng, theo lời dạy của Thế Tôn, sau khi Thế Tôn diệt độ, phải đem kinh điểm này lưu hành rộng khắp cho hết thảy chúng sanh, được thọ, trì, đọc, tụng, biên chép, giảng nói, cúng dường. kính xin đức Thế Tôn chớ Để lòng lo lắng, chúng con sẽ đem nguyện lực giúp cho hết thảy chúng sanh, đều đặng oai thần phước lực của kinh điển này”.
HỎI: 305 ) -* Ngfhe lời nguyện của các vị đại Bồ Tát Đức Phật dạy thế nào ?
ĐÁP: Bấy giờ đức phật thốt lời khen rằng: “ Lành thay! Lành Thay! Này các trang thiện Nam! Các người hiện nay mới thật là Phật Tử, lòng đại từ đại bi đủ sức nhổ tận gốc khổ, cứu độ ách nạn, làm phước điền cho hết thảy chúng sanh. Làm vị đại lương đạo cho hết thảy chúng sanh, là vị đại y chỉ cho hết thảy chúng sanh, Làm vị đại thí chủ cho hết thảy chúng sanh. Thường đem pháp lợi ban bố cùng khắp”.
Bấy giờ đại chúng trong pháp hội nghe đức Phật nói kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rồi, thảy đều vui mừng thọ trì giáo pháp cúi đầu làm lễ mà lui ra.
HỎI: 306 ) -* thế nào gọi là tổng trì ?
ĐÁP: Tổng trì tiếng Phạn gọi là Đà La Ni, dịch là tổng trì, tác trì, có lực dụng giữ gìn các pháp lành không cho tan mất, giữ gìn các pháp dữ không cho sanh khởi.
HỎI: 307 )-* Bất động địa là thế nào ?
ĐÁP: Bất Động Địa là Bổ Tát này thành tựu Ba La Mật, đoạn trừ hoặc (sự tư tưởng mê lầm) phát khởi vô tướng quán, tự nhiên vô công dụng ( có tác động tự nhiên không phải đợi tạo tác mới có) nối nhau mãi mãi gọi là Bất động địa
HỎI: 308) -* Thế nào gọi là Thủ Lăng Nghiêm tam muội ?
ĐÁP: Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội dịch là Kiến Tướng Nhất Thiết, sự cảnh phân biệt được các hành tướng tam muội nhiều ít, nên gọi là kiện tướng, hết thảy đều được rốt ráo bền chắc, không lay đông gọi là nhất thiết sự cảnh, kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam muội có nói: “ Bồ Tát đặng thủ Lăng Nghiêm Tam Muội này rồi. Có thể đem ba ngàn đại thiên thế giới nhét vào hạt cải, mà những sông núi Nhật Nguyệt tinh tú cũng vẫn hiện ra như thường không chút nào chật hẹp”. Đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy rõ định Thủ Lăng Nghiêm có thế lực không thể nghĩ bàn .
HỎI: 309 ) -* tại sao lại gọi là Pháp Vân Địa ?
ĐÁP: Pháp Vân Địa là vị bồ Tát này đã thành tựu trí Ba La Mật, trừ sạch hết tư, hoặc. Đầy đủ công đức như mây bao phủ hư không đổ nước xuống tràn lan không bờ không bến, nên gọi là Pháp Vân.
HỎI: 310 ) -* Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Lực Kinh là ý nghĩa gì ?
ĐÁP:Bất Khả Tư Nghị Công Đức Lực kinh là Có 10 phần công đức lực. Về lý nhiệm mầu sâu xa. Về Sự kỳ lạ ít có, không thể đem tâm suy nghĩ được. Không thể đêm lời nói mà luận bàn được. Nên gọi là Bất Khả Tư Nghị công đức,lực,kinh.
HỎI: 311 )- * Giải thích ý nghĩa phẩm mười phần công đức là gì ?
ĐÁP: Đức Phật Ngài dạy như sau: Hành giả Pháp Hoa khi đầy đủ đức hạnh vẹn toàn, trang bị một tri kiến chính xác đúng như thật, hành giả nhấn thân vào đời, chứng nghiệm những bài học Pháp lý, được đưa vào trong thực tế xã hội.
Mỗi người tùy tư thế hành đạo mà sử dụng được từng phần công đức khác nhau. Nếu hành giả may mắn vào được thế giới Pháp Hoa nhận được những công đức bất khả tư nghị.
HỎI:312 )-* Thọ, trì, kinh Vô Lượng Nghĩa được công đức lực như thế nào ?
ĐÁP:Con người Pháp Hoa Mới thọ trì được kinh Pháp Hoa.. Con người Pháp Hoa là Bồ Tát dưới dạng thứ hai, không còn là con người phàm phu. Vì vậy, tu các pháp thuộc Nhân, Thiên. Đức Phật ví như ta làm việc “ cái giá phải trả một ngày”, hết sức cực khổ mà công đức không được là bao. Tất cả những việc hành giả làm dù hữu lậu hay vô lậu. Nếu biết nương theo Bồ Tát hạnh ( 4 hạnh) đều được chuyển sang thế giới thật báo. Nhờ vậy, tuy thân còn ở Ta Bà này đã liên hệ được thế giới Đức Phật.
HỎI:313 )-* Hành giả Pháp Hoa bị kẹt vào đời sống thì công đức, lực, như thế nào ?
ĐÁP: Khi hành giả làm bằng tâm vô cầu, mọi công đức mầu nhiệm sẽ tuần tự hiên ra.
khi đặt kế hoạch làm việc gì liền kẹt vào cuộc sống: Sắc, thọ, tưởng, hình, thức, nghĩa là bị con người ngũ uẩn ngăn che, không thể nhận được mầu nhiệm nữa./.
Mười công đức của kinh Vô Lượng Nghĩa dưới đây là kết quả của Bồ Tát Tam Thừa chỉ bằng Bồ Tát sơ phát Tâm ở Viên Thừa. Thường Tịnh Quang Tịnh Độ.
CÔNG ĐỨC THỨ NHẤT:
HỎI: 314 ) -* Xin Ngài giải thích công đức thứ nhất chuyển phiền não thành Bồ đề ?
Đáp: Đức Phật ngài dạy: Khi hành giả thọ trì kinh, tâm, duyên được với kinh và Phật công đức sanh ra.
Những ngăn che của phàm phu bị tan đần, sáu căn, thanh tịnh, tất cả phiền não trước kia tác hại hành giả bao nhiêu, nay đều chuyển thành phương tiện tốt để hành đạo. Trước đó Đức Phật chuyển pháp Tứ Thánh Đế ở thành Ba La nại. Ngài phải đoạn trừ phiền não. Vì đối với tâm chán nản, mệt mỏi của chúng hội bấy giờ phiền não là chướng ngại.
Nay Bồ Tát bị cách ấm mang thân phàm phu mà cảm được kinh hay niệm danh hiệu Phật, tất cả nghiệp xấu trở thành tánh Bồ Đề, ác hóa thành thiện,ví như hoa Sen hút bùn nhơ trở ra hương Sen thơm ngát.
HỎI:315 )-* Nương công đức, Thần lực của kinh hành giả như thế nào ?
ĐÁP: Nương theo công đức kinh, Thần lực của Phật, hành giả chuyển đổi toàn bộ con ngừơi trược ác, tham lam, ganh ghét, sân hận ,si mê,không còn tác dụng nữa, Biến thành tâm Đại Bi nhẫn nhục ,trí tuệ, Tuy nhiên, hành giả khởi niệm đắc được pháp này tức thời công đức tự động xuất hiện. Sử dụng được công đức bất khả tư nghì thứ nhất, hành giả có khả năng hành đạo như bồ tát Sơ Địa. Chẳng những không qua giai đoan tu của hàng Thanh Văn. Bỏ luôn được 40 năm từ giai đoạn Bồ tát thập tín đến thập trụ, thập hạnh , thập hồi hướng, để đi thẳng vào Bồ Tát thập địa.Đạt được công đức thư nhất ,tự động công đức thứ hai sanh ra.
CÔNG ĐỨC THỨ HAI:
HỎI: 315 ) -* Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Đức Phật: Tu một pháp, thông đạt được tất cả các pháp do duyên cớ làm sao ?
ĐÁP:Đức Phật dạy: Ngài Trí Giả đại Sư, từ Phật giới quan sát tất cả các Pháp Phật dạy, xuống đến tận cùng chín loài chúng sanh, ở thế giới khác đều không chướng ngại. Khi khởi đầu Phật nói Tứ Đế cho năm anh em Kiều Trần Như các ông tiếp nhận được dễ dàng, pháp này là tư nghì sanh diệt Tứ Thánh đế. Không phải là pháp chân thật vì có thể tu và hiểu bằng trí thức phàm phu.
Từ pháp sanh diệt lần tu lên tâm niệm chúng hội đổi thay từ giai đoạn, nhận được ý nghĩa khác nhau, quả vị theo đó mà lớn dần, đắc được pháp Noãn, Pháp Đảnh, Pháp Nhẫn, Quả tu đà hoàn,, Tư đa Hàm, A La Hán, đến giai đoạn này, chúng hội đã bước sang bất tư nghì sanh diệt Tứ Thánh Đế, Vượt ngoài hiểu biết của loài người.
HỎI:317 )-*Công đức thứ hai tiếp tục sanh ra như thế nào?
ĐÁP: Khi đạt quả vị A La Hán chúng hội vượt qua ranh giới sanh diệt môn, vào cảnh giới bất tư nghì, bất sanh, bất diệt tứ đế, hành giả hoàn toàn tự tại, nói pháp không chướng ngại, cùng những ngôn ngữ ban đầu, mà nay giải được vô số bài toán của thế gian. Đó là đường hành đạo thông thường của loài người.
HỎI:318 )-* Hành giả Pháp Hoa sanh công đức thư hai như thế nào?
ĐÁP:Tuy nhiên, hành giả Pháp Hoa không tu theo phương tiện pháp của Thanh Văn. Hành giả đốt giai đoạn vượt bỏ thời gian 40 năm theo đức Phật, nghe pháp, để đạt đến triền Pháp Hoa. Hành giả dùng tâm hoàn toàn thanh tịnh. Vô nhiễm trước mọi phiền não, trần lao, tu một pháp mà thông đạt được tất cả các pháp, ở giai đoạn này, hành giả vẫn làm những việc bên ngoài thấy tầm thường như lạy Phật, tụng kinh, nhưng tạo được lực dụng bất tư nghì, tự nhiên thông đạt được với tam thiên Đại Thiên thế giới.
HỎI:319 )-*Công đức thứ hai hành giả tiếp tục giảng pháp như thế nào ?
ĐÁP: Hành giả thông đạt các pháp Phật, Căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, Vì vậy, một câu, một chữ, trong kinh giảng thành vô số nghĩa, nói một ngày, một tháng, một năm cũng không hết được. Tất cả chúng sanh đến với hành giả biết chúng muốn gì ? làm gì ? Tu pháp gì ? Tùy căn cơ mà dạy cho họ được lợi ích.
HỎI: 320 )-*Ngài ví dụ như thế nào ?
ĐÁP: trường hợp này ở Nhật Bản Ông Ikeda sử dụng được công đức này. Ông mồ côi cha mẹ làm nghề bán báo được Ngài Nhật Đạt Thượng nhận dạy niệm đề kinh, bất thần ông mất tiếng ngọng, trở thành Pháp Sư nói giỏi hơn thầy, nhờ niệm đề kinh, ông được tất cả các Pháp, Nương thần lực kinh,ông tự động giải đáp được tất cả các vấn đề ông không phải học. thành tựu công đức thứ hai, hành giả tuy còn mang thân phận phàm phu, nhưng làm việc như hàng Bồ Tát Nhị Địa.
CÔNG ĐỨC THỨ BA:
HỎI: 321 ) -*Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Đức Phât Hành giả Pháp Hoa còn phiền não vẫn được tự tại trong ba cõi duyên cớ làm sao ?
ĐÁP: Đức Phật Ngài dạy: Hành giả thông được các pháp, lúc đó hành giả qua lại ba cõi, lên xuống chín đường hoàn toàn không chướng ngại, Không ô nhiễm, Mặc dầu còn mang thân ngũ ấm, đã liên hệ được với chư Phật, tương tục ra, vào sanh tử, tự do, từ Bồ Tát giới đến Địa ngục giới, tùy ý thay đổi sắc thân, bấy giờ hành giả đủ tư cách đảm nhiệm sứ mệnh mà Phật giao phó. Dù ở trong nhà lửa Tam Giới, vẫn an nhiên tự tại đưa mọi người về thế giới Cực Lạc. Đây là tư thế của Bồ Tát ở Ta bà, để trợ hóa cho Đức Phật, tương đương với Bồ Tát Đệ Tam Địa.
CÔNG ĐỨC THỨ TƯ
HỎI: 322 ) -* Bồ Tát Ma Ha Tát xin Đức Phật cho biết hành giả Pháp Hoa chưa độ mình mà đã độ cho người duyên cớ làm sao ?
ĐÁP: Tuy hành giả còn phàm phu vẫn làm bạn với Bồ Tát mười phương. Cũng như Ngài Huệ Năng Thiền Sư lập giới đàn Vô Tướng để đưa Trí Giả đến thế giới Chư Phật. Tham dự vào Bồ Tát học xứ ngang với Bồ Tát hành đạo trong mười phương.
Dù chỉ mới phát tâm Bồ Đề hành giả cũng được coi là pháp Vương tử. Cha là Phật, Mẹ là kinh Pháp Hoa. Bồ Tát mới phát tâm được ví như Hoàng tử. Dù còn nằm trong nôi, nhưng đã được toàn dân kính nể, làm bạn với các con vua khác.
HỎI:323 )-*Công đức thứ tư tiếp tục sảnh ra như thế nào? ĐÁP:Ở vị trí đầu đẳng với bồ Tát mười phương, hành giả một mặt trụ ở Ta Bà, một mặt tham dự với các bồ Tát Học Xứ, trau dồi trí tuệ. Vì vậy, tuy hành giả còn nhỏ, nhưng nhận được Phật Lực, Pháp Lực, Bồ Tát lực mười phương tạo được lực dụng bất khả tư nghì. Ngày đêm đều có Thiên, Long, Bách Bộ, che chở. Ác ma ngoại đạo không xâm phạm được
CÔNG ĐỨC THỨ NĂM
HỎI:334 ) -*bồ Tát Ma Ha Tát Bạch Phật dạy: Hành giả tuy còn phiền não mà làm việc như đã có thần thông duyên cớ làm sao?
ĐÁP: Chư Phật dạy: Hành giả thọ trì kinh Vô Lượng Nghĩa, kinh Pháp Hoa, đạt được bốn điều công đức nói trên. Hành giả tuy còn phiền não, trông vào thật tầm thường, nhưng làm việc phi thường.Đó là Bồ Tát nội bí ngoại hiện, bề ngoài thể hiện thân phàm phu hay Thanh Văn mà bên trong đầy đủ thần thông, độ được vô số chúng sanh. Việc làm của các Ngài vượt ngoài sự hiểu biết của phàm phu . Họ hành đạo dưới dạng Chân Như, tác động cho người, Chính người này cũng không hay không biết. Kinh ví như Long Cung Thái Tử, mới sanh được bẩy ngày mà đã biết làm mây nổi lên và mưa tuôn xuống. Hành giả ở giai đoạn này ngang hàng với Bồ Tát Đệ Ngũ Địa.
CÔNG ĐỨC THỨ SÁU
HỎI:335 ) -* Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Đức Phật tuy hành giả còn phàm phu mà làm cho mọi người dứt phiền não duyên cớ làm sao ?
ĐÁP: Chư Phật dạy:Hành giả còn đủ phiền não ràng buộc nhưng đã làm bóng mát nương tựa cho chúng sanh, những tâm hồn đau khổ đến tuyệt vọng, có khi tan thân mất mạng. Nếu đến với hành giả đều được bình ổn, thậm chí chỉ nghe tên, hoặc chỉ nghĩ đến hành giả cũng được sự an lành.
Nương công đức kinh hành giả trấn át được nghiệp lực chúng sanh, trong nhất thời ngang hàng với Bồ Tát lục Địa. được công đức thứ sáu này, lời nói nào của hành giả cũng thành sự thực, Mọi người nương theo tu hành cũng được đắc Pháp, đắc quả.
Kinh ví như hoàng tử còn nhỏ nhờ uy đức của vua cha nên cai trị được toàn dân. Hành giả cũng vậy. tuy còn ở địa vị phàm phu, nhưng nhận được Phật lực truyền vào thay thế Chư Phật giáo hóa chúng sanh, mọi việc làm đều là Phật Sự
CÔNG ĐỨC THỨ BẨY
HỎI: 336) -* Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật Tự nhiên được Ba La Mật và các Thần Thông duyên cớ làm sao ?
ĐÁP: Đức Phật dạy, đại chúng của chư Phật như Ngài Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề v.v…Theo Phật từ ban đầu gia công tu hành 37 trợ đạo phẩm chứng được Niết Bàn.
Nay hành giả trì kinh Vô Lượng Nghĩa và kinh Pháp Hoa, không tu 37 trợ đạo phẩm mà tự nhiên các trợ đạo phẩm tự nhiên hiển hiện thành tựu tốt đẹp. Thật vậy, Hành giả không cần phải trải qua nhiều kiếp tu pháp đoạn dục khử ái. Chỉ nhất tâm thọ trì kinh Vô lượng Nghĩa và kinh Pháp Hoa. Tự đông nhàm chán mọi đắm say dục lạc thế gian, hành giả không tu Bát Chánh Đạo, pháp này cũng tự nhiên thành tựu.
HỎI: 337 )-* Công đức thứ bẩy tiếp tục sanh ra như thế nào ?
ĐÁP: Vì trong một niệm tâm thanh tịnh tương ứng với kinh thấy đúng như thật không còn tà dại.
Chẳng những 37 trợ đạo phẩm và sáu pháp Ba La Mật hành giả cũng không tu nhưng tự nhiên chứng đắc..
Tuy nhiên đó không phải thực chứng của hàng A La Hán Bồ Tát đạt được, hành giả nương vào công đức kinh và thần lực của Chư Phật có được những pháp bất khả tư nghì này.
Ngược lại: Hành giả chỉ khỏi một niệm tăng thượng mạn liền rớt trở lại thân phận hẫm hưu của phàm phu.
CÔNG ĐỨC THỨ TÁM
HỎI: 338 ) -* bồ Tát Ma Ha Tát, thỉnh Phật những người chống trái thành thuận hòa sở dĩ tại sao ?
ĐÁP: Đức Phật dạy : Hành giả có khả năng làm cho người phát tâm Bồ Đề. Người đến với hành giả thực chưa phát tâm, nhưng nhờ nương theo công đức kinh, hành giả chuyển đổi được họ. Bồ Tát sơ phát tâm khởi một niệm tâm thanh tịnh có duyên với kinh, sẽ khởi dậy tâm Bồ Đề cho người khác. Nhưng niệm sau không thanh tịnh nên không trưởng dưỡng Bồ đề tâm này một cách liên tục.. Các vị Bồ Tát lớn thanh tịnh miên viễn, công đức tràn đầy, bất cứ lúc nào nghĩ đến Ngài chúng sanh cũng được thanh tịnh .
CÔNG ĐỨC THỨ CHÍN
HỎI: 339 )- *Bồ Tát Ma Ha Tát thỉnh Phật, hành giả Pháp Hoa túc nghiệp dứt, được nhạo thuyết biện tài, Chúng Đà La Ni duyên cớ làm sao ?.
ĐÁP: Chư phật day: Hành giả đến giai đoạn này, những nghiệp còn lại nhất thời đều tan hoại, hành giả được nhạo thuyết biện tài, Chứng được Đà La Ni, tương đương với Bồ Tát Cửu Địa. bấy giờ hành giả thông suốt mọi vấn đề, không cần phải học, như hai vợ chồng ông OKANO ở Nhật bản được gọi là ông Hòa Thượng.
Khi ông, bà , phát tâm Bồ Đề, nương công đức kinh tu tập, cuộc sống của hai ông bà hoàn toàn đổi mới, từ một người thợ tầm thường, cả hai ông bà trở thành pháp sư nổi tiếng nhạo thuyết biện tài.
HỎI: 340 )-*Công đức thứ chín như thế nào ?
ĐÁP: Bất cứ ai đến với ông bà cũng tìm được sự bình an cho tâm hồn. Vì độ cảm kinh và lòng từ bi của ông bà liên tục nên công đức sử dụng và phước báo không thay đổi.
Đắc được pháp này, tuy còn ở địa vị phàm phu, đã phân thân đi giáo hóa khắp thế giới. Thậm chí dạy cả các loài thú tu hành. Hành giả thuyết pháp, khuyên dạy con người thứ hai, nên chính hành giả cũng không hay không biết. Vì vậy từ loài người đến loài cầm thú cảm ơn giáo hóa kéo đến quy ngưỡng.
CÔNG ĐỨC THỨ MƯỜI
HỎI: 341 ) -* Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật, Hành giả phàm phu thân hình Bồ Tát đạo, duyên cớ làm sao?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Hành giả sử dụng được công đức thứ mười tương đương với Bồ Tát Đẳng Giác. Tuy còn ở chốn phàm phu, đã phát được A Tăng Kỳ thệ Nguyện. tình thương của hành giả bằng với Quan Thế Âm phổ cập đến muôn loài mọi thế giới. Nhất thời đầy đủ hạnh nguyện của Phổ Hiền.
Nương công đức kinh hành giả giáo hóa được khắp mười phương. Một niệm tâm vọng động nổi lên, liền rớt trở lại thế giới phàm phu.
HỎI: 342 )-* Công đức thứ mười như thế nào ?
ĐÁP: Nhưng hành giả vẫn nhận được công đức của các thế giới khác gửi về nghĩa là bị đọa mà vẫn được tu.
Mười công đức nói trên được đức Phật xác định, Chỉ có Bồ Tát nhân gian mới xử dụng được. Bồ Tát nhân gian là Bồ Tát thương chúng sanh, trở lại cõi Ta Bà để hóa độ chúng sanh. Các Ngài thọ ngũ ấm thân nhưng bên ngoài vẫn có phiền não trần lao như mọi người, còn bị nghiệp tập quán chi phối. nhưng bên trong hoàn toàn thanh tịnh.
HỎI:343 )-*Công đức thứ mười tiếp như thế nào ?
ĐÁP: Khi hành giả thọ, trì, kinh, trong ngoài đều thanh tịnh, đương nhiên phá được bức màn vô minh thông, từ trong ra ngoài có lúc trở lại tư thế phàm phu. Nhưng các Ngài vẫn thanh tịnh, Vì Vậy, Phật nói Bồ Tát hiện thân vào Ta Bà độ sanh có kinh bảo vệ, không sợ mất kiếp.
NGƯỢC LẠI: Chúng sanh phàm phu bên trong, bên ngoài, đều ô nhiễm, nghiệp, tội lỗi, chưa đổi cảnh mà tâm ác đã hiện ra.Đây là chúng sanh phàm phu điên đảo. Vì năm món dục trôi lăn trong sanh tử. Không thể sử dụng được mười phần công đức này.
HỎI:344 )-*Kinh Vô Lượng Nghĩa quan trọng với kinh Pháp Hoa như thế nào ?
ĐÁP: Kinh Vô Lượng Nghĩa là bài giảng của Đức Thích Ca Mâu Ni ở trên núi Linh Thứu. Ngay trước khi giảng kinh Pháp Hoa. Kinh Vô Lượng Nghĩa gắn liền với kinh Pháp Hoa, được xem là dẫn nhập vào kinh Pháp Hoa. Tu tập kinh Vô Lượng Nghĩa không cần theo Ngài tu tập 40 năm Ngài thuyết Pháp. Ngài giảng nhiều kinh đều là Phương tiện. Nhưng Ngài chưa giảng sâu xa, Ngài chưa hé lộ chân lý tối hậu: “ Chân Thật”, Vì Ngài sợ chúng ta không nắm bắt được, Sự hiểu biết của hành giả còn kém, lòng tin chưa phát triển đầy đủ.
HỎI: 345 )-*Ngài giảng Chân Lý Tối hậu ở đâu ?
ĐÁP: Ngài nêu lời hứa quan trọng bài thuyết giảng sắp tới là kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Vì thế nếu không học kinh Vô Lượng Nghĩa thì ta không hiểu vị trí ,quan trọng trong kinh Pháp Hoa. Tất cả các bài giảng của Đức Thích Ca Mâu Ni, trong suốt thời gian Ngài tại thế, Cũng như không hiểu về Sự linh diệu của kinh Pháp Hoa.
HỎI: 346 )-*Bài trước nhan đề kinh Vô Lượng Nghĩa đã nêu ý quan trọng gì ?
ĐÁP: Nhan đề Vô Lượng Nghĩa đã diễn tả về Giáo Pháp của Vô Lượng Nghĩa đều phát sanh từ một Pháp độc nhất là : “Vô Tướng”. nhưng Ngài Thích Ca không giảng pháp này một cách chi tiết ở đây. Do Đó xuyên qua kinh này người ta mới hiểu ý nghĩa của Pháp ấy trình bày “ Vô Tướng” tường tận trong kinh Pháp Hoa, mà Ngài sẽ giảng sau đây.
HỎI: 347 )-*Ý nghĩa Vô Lượng Nghĩa như thế nào ?
ĐÁP: Ở đây Ngài nêu giáo lý của Vô Lượng Nghĩa rốt ráo, Ý nghĩa cho các Chân Lý được tuyên thuyết trong kinh Pháp Hoa, là bài giảng quan trọng nhất, trong các bài giảng mà Ngài còn tại thế. Nói một cách vắn tắt kinh Vô Lượng Nghĩa được thuyết giảng như là dẫn nhập vào kinh Pháp Hoa . Gọi là khai kinh của kinh Pháp Hoa.
HỎI:348)-*Kinh Vô Lượng Nghĩa bố cục như thế nào?
Kinh Vô Lượng Nghĩa gồm ba phẩm :
1/- Phẩm đức hạnh
2/-Phẩm Thuyết Pháp
3/- Phẩm Công đức
Phẩm Đức hạnh gọi là phẩm tựa
Phẩm thuyết Pháp gọi là phần chính kinh
Phẩm công đức gọi là phần kết thúc.Phẩm tựa của kinh được thuyết giảng vào thời Thượng Đẳng. sau rốt ở trong năm thời đồng một lúc với kinh Pháp Hoa.
HỎI: 349 )-* Ngài mở hội Pháp Hoa ở đâu ?
ĐÁP: Ngài đưa chúng hội lên núi Kỳ Xà Quật, tại thành Vương Xá, Hội chúng gồm ngàn hai trăm vị đại Tỳ Kheo, hơn sáu ngàn vị Tỳ kheo ni. Tám muôn ngàn vị Bồ Tát cùng với Ưu Bà tắc, ưu Bà Di, Vua chuyển Luân, Vua Ngân luân, Quốc vương, Vương Tử,Quốc Thần, Quốc dân, cùng với bà con số đến trăm ngàn muôn. Ngàì muốn tất cả chúng sanh đạt đến Niết Bàn. Quét sạch các “Quyền Thừa” để phát huy “Thật Tướng”.
Phẩm thuyết Pháp là phần chính của kinh Vô Lượng Nghĩa.
Phẩm Công Đức là phần kết thúc của kinh.
HỎI: 350 )-*Hành giả đọc kinh Vô Lượng Nghĩa được những ý nhĩa gì ?
ĐÁP: Đọc kinh Vô Lượng Nghĩa, do thấu hiểu, do tin tưởng, do thực hành, được thuyết giảng trong phần chính, người ta tôn trọng, thuyết giảng sẽ được hộ trì thiêng liêng.
HỎI: 351 )-* Đọc kinh Vô Lượng Nghĩa được những công đức gì ?
ĐÁP: Đọc kinh Vô Lượng Nghiã được 10 phần công đức lực thật khó nghĩ bàn:
1/- Phát Bồ Đề tâm
2/- Tổng trì tất cả các Pháp
3/- Đặng tư tưởng mạnh mẽ
4/- Tự độ chưa rồi lại độ cho người
5/-Thị hiện đạo Bồ Đề
6/- Gánh vác sự việc của Như lai
7/- Đặng vô sanh pháp nhẫn
8/- Tu được dễ dàng lại hay tế độ kẻ khác
9/- Trừ tất các nghiệp chướng
10/- Tích tụ căn lành
HỎI:352 )-* kinh Vô Lượng Nghĩa quan trọng như thế nào?
ĐÁP: Kinh Vô Lượng Nghĩa là cảnh giới sâu xa, mầu nhiệm,Chân thật, Thật tướng,thẳm sâu, Đức Phật hộ niệm, Mau chứng đạo Vô Thượng Bồ Đề. Kinh Vô Lượng Nghĩa đánh dấu 40 năm thuyết pháp của đức Phật. mở ra cánh cửa cho chúng Tam Thừa đã hoàn tất quá trình tu: Giới, Định, Huệ.Bước vào thế giới pháp Hoa. Nhận lãnh ấn chỉ của Đức Phật. Thay Ngài Giáo hóa thuyết Pháp ở cõi Ta Bà làm lợi ích hữu tình.
PHẨM TỰA DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH
HỎI: 353) -* Lược những ý chính trong Phẩm Tựa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là những ý gì ?
ĐÁP: Đức Phật giảng kinh Pháp Hoa ở núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá cùng với 1200 Tỳ Kheo, 6000 Tỳ Kheo Ni, 8000 Bồ Tát, Bách bộ Thiên, Long 70.000 Chư Thiên. Cùng với hội chúng.
Sau khi tứ chúng cúng dường và xưng tán, Phật nói kinh đại thừa Vô Lượng Nghĩa giáo Bồ Tát pháp Phật Sở hộ niệm. Nói kinh này xong, Ngài nhập chánh định vô lượng nghĩa xứ, khi đó Trời mưa hoa Đại Đà La, Ma Ha Đại Đà La, Mạn Thù sa, Ma Ha Mạn Thù sa, khắp cõi nước Phật, vang động sáu cách.
HỎI: 354 )-*Bạch Hào của Đức Phật thế nào ?
ĐÁP:Từ tướng bạch hào của đức Phật phóng ra một luồng hào quang chiếu khắp 18.000 thế giới phương đông, dưới đến Địa ngục A Tỳ trên tới Trời Sắc Cứu Cánh. Nhờ ánh quang này, chúng hội thấy rõ sáu loài chúng sanh, Chư Phật nói Pháp, Bồ tát tu hành, thấy cả Chư Phật Niết Bàn và xây tháp thờ Xá Lợi.
HỎI: 355 )-* Đức Phật nói quá trình hành đạo của mình như thế nào ?
ĐÁP:Tiếp theo 20.000 Đức Phật đồng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh và đồng một họ là Phả La Đọa, Đức Phật sau cùng lúc chưa xuất gia, có tám Vương Tử cai trị bốn phương thái bình, Nghe Vua xuất gia thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Họ cùng xuất gia, phát tâm Đại Thừa. Tu hành thanh tịnh đều làm Pháp Sư Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh cùng với Vô Lượng Nghĩa, nhập Vô Lương nghĩa Xứ Định.Khi ấy Trời mưa hoa Mạn Dà La, Mạn Thù Sa, Phật phóng quang chiếu 18.000 thế giới phương đông.
HỎI: 356 )-* Ngài nói kinh Pháp Hoa như thế nào ?
ĐÁP: Sau đó Ngài nói Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cho Diệu Quang Bồ Tát trải 60 kiếp. Người nghe pháp cũng ngồi một chỗ 60 kiếp. Thân Tâm không động, không mệt mỏi, cảm thấy thời pháp như khoảng bữa ăn. Nói kinh này xong Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh bảo đại chúng vào nửa đêm nhập dư Niết Bàn. Thọ ký cho đức Tạng Bồ Tát kế tiếp thành Phật Tịnh Thân Như Lai Ứng cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác.
HỎI: 357 )-*Ngài Diệu Quang Bồ Tát trì kinh Pháp Hoa Như thế nào ?
ĐÁP:Đúng như lời Ngài nói, vào nửa đêm, Ngài nhập Vô dư Niết Bàn, diệu Quang Bồ Tát trì kinh Pháp Hoa 80 tiểu kiếp và dạy 8 người con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh vững tâm nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tất cả đều lần lượt thành Phật. Vị sau cùng hiệu là Nhiên Đăng.
HỎI: 358 )-* Ngài Cầu Danh Bồ Tát tu tập như thế nào ĐÁP:Trong 800 đệ Tử, Bồ Tát Diệu Quang, có một người tên là Cầu Danh thường đến nhà giầu vận động xây Chùa Tháp nay đủ từ tâm, Ngài gặp được cúng dường vô lượng Phật, Diệu Quang Bồ Tát bấy Giờ chính là thân Ta, Còn Cầu Danh chính là Ngài Di Lặc.
Ngài Văn Thù Sư Lợi kết luận điềm lành mà đức Phật cho thấy, hôm nay không khác xưa, Ngài nghĩ rằng hôm nay đức Như Lai sẽ nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa giáo Bồ Tát Pháp Phật sở hộ niệm.
GIẢI THÍCH PHẨM TỰA
HỎI: 359) -*Đưc Phật nói kinh Pháp Hoa Ở địa điểm nào ?
ĐÁP: Qua phẩm tựa đầu kinh Pháp hoa ta thấy trụ xứ của Đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa ở Linh Thứu Sơn hay núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, Thủ đô nước Ma Kiệt Đà ngày nay là tiểu bang BIHAR của Ấn Độ là địa danh sau cùng mà đức Phật dừng chân trên đường giáo hóa chúng sanh. Trải qua 40 năm dìu dắt chúng hội để đưa đến đỉnh Núi Linh Thứu. Ngài mới Giảng kinh Pháp Hoa. Các kinh khác Ngài nói ở Tịnh Xá.
HỎI: 360 ) -* Tại sao Đức Phật lại đưa chúng hội lên đỉnh núi Linh Thứu mở hội kinh Pháp Hoa ?
ĐÁP: Điều này tiêu biểu cho sự nỗ lực gia công của các hành giả vượt qua tất cả khó khăn, vận dụng tất cả khả năng leo lên núi lãnh hội kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Nói cách khác hơn 40 năm Đức Phật rèn luyện cho con người vượt qua sự chi phối của thân tứ đại, mới được Như Lai truyền trao cho tạng bí yếu là kinh Pháp Hoa Đức Phật mười phương hộ niệm, Bồ Tát giữ gìn trong tâm, Là Tối Thượng Thừa của Ngài, đã diễn nói ở nước do bạo chúa A Xà Thế cai trị cực kỳ hung ác đến độ giết cả Cha lẫn Mẹ.
HỎI: 361) -* Núi Linh Thứu có đặc điểm gì mà đức Phật lại dẫn chúng hội tới đó để giảng kinh Pháp Hoa ?
ĐÁP: Núi Linh Thứu là chỗ của loài diều hâu chuyên bay xuống thi lâm ăn thịt người. Vì chỗ đó quá ghê sợ không người nào tới đó được.
Nhưng hoa Ưu Đàm đã nỡ trọn vẹn, tỏa hương thơm ngát trên mảnh đất hung tàn bạo ngược này.
Thật vậy: Đức Phật đặt chân đến đây, dù chưa nói một lời, nhưng uy đức và lòng từ bi vô lượng, vô biên, đã chuyển hóa được tâm ác độc của Vua A Xà Thế.
HỎI: 362 ) -* Vua A Xà Thế đã làm những tội lỗi gì ?
ĐÁP: Vua A Xà Thế đã từng làm những việc tội lỗi như: Thả voi say ra để hại Đức Phật . Xô đá để đè Đức Phật. Bắt đức Phật bỏ vào chuồng mãng sà. Nay ông trở thành người hộ pháp đắc lực nhất. Cũng dẫn thường dân về dự hội Pháp Hoa. Hội Pháp Hoa Không giống các hội khác, hàng Thánh chúng vây quanh đức Phật. Hội Pháp Hoa không hạn chế về chủng loại. Những loài gian ác cũng được dự hội, Như Ngạ Quỹ chuyên làm hại người và xúc sanh. Pháp hội của đức Phật có tính chất rất đặc biệt,mà các Đạo khác không có được.
HỎI: 363 )-*Đức Phật có Công Đức, Lực như thế nào ?
ĐÁP: Không giống như các Tôn Giáo khác vì Ngài Đại Từ bi, đại Vô lượng. Về việc thọ dụng thân hay đức Phật sanh diệt, quyến thuộc của Ngài là 1200 Tỳ Kheo; 6.000 Tỳ kheo Ni; 8.000 Bồ Tát. Chúng thanh Văn có 1200 vị A La Hán, các Ngài đã chế ngự được mọi ham muốn, phiền não đã được tự tại hiểu biết về mọi lĩnh vực, thoát khỏi sự ràng buộc trong cuộc sống.
HỎI: 364 )-* Các vị Đại Bồ Tát đã đạt được gì ?
ĐÁP:Có sức tập trung tư tưởng không giao động về mọi hoàn cảnh vì Ngài đã đạt được lẽ sống tự nhiên. Những vị này đã chứng được thần thông như: A Nhã Kiều Trần Như; Ma Ha Ca Diếp; Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên; Tu bồ Đề vv… Ngoài các vị A La Hán còn có các vị được dự vào dòng thánh từ Sơ quả đến Tam quả do Ngài A Nan dẫn đầu.
HỎI: 365 )-* Hàng Thanh Văn và quyến thuộc của Đức Phật như thế nào?
ĐÁP: Bên cạnh hàng Thanh Văn Còn có quyến thuộc của Phật sanh diệt, có sự hiện diện của 8000 Bồ Tát kề cận với báo Thân Phật hay Chân Thân Phật, hàng này loài người không thể thấy được. Các vị này là Bồ Tát không thối chuyển ở đạo Chánh Đẳng Chánh Giác như: Ngài Văn Thù Sư Lợi; Quan thế Âm Bồ Tát; Đắc Đại Thế Bồ Tát ; Thường Tinh Tấn Bồ Tát vv… Các Ngài có phép thần thông biến hóa không lường. Giảng nói Chánh Pháp không ngừng nghỉ luôn luôn sống trong trí tuệ của Như Lai vì các Ngài đã từng thân cận với Như Lai, cúng dường , tu học với Như Lai, tiếng thơm khắp mười phương, trang nghiêm thân tâm, bằng lòng Đại Từ Bi, thường cứu vớt chúng sanh.
HỎI: 366 ) -* Đại chúng đông như vậy trên núi Linh Thứu làm sao chứa nổi ?
ĐÁP: Các Vị Bồ Tát và tứ chúng về dự hội pháp hoa đông như vậy, trong một hội trường hạn hữu ở núi Kỳ Xà Quật, nhưng không bị chướng ngại cho hàng Thanh Văn vì các Ngài hiện hữu trong tư thế siêu hình, thông được với các pháp. Vì vậy lúc đó trong đạo tràng chúng Thanh Văn thấy Đức Phật bằng xương thịt trước mặt thuyết Pháp là Phật siêu thực có tầm vóc lớn tương ứng với họ.
HỎI: 367) -* Ngoài tứ chúng còn có những loài nào đến dự hội Pháp Hoa ?
ĐÁP: Ngoài tứ chúng còn có Thiên, Long, Bách bộ, dạ xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca lầu La, Khẩn Na La, cùng dự pháp hội.
Thiên Long, Bách Bộ, hiểu theo nghĩa thứ nhất là một thực thể tồn tại khách quan, nhưng mắt chúng ta không thấy được.
Nghĩa thứ hai: hiểu theo triết học. nhằm chỉ trạng thái con người chúng ta. Thiên là người Trời, Long là rồng.
Đem ra phân tích: mỗi người có trình độ, cuộc sống. và nhận thức giống như Thiên Long Bách Bộ.
Thí dụ: Trời Pham Thiên tiêu biểu cho những người sống trong Thiền Định, có tâm hồn yên tĩnh, mang thân người như không bị dục tình quấy nhiễu. Hoặc Trời Đế Thích tiêu biểu cho những người sống trong trần gian đầy đủ phước lộc, thân tướng xinh đẹp tâm hồn luôn luôn sung sướng.
Rồng, Dạ xoa, A Tu La tiêu biểu cho những người hung dữ, ngang bướng ở thế gian. Khi họ vào hội cũng trở thành hiền hậu và thâm nhập Pháp Phật.
HỎI: 367 )-*Sinh hoạt của Pháp hội như thế nào ?
ĐÁP:Tất cả các loài trong pháp hội, chắc chắn sinh hoạt không cùng một luật tắc, điều kiện như thế giới loài người vật chất, không cùng tâm niệm, hạnh nguyện Thanh Văn và Bồ Tát cũng khác nhau, tuy uy lực cùng tuệ nhẫn không thể giống nhau, cũng như : Trời, người, Quỹ Thần, nghiệp lực lôi kéo tâm thức họ theo những phương hướng không đồng.
Tuy nhiên: tất cả đều tu tập lại không chướng ngại nhau trong cùng một pháp hội bằng một năng lực bất khả Tư nghì của Đức Phật.
HỎI: 368 ) -*Trước tiên Đức Phật Giảng kinh gì ?
ĐÁP: Dẫn vào Pháp Hoa Đức Phật giảng kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa cho Bồ Tát, đây là bộ kinh nói không cùng tận, biến hóa không lường, Chỉ có hàng Bồ Tát mới có khả năng thể nhập dòng thác trí tuệ của Như Lai. Đối với các pháp biến dịch không lường, tâm Bồ Tát đã hoàn toàn tự tại mới hiểu được kinh Vô Lượng Nghĩa vô số muôn màu. Hàng Thanh Văn Còn kệt Pháp. Không thể vào cửa Vô Lượng nghĩa được.
HỎI: 369 )-* Nói xong kinh Vô Lượng Đức Phật dùng Phương tiên gì ?
ĐÁP: Nói kinh Vô Lượng Nghĩa xong đức Phật nhập Vô Lượng nghĩa xứ định. Thân không lay động hoàn toàn tịch tĩnh, nhưng vô tác diệu lực của Ngài có tác đông sâu xa. Khi Đức Phật nhập định tâm thức của Ngài thông với pháp giới, trở về cùng tột thật tướng, các pháp tạo thành lực dụng bất khả tư nghì, đưa chúng hội vào cảnh giới mầu nhiệm của đức Phật. Trạng thái yên lặng của đức Phật ở Vô Lượng nghĩa xứ định, lôi cuốn pháp hội vào định tạo thành thông đồng giữa pháp hội và Đức Phật.
HỎI: 370 ) -*Như Lai Giáo hóa thế nào ?
ĐÁP:Như Lai mới giáo hóa bằng tâm, không bằng ngôn ngữ. trong sự truyền thông qua tâm. Đại chúng thấy Mạn Đà La, Ma Ha Mạn Đà La, mạn thù sa, Ma Ha Mạn Thù sa, bốn loại hoa này hiểu theo thần thoại là hoa của Chư Thiên. Hiểu theo tiết học nó không phải là một hiện tượng mà chính yếu mang ý nghĩa tác dụng của Pháp Phật.
HỎI: 371 ) -* Khi nghe Đức Phật thuyết pháp tâm buồn phiền, phiền não chúng hội bị thế nào ? ĐÁP: Hoa Mạn đà La rơi hay không cần thiết, nhưng tác dụng của hoa làm cho chúng hội tịnh nghiệp, Nghe đức Phật thuyết Pháp làm buồn phiền tự rơi rụng, phiền não không còn,Đây là điều kiện tất yếu để nói kinh Pháp Hoa, sống trên cuộc đời không bị nhiễm ô mới vào đạo Nhất Thừa, hay nói cách khác hoa Mạn Đà La làm cho phiền não mọi người tiêu tan, giúp hội chúng trở về trạng thái tâm hồn yên lặng đồng với tâm Phật. tiếp nhận được chân lý của đức Thế Tôn phô bày, theo tinh thần này hành giả muốn cầu đạo phải cầu an tâm, đạo chỉ đến với tâm hồn bình ổn.
HỎI: 372 )-* Hành giả đọc kinh Pháp Hoa Thân tâm phải như thế nào ?
ĐÁP: Xưa kia Ngài Thần Quang sau bao năm tìm kiếm, bắt gặp sau khi bình ổn hoàn toàn, diện kiến với Tổ Đạt Ma trong tuyết lạnh ngập gối chân ở Chùa Thiếu Lâm. Hoa Mạn Đà La ở Linh Thứu Sơn cũng như tuyết phủ ở chùa Thiếu Lâm. Tất cả trắng xóa một màu bạch nghiệp.
HỎI: 373) -*Đức Phật chuyển đổi thân tâm của chúng hội như thế nào?
ĐÁP: Đạo chỉ hiện nơi đây cho những người có chí thành cầu Pháp, không còn gợn chút mảy may vọng trần khi tình cảm thương ghét của con người đã rơi theo hoa Mạn Đà La, bằng tâm hồn trong trắng, chúng hội tiếp nhận được điều vui kỳ diệu, một niềm vui vô tận, tiếp nhận được điều kỳ diệu. một niềm vui vô tận hoàn toàn thanh tịnh ly trần., không có nguyên nhân, không có đối tượng. đó là trạng thái tâm của người cầu đạo được biểu hiện bằng hoa Mạn Thà Sa. Được hai loại hoa này tươi nhuận. tâm hồn đại chúng đã biến thành tâm Cực Lạc. Đạo tràng hoàn toàn thanh tịnh và thể nhập vào thế giới Pháp Hoa.
HỎI: 374) -* Đức Phật chuyển Ta Bà thành Tịnh Độ như thế nào ?
ĐÁP: Chuyển đổi tâm chúng hội xong. Đức Phật biến Ta Bà thành Tịnh Độ. Núi Kỳ xà Quật không còn bi không gian găn cách bởi đất đá núi rừng chật hẹp. Không gian được trải dài trong vũ trụ, vô cùng, không còn gì găn cách giữa Thế Tôn với pháp giới
HỎI: 375 ) -*Đức Phật biến đổi than ngũ uẩn của chúng hội như thế nào ?
ĐÁP:Đất chuyển động theo sáu cách, biến thân ngũ uẩn của người dự hội tạm thời thành tâm Như Lai thông suốt với Pháp giới. tất cả thế giới mười phương cũng biến đổi như vậy.
Chúng hội được kết hợp thành con người thứ hai. Tất cả thấy Đức Phật không còn là Tỳ kheo Cù Đàm với mảnh áo vải thô sơ, mang thân hình nhỏ bé. Ngài đã an trụ pháp giới bao la, có thân biến đổi không cùng, hiện hữu thường hằng bất biến gọi là Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na
HỎI: 376 ) -* Đức Phật thuyết giảng pháp mầu, tối thượng, khó tin, khó hiểu như thế nào ?
ĐÁP: Để thuyết giảng pháp mầu tối Thượng, khó tin, khó hiểu,không thể dùng ngôn ngữ diễn tả. Đức Thế Tôn phóng một luồng hào quang từ tướng lông trắng giữa hai chặng mày chiếu suốt 18.000 thế giữa phương đông. Bạch hào tướng này tiêu biểu cho trí tướng là sự hiểu biết vô cùng tận của đức Phật. Không chỗ nào ánh quang của Phật không chiếu tới.Nghĩa là không có gì trong pháp giới Ngài không biết.
HỎI:377 )-*Sau phật diệt độ hành giả Pháp Hoa phải thế nào ?
ĐÁP:Sự kiện pháp hội nương theo ánh quang của Phật, quan sát thế giới. Hiểu theo thời đại tiến bộ ngày nay, không có gì khác hơn là nương lời Phật dạy trong kinh để biết rõ cuộc đời, hiện nay không có đức Phật ở đời, nhưng trầm mình trong tam tạng giáo điển hơn 2555 năm. Nhờ nương theo lời Đức Phật dạy phát triển trí tuệ và đạo đức, hiểu Đức Phật. làm một vài việc như lời đức Phật dạy.
HỎI:378 ) -* Nhìn đời qua kinh điển ta thấy thế nào?
ĐÁP:Bắt đầu nhìn đời qua kinh điển, không qua nhiệp thức, bằng tâm yên tịnh, quan sát trần thế, thấy rõ mọi người có lúc khổ đau cùng tột như đang ở Địa ngục A Tỳ. Có lúc họ lại hưởng vui thú cùng tột như đang ở trời Sắc Cứu Cánh. Từ cuộc đời thực này, nhìn rõ mọi người tâm hồn biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Hay nói cách khác, sáu lẻo luân hồi có đủ trong tâm con người thay đổi từng sát na. Nếu chúng ta đứng ở lập trường Chân Thật quan sát thấy sáu đường chúng sanh.
HỎI: 379 ) -* Lúc đó thấy tuệ giác của đức Phật như thế nào ?
ĐÁP: thấy rõ diễn biến của Chúng sanh qua tuệ giác của Đức Phật là thấy như thật, và siêu thời gian, thấu suốt từ vô thỉ đến tận vi lai kiếp, không phải là cái thấy hạn hẹp qua nghiệp lực của mỗi loài trước khi dự hội Pháp Hoa.
Nương theo ánh quang của Đức Phật, cũng thấy có Đức Phật ra đời, thành Phật, Mầu thân như núi vàng, tiêu biểu cho bậc siêu nhân, xuất hiện để cứu khổ chúng sanh. Hay đó chính là hình ảnh của Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ta Bà, không dính bụi nhơ ở đời. Trong ánh quang của Đức Phật cũng hiện rõ vô số hình ảnh Bồ Tát tiếp nhận sự hộ niệm của Đức Phật. hoạt động khắp pháp giới nhiều dạng khác nhau.
HỎI: 380 ) -*Bồ Tát theo phương tiện của Phật tu sáu Ba La Mật như thế nào ?
ĐÁP: Bồ Tát dùng phương tiện của Phật tu sáu Ba La Mật là chính hạnh của Bồ: Bồ thí, Trì giới, Nhẫn nhục, tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ. Bố thí hạnh mở đầu cho Bồ Tát. Bố thí hay giúp đỡ tạo điều kiện cho người phát triển. Mai kia họ trưởng thành thay thế ta tiếp tục bố thí.
Ngược lại cần lưu ý bố thí làm tệ ra là lỗi của ta.
Hành bố thí đúng pháp trong vòng quỹ đạo của Bồ Tát, chúng ta sẵn sàng nâng đỡ những người có trí cầu tiến, làm lợi ích cho nhân dân quần chúng. Để sau họ cũng trở thành Bồ Tát mới thực hiện dúng nghĩa của bố thí.
HỎI: 381 )-*Những người như thế nào thì được cúng dường ?
ĐÁP: Bố thí ở mức độ cao là cúng dường, hành giả cúng Phật và Tăng là chính, đó là hai mẫu người xứng đáng được cúng dường nhất. Đức Phật sáng suốt giác ngộ hoàn toàn, là đạo Sư của sáu loài chúng sanh. Hiện hữu của Ngài rất cần thiết cho việc Đức Phật nhập Niết Bàn, Chư Tăng là những người thừa kế, mang tam hồn toát tục, hy sinh cuộc đời để theo đuổi mục tiêu cao cả. Tiến lên một nấc hành giả bố thí để đoạn trừ san tham dẫn vào sanh tử đau khổ. Khi bố thí hành giả phải kiểm chứng kỹ điều này. Thật vậy tâm niệm Bồ tát Như Lai hoàn toàn an trú pháp Không, các Ngài gởi cho hành giả bất cứ thứ gì chúng ta cũng được an vui hạnh phúc, giải thoát.
HỎI: 382 ) -* Đức Phật dạy bố thí phải như thế nào cho đúng nghĩa của bố thí ?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Muốn bố thí phải kiểm tra thân mình, tâm mình, có đủ ba tâm chưa: trực tâm, thân tâm, Bồ đề tâm hay chưa. Cầm đồ vật cho người trước tiên kiểm tra tâm mình có trực tâm chưa, ta cho người để lợi dụng hay nhằm mục đích gì ? Lòng thực sự bố thí chưa, song ta phải truyền cho người tâm ngay thực. Kế đến xem tận đáy lòng mình, cốt lõi của nó là gì ? Chỉ có một lòng một dạ cầu Vô Thượng Đạo. theo lập trường Đức Phật bố thí, mới thực hành Bồ Tát đạo. chan hòa tình thương cho chúng sanh một cách tuyệt đối Hành bố thí mới đủ ba tâm này. Người nhận quà sanh ra ba tâm này. Như vậy mới thực hành bố thí Ba La Mật
HỎI: 383 ) -* Hàng Bồ Tát muốn kiểm tra tâm mình phải làm sao ?
ĐÁP: Chúng sanh là tấm gương phản ánh tâm ta, tâm ta như thế nào thì hiện nên chúng sanh như vậy, nhờ đối tượng chúng sanh, Bồ Tát mới phát được Bồ Đề tâm của mình. Đối với Bồ Tát thành tựu chúng sanh, đồng nghĩa với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ Tát mới phát tâm bố thí, lần hồi từ thấp lên cao. Khởi đầu bằng lòng thương người, hành giả đem tài vật cho người, ở trường hợp này bố thí còn có giới hạn. Nâng lên một nấc nữa, những gì hành giả đang dùng, nhưng người khác dùng có lợi hơn, ta sẵn sàng cho. Trong kinh hành giả bố thí xe tứ mã, chang hoàng những thứ báu với tất cả lòng hoan hỷ. để trang nghiêm Phật độ. Càng bố thí tâm hành giả càng nở hoa, trút bớt gánh nặng ở Ta Bà thấy gần Chư Phật hơn tiến về Vô Thượng Bồ Đề. Đến giai đoạn hai, Đã gá thân với Phật, dũng mãnh tiến tu. Cao tột hơn cả Bồ Tát, sẵn sàng hy sinh thân mạng như Bồ Tát Quảng Đức. Bồ Tát hiến thân vì Phật Pháp.
HỎI: 384 ) -* Trong giai đoạn tu, hành giả giữ giới và sử dụng giới như thế nào ?
ĐÁP: Ngoài việc bố thí Thanh văn và Bồ tát đều lấy giới làm đầu, tùy trình độ tu chứng, có quan niệm về giới khác nhau, sống trong giới pháp của đức Phật cảm thấy an lành. Đối với hành giả Giới là hàng rào ngăn chặn tội lỗi phát sanh.
HỎI:385)-Trong Pháp TốiThượng Thừa Phật cho biết gì ĐÁP: Trong pháp Tối Thượng Thừa kinh Pháp Hoa Đức Phật cho biết, Bồ Tát giữ giới trong sạch từ Tâm hồn ra ngoài, được ví như Bảo Châu, chính lòng trong sạch đó giúp cho các Ngài thành tựu tất cả các pháp quan trọng của giới Đại Thừa, lòng trong sạch như Bảo Châu. Bên ngoài Bồ Tát làm tất cả các việc lợi ích chúng sanh. Bên trong ngài không gợn một chút mảy trần. trong thanh Văn cố gắng giữ giới đều, Giới tướng trong sạch.
HỎI: 386 ) -*Bồ Tát muốn mau thành Phật cần phải thực hành như thế nào ?
ĐÁP: Trong kinh Pháp Hoa cho thấy hình ảnh tinh tấn kinh hành trải dài hàng ngàn năm chưa phát huy trí tuệ chưa giám ngưng nghỉ. Hàng ngày suy tư đức Phật để phát huy trí tuệ. Vấn đề phát huy Phật đạo còn tồn đọng trong tư duy, chưa hiểu chưa dám ngưng nghỉ, nên mãi mãi thao thức với trí tuệ. Suy nghĩ để làm sao được thành Phật, ra khỏi sanh tử luân hồi, chưa thấy tương lai, chưa đắc đạo, chưa dám ngưng nghĩ. Cũng giống như Thái Tử Sĩ Đạt Đa ngồi suy tư ở bồ đề đạo tràng. Ngàì hạ quyết tâm, nếu không thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Dù thịt nát xương tan quyết không đứng dậy.
HỎI:387 ) -*Bồ Tát đắc được những pháp gì ?
ĐÁP: Bồ Tát quyết tâm bỏ ngũ ấm thân, không thọ lại thân chúng sanh và đạt tới cùng tột. sử dụng diệu lực của các pháp hoàn toàn tự tại, mới thật là tinh tấn Ba La Mật. kinh diễn tả thành tựu pháp Ba La Mật, qua hình ảnh Ngài phóng quang cho chúng hội thấy 18.000 thế giới mà Ngài không hề chuyển động thân, không đi, không về, không có giáo hóa chúng sanh. Nhưng không có một chúng sanh nào không được Ngài giáo hóa. Không việc gì trên thế gian mà Phật không thành tựu.
HỎI: 388 )-*Bồ Tát thực hành sáu Ba La Mật như thế nào?
ĐÁP: Bồ Tát thực hành Sáu Ba La Mật, để hồi hướng Phật đạo. đều hiện rõ trong ánh quang đức Phật. Chúng ta ngắn chặt mắt kính nghiệp vào nhục nhãn, không thể thấy được cảnh tượng màu nhiệm ấy. Tuy nhiên:Qua kinh điển, chúng ta nhận thấy tinh thần cầu đạo vô song của Bồ Tát. Trãi qua vô lượng kiếp xả thân hành Sáu Ba La Mật. Từ đó: chúng ta cảm tâm với Bồ Tát, mỗi ngày cảm nhận sâu sắc hơn. Nhờ đó trí tuệ của chúng ta phát triển theo. Dù không có Phật ở Ta Bà, không có ánh quang của Đức Phật. Bồ Tát vẫn hiện hữu bên cạnh chúng ta, ngay trong tâm ta, ngay trong Pháp Tánh
HỎI: 389 ) -* Lục Ba La Mật là những gì ?
ĐÁP: Giáo pháp này dạy chúng ta tu tập Bồ Tát để đạt chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác: Bố thí: (Sự cho); Trì Giới: ( giữ gìn giới luật ). Nhẫn nhục: ( Sự kiện nhẫn không tranh chấp hơn thua) Tinh tấn:( Sự nỗ lực để tiến bộ). Thiền định : ( Yên tâm trong giới pháp). Trí tuệ:( hiểu biết đúng như Phật ) . Bồ tát là một vị không như thanh văn, hay duyên giác, không những yêu cầu dập tắt ảo tưởng riêng của mình mà còn phải cứu độ những kẻ khác nữa. Cứu người hơn cứu mình, tức là tự tha hơn tự lợi.
Do đó giáo pháp Ba La Mật là một mục tiêu cứu độ hết thảy chúng sanh. Mặt khác chúng ta không giao động vì sự tâng bốc hay ca ngợi điều tốt chúng ta đã làm hoặc có thể làm. Nhưng chúng ta hãy yên lặng suy nghĩ về hành sứ của chúng ta.
Chúng ta hãy không cao hơn người khác. Nhưng chúng ta phải giữ thái độ khiêm tốn về mọi sự việc đã đạt kết quả.
HỎI: 390 ) -*Tóm tắt lục Ba La Mật như thế nào ?
ĐÁP: tóm tắt lục Ba La Mật là:
-* Bố thí: khiến người keo kiệt khởi tâm bố thí, chân thành phục vụ cộng đồng và người khác.
-*Trì giới: khiến người kiêu mạn khởi tâm giữ các giới luật. tự nhắc nhở bản thân mình. Không làm bừa như phàm phu, phải coi giới như hàng rào để ngăn chặn tội ác.
-*Nhẫn nhục: khiến người nóng tính khởi tâm nhẫn nhục, bỏ sự giận giữ, không chanh chấp hơn thua
-* Tinh tấn: khiến người lười biếng khởi tâm tinh tấn, chịu khó cần cù nỗ lực không ngừng,
-* Thiền Định: Khiến người sao lãng khởi tâm Thiền Định, tâm thanh tịnh không bị giao động. Vì phàm phu.
-* Trí tuệ: Khiến người suy muội khởi tâm trí tuệ, loại bỏ định kiến, lối suy nghĩ tệ hại, nhờ phán đoán công việc đúng như Đức Phật.
HỎI: 391)-*Những điều sâu sắc trong phẩm này là gì ?
ĐÁP: Những điều sâu sắc trong phẩm này là giá trị vô cùng của giá trị tâm linh của đức Phật, điều được diễn tả trong câu chuyện về Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, sau là sự kiện của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, biết rằng sắp đến lúc Ngài nhập Niết Bàn, đã quyết định để lại kinh nghiệm quan trọng nhất về sự chứng ngộ cho hậu thế.
HỎI:392 )-Đức Phật đã yếu về Tứ đại Ngài vẫn làm gì? ĐÁP: Tuy nhiên: Chúng ta biết rằng lúc bấy giờ thân thể Ngài đã yếu vì tuổi già. Dù vậy Ngài vẫn thuyết pháp rộng lớn nhất, sâu xa nhất, của kinh Diệu Pháp Liên Hoa, giáo lý mạnh mẽ nhất , Tích cực nhất, xác quyết nhất của đời Ngài.
Chúng ta phải cúi đầu nghiêng mình trước sự vĩ đại tâm linh. Sự thâm sâu của chứng ngộ của Ngài. Chúng ta chớ quên rằng những năng lực tâm linh của Ngài xuất phát từ lòng đại từ bi đối với chúng sanh và những kể chưa ra đời.
HỎI: 393 ) -* Hiện tượng diễn biến khi Đức Phật chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác như thế nào ?
ĐÁP: Qua hiện tượng diễn biến của Phật Thích Ca nhập vô lượng nghĩa sứ định ở Linh Thứu Sơn. Sự kiện Ngài chứng ngộ thành đạo Bồ Đề đạo tràng, hai hiện tượng này là một. Nó nhằm diễn tả Tam Minh của đức Phật. hoặc coi lại bộ phin Phật thành đạo.
THẬT VẬY: Tinh thần Đại Thừa được mô tả Đức Phật vào định, thâm nhập chân lý bằng hình ảnh hoa Mạn Đà La, hoa Mạn Thù Sa rơi xuống.
Ngài ngồi im đến mức quên thân Ngài, sống trong niềm tâm linh cao độ, không còn lệ thuộc vào cuộc sống. Đó cũng chính là mô hình tham Thiền kiểu mẫu của Ngài Sĩ Đạt Ta ở Bồ Đề đạo tràng. Ngài trãi qua thế giới sơ Thiền,nhị Thiền, tam Thiền, tứ Thiền đến ngũ định cư Thiền của A La Hán. Bước qua thế giới Thiền định cao nhất thấy lại vô số kiếp trước của chính bản thân Ngài.
HỎI: 394 )-*Đức Phật dùng thần lực như thế nào ?
ĐÁP:Tiếp đến:: Kinh diễn tả Thiên Nhãn Minh của Phật, bằng sáu đường sanh tử của chúng sanh và Bồ Tát mười phương đang hành đạo trong ánh quang của Đức Phật.
Cuối cùng Hậu Tịnh Minh của Đức Phật thấy diễn tiến vô cùng vô số kiếp tương lai, diễn tả bằng hoạt động của Bồ Tát, sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Trong trạng thái đắc đạo ở Thiền Định. Kinh Nguyên Thủy ghi nhận các Phạm Thiên đến thỉnh Phật thuyết Pháp .
HỎI:395 )-* Kinh Pháp Hoa mới có hình tượng như thế nào?
ĐÁP:Dưới kiến giải của Đại Thừa Phạm Thiên là tiếng của Đại Bi cất lên từ Tâm Chơn Như của người ngộ đạo thôi thúc Đức Phật rời bỏ lý tưởng nhập Niết Bàn. Trở lại thực tế cuộc đời tiếp tục giáo hóa chúng sanh. Tập trung mọi diễn biến ở mười phương hiện ra trong ánh quang của đức Phật nhằm trợ giúp tâm Bồ đề của hành giả phát triển. Chỉ có kinh Pháp Hoa mới có hiện tượng này, Đây là cảnh giới kỳ diệu của Pháp Hoa. Là bài pháp sống của Đức Phật, gọi là vô tác diệu lực. Đức Phật im lặng nhưng mọi người cảm nhận được hiểu biết và cùng tiến đến Vô Thượng Bồ Đề không bao giờ lui sụt. Cảnh giới mầu nhiệm, đều hiện lên ánh quang của Đức Phật, được coi là quá trình một đời giáo hóa của Ngài.
HỎI: 396 ) -* Ngài Di Lặc muốn giải quyết chỗ nghi của mình và chúng hội, hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi duyên cớ làm sao ?
ĐÁP: Câu hỏi của Ngài Di Lặc nhằm khai triển cho hành giả thấy phương cách tu hành của Bồ Tát theo kinh Pháp Hoa, vốn là pháp tịch diệt. khó dùng ngôn ngữ trình bày về lợi ích của chúng sanh về đời sau mà Ngài hỏi ? không phải Ngài không biết sự thật trên lộ trình tu Bồ Tát hạnh.
HỎI: 397)-*Ngài Văn Thù thấy những điều lành gì ĐÁP:Ngài Văn Thù Sư Lợi đã từng sống với đức Phật Quá khứ, nên thấy điềm lành này diễn ra trước khi đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nghĩa là hành giả nhìn đời qua năng kính Pháp Hoa. Nhằm diễn tả tâm trạng của trưởng tử Như Lai ( tức là hành giả Pháp Hoa) sau khi đức Phật diệt độ, có trách nhiệm giải thích. Muốn giáo hóa chúng sanh, hành giả phải lặn sâu vào kinh điển suy tư tìm hiểu, tự đặt câu hỏi, tự vận động trí tuệ để hiểu biết chính xác, diễn giải cho người hiểu, khêu gợi Phật Tánh của mọi người để họ cùng nhau tu hành chứng Chánh Đẳng Chánh giác một cách “Tấn Tốc”
HỎI: 398 ) -* Ngài Văn Thù Sư Lợi liên tưởng đến quá khứ thấy Đức Phật như thế nào ?
ĐÁP: Ngài liên tưởng đến thuở quá khứ có 20.000 đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh ra đời, tên đều giống nhau, cùng một họ là Phả La Đọa. Nghĩa là có 20.000 Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh ở dạng thể tánh sáng suốt, Tâm các Ngài ví như ngọn đèn sáng tỏ hơn cả trăng sao.
Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh trước kia ở bản thể không cần xuất gia, không mang ý gì khắc hơn là bỏ phiền não, trở lại bản tâm thanh tịnh sáng suốt,
Nói cách khác : Các Ngài vào cuộc đời, rồi lại từ cuộc đời mà ra đi. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thứ 20.000 có điều hay ở chỗ Ngài sanh 8 Vương tử, ở thời kỳ đó, trở ngại cho Ngài không ít.
HỎI:398 )-* Tám Vương tử như thế nào ?
ĐÁP: Tám Vương tử này thông minh, có uy đức , thống lãnh bốn phương thiên hạ, được mọi người cung kính
Họ tài giỏi như vậy, nhưng nghe Vua xuất gia chứng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng bỏ ngôi xuất gia theo. Tư tưởng này xây dựng thế giới Pháp Hoa. Hiểu theo Ngài Thế Thân 8 người con này không phải người con ngũ ấm: Tám người con này tiêu biểu cho tám thức: Nhãn thức; Nhĩ thức; Tỷ thức; Thiệt thức; Thân thức; Ý thức; Mạt na thức; A lại đa thức; Vì 8 người con đều mang tên chữ Ý, chứng tỏ là không phải con người xác thịt mang thân ngũ ấm, thuộc về Tứ Đại Chính là con người tinh thần.
HỎI: 399 ) -* Từ Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh liên hệ đến đức Phật Thích Ca như thế nào ?
ĐÁP: Liên tưởng đến đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thứ 20.000 trước kia cũng giống như Đức Phật Thích Ca thời nay lúc chưa sanh và sanh rồi cũng giống như con người chúng ta .Ngài tu hành dưới cội Bồ Đề, trở về trạng thái Chân Tâm ban đầu của Ngài. Nghĩa là đi qua con đường hai chiều từ bản thể đi vào hiện tượng Giới .
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói pháp giống nhau, đã thể hiện chân lý chỉ có một. Nếu hai Đức Phật nói pháp không giống nhau thì pháp đó không phải là Pháp Chân Thật, chỉ là pháp phương tiện.
HỎI: 400 )-*Các Đức Phật nói Pháp giống nhau thế nào? ĐÁP: Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thuyết xong kinh Vô Lượng Nghĩa cũng ngồi yên lặng nhập vô lượng nghĩa sứ định. Phóng quang hiện cảnh, dẫn chúng hội tiếp nhận chân lý giống như đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng quang thấy toàn bộ thế giới sanh diệt, thấy cả Đức Phật ra Đời thuyết pháp giáo hóa, có nghĩa là tất cả diễn biến không nằm ngoài hiểu biết của Đức Phật.
HỎI:401)-*Kinh Pháp Hoa Được xưng danh như thế nào?
ĐÁP:Vì VẬY: Kinh Pháp Hoa là Tối Thượng Thừa của Chư Phật. Nhưng mang tâm phàm phu. Nhị Thừa hiểu kinh Pháp Hoa mà kinh vụt trở thành bình thường là hạng tăng thượng mạn.
Kinh Pháp Hoa là tuệ giác của Như Lai, Ba đời đức Phật hộ niệm, Bồ Tát giữ gìn trong tâm .Toàn cảnh hiện ra ánh quang Phật. Hay muốn sử dụng Thật Tướng, đi vào thế giới Pháp Hoa. Đòì hỏi hành giả phải có trình độ tu chứng cao . Theo hạnh Bồ Tát.
HỎI:402 )-*Đức Phật giảng Pháp bằng những thần lực gì? ĐÁP: Đức Phật là mẫu người tiêu biểu, thực hiện được điều đồng pháp giới, bằng cách chỉ ngồi yên, xử dụng lực bất tư nghì mọi vật trở thành tốt. Đến thời Pháp Hoa Ngài mới thực hiện trọn vẹn vô tác diệu lực. Không bó buộc, không cưỡng ép. Hay dùng khôn khéo bắt người làm. Ngài điều động Đạo đức, bằng tình cảm tốt, người tự động làm theo Ngài.
HỎI: 403 ) -* Nói xong kinh Pháp Hoa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng phương tiện gì ?
ĐÁP: Nói xong kinh Pháp Hoa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng phương tiện, phô bày chân lý là đức Phật nhập Niết Bàn, để mọi người khát khao gặp đức Phật.
Đức Phật không hiện hữu nơi đây chúng ta vẫn bước đi theo lộ trình của Ngài. Đức Phật Thích Ca vẫn đang điều động dưới dạng diệu lực, nhưng ta không hề bị bó buộc. Một điểm đặc biệt của kinh Pháp Hoa khác với các kinh khác là từ thời đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đã có Ngài Văn Thù Sư Lợi mang tên Diệu Quang. Ngài Di Lặc mang tên Cầu Danh, dẫn từ vô lượng kiếp đến nay, hai vị Bồ Tát này vẫn song hành với nhau.
HỎI: 405 )-*Các Bồ Tát Ma Ha Tát vẫn thân cận với Đức Phật như thế nào ?
ĐÁP:Đứng trên bình diện Báo Thân, Các Ngài vẫn thân cận với Đức Phật. Thể hiện trong trí tuệ của Như Lai. Ngài Văn Thù Sư Lợi hay Diệu Quang tiêu biểu cho những người giữ tạng bí yếu của Như Lai. Ngài Văn Thù Sư Lợi cho biết, nhìn hiện tượng của Phật Thích Ca và Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh không khác. Ngài kết luận Ngài Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa
HỎI: 406 ) -* Bốn Thánh đế là gì ?
ĐÁP: Bốn Thánh Đế(Tứ đế) là: Khổ đế; Diệt đế; Tập đế; Đạo đế.
-Thứ nhất là khổ đế:Điều này có nghĩa là tất cả mọi sự việc trên đời này đều là khổ. Đối với những người không theo giáo lý của Đức Phật, khổ về tâm lý, khổ vì vật chất, khổ vì vật lý, khổ vì kinh tế và nhiều khổ khác. Nhận biết điều kiện thực sự của khổ, mà không tránh lé hay thỏa hiệp với khổ, là cứ ở phàm phu hoài.
HỎI:407 )-* Muốn đạt được tập đế ta phải tu hành làm sao? ĐÁP:Thứ hai là Tập đế: Nghĩa là chúng ta phải nghĩ về nguyên nhân nào đã sanh ra khổ đau của con người, hiểu rõ ràng việc nghiên cứu nguyên nhân của khổ đã được nêu trong thuyết học, đã nêu rõ trong phẩm 7 Hóa Thành Dụ.
HỎI:408)-*Muốn đạt được diệt đế ta phải tu hành làm sao? ĐÁP: Thứ ba là Diệt đế: Nghĩa là trạng thái của sự vắng lặng tuyệt đối trong mọi sự khổ đau đời sống con người đều được dập tắt, đó là trạng thái cắt đứt khổ về tâm lý,kinh tế, vật chất, tất cả các hình thức khác. Có thể nghiệm được cảnh giới,của ánh sáng tịch lặng vĩnh cửu
( đã nêu trong phẩm Phổ Hiền) cõi Đức Phật Kim Cang trên cõi đời.Đó là trạng thái chỉ đạt bằng chứng ngộ ba chân lý lớn của Đức Thích Ca dã dạy phải tu tập theo hạnh Bồ Tát đạo.
HỎI:409 )-Muốn thực hành đạo đế ta phải tu hành làm sao?
ĐÁP:- Thứ tư là Đạo đế: Có nghĩa là con người đưa đến an tịnh tuyệt đối, trạng thái tịch tịnh, ta có thể đạt được bằng trạng thái tu tập giáo lý, Lục Ba La Mật, Bát Chánh Đạo. Tu tập Bồ Tát đạo, chứng Chánh Đẳng Chánh Giác.
-HỎI: 410 ) -* tóm tắt Tứ Thánh đế như thế nào ?
-ĐÁP: Người không theo giáo lý của Đức Phật bị khổ về Tâm lý, vật chất, kinh tế, Các hình thức khác.
Người biết theo giáo lý của đức Phật thì không bị khổ, biết truy tìm nguyên nhân của khổ, đặt căn bản trên nguyên lý về thực tướng của các Pháp,
Muốn diệt đế: Học tập giáo lý 12 nhân duyên, để đạt được trạng thái tịch lặng , không có khổ:Tâm lý, Vật chất, kinh tế, các hình thức khác.
Đạo đế là phương pháp tu tập để diệt khổ bằng Bát Chánh Đạo, Sáu Ba La Mật của Bồ Tát đạo.
HỎI: 411 ) -* Bát Chánh Dạo là gì ?
ĐÁP: Bát Chánh đạo là thấy đúng:
Chánh Kiến là suy nghĩ đúng.
Chánh Ngữ là nói năng đúng
Chánh tư duy là hành động đúng
Chánh nghiệp là sống đúng
Chánh mạng là nỗ lực đúng
Chánh niệm là Thiền định đúng.
Chánh định là nhiều giới điều Phật Giáo chứa những con số được viết trong kinh điển của Phật Giáo.
Đấy là những phương tiện Ngài đức Thích Ca Mâu Ni giảng pháp trong thời gian Ngài tại thế.
HỎI: 412 ) -* Tóm tắt Bát chánh đạo như thế nào ?
ĐÁP: - Chánh Kiến là: Thấy mọi sự vật một cách đúng đắn, được đặt trên căn bản trí tuệ của đức Phật. Nhận thức và hiểu nguyên lý về thực tướng của mọi hiện hữu.
2 Chánh ngữ là : Lời nói đúng đắn, chánh được bốn cái xấu về miệng, không nói dối, không nói lưỡi hai chiều, không nói vu khống, không nói bậy.
3 – Chánh tư duy là : Suy nghĩ đúng đắn, tránh được ba cái xấu về ý: Dục, Sân, Hận.
4 – Chánh nghiệp là: Hành động đúng đắn, tránh được ba cái xấu về thân làm trở ngại: Sát hại không cần thiết, trộm cắp, tà dâm hay ngoại tình.
5- Chánh mạng là: Kiếm thức ăn, cái mặc, nhà ở và nhu cầu hàng ngày một cách đúng đắn, không đo thiếu cân đong đầy đủ.Bất cứ trường hợp nào cũng phải thật thà.
6 – Chánh Tinh Tấn là: Không bao giờ làm điều xấu, luôn luôn làm điều tốt, không làm hại người khác.
7 – Chánh niệm là: Luôn luôn có niệm tưởng đúng đắn đến cả chính mình và người khác.
8 – Luôn luôn nỗ lực và đạt chánh pháp và trụ trong chánh pháp.
HỎI: 413 ) -* Mười hai nhân duyên là những gì ?
ĐÁP: 1- Vô minh, 2-Hành, 3-Thức, 4- Danh sắc, 5- lục nhập, 6- Xúc, 7- Thọ, 8- Ái, 9- Thủ, 10- Hữu, 11- Sanh, 12- não tử, 12 món này là nhân duyên lẫn nhau
HỎI: 414 ) -* Nhìn chung phẩm tựa Diệu Pháp Liên Hoa kinh như thế nào?
Đáp: Trọn vẹn cuộc đời giáo hóa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni niên viễn từ kiếp lâu xa không kể xiết được, thể hiện trong Phẩm Tựa mở đầu bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trước đó là đại thừa vô lượng nghĩa. Ngài đã phô diễn thần lực cho chúng hội thấy được Thật Tướng các pháp Bất Tư Nghì, Bất sanh, bất diệt, thập nhị nhân duyên, Vô tác, tứ đế, Giới thiệu cảnh giới Đức Phật. trong đó đầy đủ chín cảnh giới khác, để chúng ta hướng tâm về đó mà thọ trì.
HỎI: 415 )-*Chúng ta phải biết kết hợp các phương tiện như thế nào ?
ĐÁP: Kết hợp được hiện tượng giới và bản thể của giới, mới bao hàm được nhân hạnh quả của mười phương Chư Phật. Vì vậy Thiền Tông xem Phẩm Tựa hết sức quan trọng. Ngàì Hải Ấn Thiền Sư xếp phẩm Tựa vào tổng hiển hay toàn cảnh Diệu Pháp Liên Hoa kinh.
Kinh Pháp Hoa là Tối Thượng Thừa, Nhất Thừa để dạy hàng Bồ Tát và các Đệ Tử Phật, đem hàng Thanh Văn để ở đầu đó là do vì dạy “Khai quyền - hiển Thật”. đặc biệt vì dẫn hàng Nhị Thừa vào Phật Tri kiến thọ ký thành Phật cho nên mới gọi là thượng thủ.
HỎI:416 )-*Đức phật muốn phát triển Phật Tánh như thế nào ?
ĐÁP:Nguyên nhân Phật Tánh là ở đây, đến dưới đây đều được thọ ký thành Phật là liễu nhận Phật Tánh xuất hiện trong tâm mỗi người chúng ta.
HỎI: 417 ) -*Đức Phật xả định nói với Ngài Xá Lợi Phất như thế nào ?
ĐÁP: Đức Phật nói với Ngài Xá Lợi Phất: “ Trí tuệ của đức Như Lai rất sâu vô lượng, tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát đều không ai biết được. Vì trí tuệ ấy là kết quả của sự gần gủi trăm ngàn muôn ức Chư Phật. Của sự tu hành vô lượng Pháp Phật, của sự thấu đạt pháp mầu mà các ông từ trước chưa bao giờ nghe. Từ khi Ta thành Phật đến nay, đã nói pháp bằng nhiều phương tiện, để làm cho chúng sanh xa lìa lòng chấp, Ta có đủ phương tiện và tri kiến Ba La Mật mới thành tựu được như vậy. Chỉ có Phật với Phật mới thấu tột được các pháp”.
HỎI:418 ) -* Tại sao hàng Thanh Văn và tứ chúng ngạc nhiên , duyên cớ làm sao ?
ĐÁP: Hàng Thanh Văn và Tứ chúng ngạc nhiên không biết Đức Thế Tôn lặp đi, lặp lại Pháp Ngài chứng được và ca ngợi phương tiện như thế. Ngay như vấn đề chứng Niết Bàn. Họ đã hoàn tất tại sao Đức Phật lại đề cập tới.
HỎI: 419 ) -* Xá Lợi Phất bạch Đức Phật giải thích ?
ĐÁP: Xá Lợi Phất biết tứ chúng nghi ngờ, chính ông cũng chưa rõ lời Phật dạy, nên xin Đức Phật giải thích, Đức Phật từ chối nói rõ, thì người sẽ kinh sợ. Xá Lợi Phất thỉnh cầu thêm lại lần nữa. Đến lần thứ ba Đức Phật bằng lòng giải thích, lúc ấy 5.000 Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Nam, Nữ Cư sĩ trong pháp hội đứng dậy lễ Phật và đi ra họ tự cho đã đắc đạo. không cần nghe.
HỎI:420 )-*Những người tăng thượng mạn có hành động gì ĐÁP: Thế Tôn lặng yên, không ngăn cản và nói với Xá Lợi Phất: “ Những kể tăng thượng mạn bỏ đi càng tốt, nhờ đó trong hội còn toàn những người Chân Thật, Chư Phật đúng thời mới nói pháp, như hoa Linh Thoại đúng thời tiết mới nở một lần, pháp ấy không thể dùng trí suy lường mà biết được, để mọi người thâm nhập pháp,Ta phải dùng vô số phương tiện,nhân duyên, ngôn ngữ, thí dụ diễn nói, chúng sanh mới hiểu được.
HỎI:421) -* Mục tiêu của đức Phật ra đời nhằm mục đích gì ?
ĐÁP: Đức Phật thị hiện ra đời trên cõi Ta Bà nhằm mục đích: Khai mở Tri Kiến Phật, để cho chúng sanh thấy Tri Kiến Phật, làm cho chúng sanh nhận rõ Tri Kiến Phật và giúp chúng sanh đi vào con đường Tri Kiến Ấy, nghĩa là thành Phật chỉ có một Phật Thừa ( Nhất Thừa) là con đường dẫn chúng sanh đến quả vi Phật không có hai hay ba Thừa. Ba đời chư Phật: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai cũng đều dạy như vậy. Chúng sanh nghe theo tu hành đều thành Phật.
HỎI: 423 ) -* Đối với chúng sanh đức mỏng, tội nặng, Đức Phật phải dùng phương tiện giáo hóa như thế nào ?
ĐÁP; Đối với chúng sanh ở đời ác trược, Ta phải dùng phương tiện phân ra nói Tam Thừa giáo.
Hàng Thanh Văn, Duyên Giác, tưởng rằng đã chứng Niết Bàn, không tin pháp Nhất Thừa là hàng tăng thượng mạn. Không phải đệ tử Phật, không phải thực chứng A La Hán.
HỎI: 424 )-Khi đắc đạo xong Đức Phật suy nghĩ gì ?
ĐÁP:Đức Phật nhắc lại những tư duy đắn đo của Ngài lúc mới đắc đạo dưới cội Bồ Đề, trong 21 ngày. Ngàì luôn luôn suy nghĩ làm thế nào dạy cho chúng sanh, Tham ái, mê muội, ngu si, Trí kém, thế nào hiểu được trí tuệ bậc nhất của Ngài. Nếu chỉ dạy Nhất Phật Thừa cho chúng sanh họ sẽ không tin phải đọa ba đường ác, chìm mãi trong biển khổ. Ngài nhớ lại pháp phương tiện giáo hóa của Phật quá khứ. Ngài liền phân chia giáo pháp thành Tam Thừa, để người trí kém cũng tin theo được. Sự thật Phật ra đời để chỉ bày chân lý, không phải chỉ dùng pháp phương tiện mãi.
HỎI: 425 ) -*Đức Phật rèn luyện cho hàng Thanh Văn,Duyên Giác trong 40 năm, bỏ chấp trước, chứng A La Hán, Ngài mói giảng kinh gì ?
ĐÁP: Đức Phật rèn luyện cho Tứ Chúng trãi qua 40 năm, bỏ được chấp trước chứng A La Hán, Bồ Tát, Ngài mới dẫn chúng hội lên đỉnh Linh Thứu Sơn để mở hội Pháp Hoa.Đức Phật nhận thấy đã đến lúc cần phải giảng Nhất Phật Thừa. Tuy nhiên: Những việc làm tầm thường như: Cúng dường Xá Lợi, xây tháp ,tạc tượng, niệm Phật, tụng kinh, lễ lạy ,cho đến chỉ giơ một tay, hay cúi đầu trước tương Phật vv… Được Đức Phật xác đinh cũng là những bước tiến gần đến giải thoát, giác ngộ.
PHẦN GIẢI THÍCH.
HỎI: 426 ) -*Phẩm Phương Tiện trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh quan trọng thế nào?
ĐÁP: Phẩm Phương Tiện được coi là cốt lõi của Tích môn, phẩm quan trọng này là giáo pháp của Đức Phật, là phẩm đầu của toàn bộ kinh Pháp Hoa. Vì Ngài phải vận dụng mọi phương tiện để giáo hóa chúng sanh.
HỎI: 427 ) -* Trí tuệ của Như Lai được thể hiện ở Tứ Vô Lượng Tâm như thế nào ?
ĐÁP: Trí tuệ của Như Lai thì rộng lớn, sâu xa, Như Lai thấy rõ từ quá khứ Vô lượng đến tương lai Vô lượng. Ngài có bốn tâm lớn sau đây: “ Tứ Vô Lượng Tâm”.
1/-Đức từ Vô Lượng:Mong rằng đời mình làm cho những người khác được hạnh phúc.
2/- Đức bi Vô Lượng: Mong muốn rằng công hạnh của mình, gỡ bỏ những đau khổ của những người khác.
3/- Đức hỷ vô lượng: niềm vui khi thấy tất cả những người khác được hạnh phúc.
4/- Đức xả vô lượng: Cái tâm trừ bỏ những ý niệm trả thù, vì bị người khác gây hại, lẫn thư chấp vào sự đền bù cho hành vi của mình.
Tri kiến của mình không bị chướng ngại, năng lực, sự vô úy, Thiền Định, giải thoát, Tam Muội của Ngài nhập vào cảnh giới, vô biên thành tựu, hết thảy các pháp chưa từng có.
HỎI: 428 ) -*Ngài Xá Lợi Phất ba lần thỉnh Phật giảng Pháp cho Bồ Tát, Phật bằng lòng giảng. Tứ chúng trong hội trường như thế nào ?
ĐÁP: Ngài Xá Lợi Phất ba lần thỉnh Phật nói Pháp cho Bồ Tát, Đức Phật nhận lời vì họ đã đời đời nghe Đức Phật. Như Lai cho biết niềm tin là cửa ngõ duy nhất dẫn vào pháp tạng bí yếu của như lai.
Khi Đức Phật bằng lòng giảng dạy. 5.000 người tăng thượng mạn ,đứng dậy bỏ hội trường lễ Phật rồi lui ra. Đức Phật không ngăn cản. Còn cho là tốt, vì họ chưa có khả năng nghe kinh. Khi bỏ đi, họ hối hận cảm thấy thiệt thòi. Khi đó sẽ phát tâm trở lại. Người hoằng truyền kinh Pháp Hoa đời sau phải nương theo pháp này mà hành đạo. Khi nhân duyên chưa đến ta không nên kêu gọi gò ép. Vì làm như vậy, người nghe sẽ tăng thượng mạn, phải vào địa ngục.
HỎI: 429 ) -* Muốn đắc đạo cần phải có những điều kiện gì ?
ĐÁP: Trước khi giảng pháp phương tiện. Đức Phật xác định rằng pháp Chân Thật Ngài chứng được chỉ có Chư Phật mười phương mới biết, Bồ Tát không thể hiểu lỗi huống chi hàng Thanh Văn, đối với chúng ta còn xa ngàn dặm.
Thật vậy: Đức Phật nhận thấy thể lực của chúng ta không tốt, hiểu biết chúng ta kém, hai vốn quý giá để đắc đạo chúng ta không có đủ, Ngài động lòng từ bi, thương sót, triển khai ra nhiều phương tiện cho chúng ta tu hành.
HỎI: 430 )-*Đưc Phật tu hành có những diều kiện thuận lợi gì ?
ĐÁP: Quan sát đời tu hành của đức Phật chúng ta thấy rõ Ngài có sức khỏe phi thường. Khi chưa xuất gia lịch sử ghi rõ không có lực sĩ nào khỏe hơn Ngài, Nhờ sức khỏe kỳ diệu, Ngài trắc nghiệm các pháp tường tận. điển hình như ngài thử nghiệm tu khổ hạnh sáu năm ,mỗi ngày chỉ ăn một hột mè vẫn sống được. Ngài hạ thủ công phu 49 ngày không ăn vẫn không ngã ngục. Còn đạt đến điểm cao sự minh mẫn gọi là giác ngộ.. Ngoài phần thể lực hay khả năng tri giác, trí tuệ người tu mới thật là quan trọng. Đức Phật Ngài thông minh tuyệt vời, từ khi Ngài mới xuất gia đến khi đắc đạo. Còn được tôn vinh là tránh biến tri. Hiểu các pháp tận nguồn gốc. trình độ các Tổ Sư cũng vậy, luôn luôn vượt hơn thế gian chỉ đạo cuộc đời.
HỎI: 431 ) -*Đức Phật đưa ra phương tiện như thế nào?
ĐÁP:Phương tiện dùng cho người mới phát tâm vào đạo để đạt đến kết quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh giác.
Đức Phật đưa ra 84.000 phương tiện hay 84.000 pháp môn tu, chúng ta tu pháp môn nào cũng được. Nhưng đừng lạc ra ngoài pháp môn này. Tạo những phương tiện khác là tự đẩy mình ra ngoài Phật pháp. Dùng phương tiện đúng, từng bước sẽ xóa bỏ ô trần cấu, trí tuệ phát sinh, dẫn đến quả vị Giác Ngộ.
HỎI: 432 )-* Hành giả phải cân nhắc kỹ “phương tiện” Và “Cứu Cánh” ?
ĐÁP:Không nên lầm phương tiện với cứu cánh. Nhưng không hiểu rõ ích lợi sâu xa mà bác bỏ phương tiện đi tìm Giác Ngộ cũng sai . Hành giả cần cân nhắc kỹ, sử dụng phương tiện như thế nào để phá trừ phiền não cho mình, giáo hóa chúng sanh thành tựu, mới là điều quan trọng.
Hành giả học pháp Phật nghĩa là đi qua cửa phương tiện thế nào để ra khỏi sanh tử luân hồi. Trong kinh Pháp Hoa diễn tả muốn ra khỏi nhà lửa Tam Giới, chỉ có một cửa duy nhất lại nhỏ hẹp. Đó là cửa phương tiện của Đức Phật.
HỎI: 434 ) -* Đức Phật và các Tổ Sư tu hành biến không thành có như thế nào ?
ĐÁP: Về sau Thiền Tông mở thêm cửa Không, tuy nhiên chỉ có hàng Thương Căn trí tuệ như Ngài Ca Diếp, Ngài Đạt Ma, Ngài Huệ Năng mới bỏ cửa phương tiện giáo môn vào cửa Không. Cửa Không là cánh cửa mở ngược, vô tâm, đòi hỏi hành giả phải thấy được tự tánh hay bản thể sự vật. Nghĩa là đã thành Đức Phật.
HỎI: 435 )-*Hành giả phải học đức Phật biến không thành có, biến có thành không ?
ĐÁP:Phải nắm bắt được cái không làm thành có, như Tổ Sư dạy:( “ Đạo Quảng Khai, Thố Giác trượng, Phiêu đàn để nguyệt, Thiền môn giáo dưỡng, Phi lao thằng phược, não đầu phong” )2 .
Nghĩa là: Lấy lông con rùa làm dây để cột gió trên đầu ngọn cây, không cho gió bay. Lấy sừng con thỏ làm cây sào để trọc trăng dưới ao.
Lông rùa, sừng thỏ, cột gió, mò trăng, đối với hàng phàm phu chúng ta hoàn toàn tuyệt phần, không bao giờ với tới được, đến độ có thể nghĩ lầm là “ không tưởng”.
HỎI: 436 ) -*Kết quả của phương tiện được thể hiện thế nào ?
ĐÁP: Vì cửa không tuy không có cửa mà vẫn lạnh lùng then cài khép kín, ngàn đời không bao giờ hé mở cho những người chưa Ngộ Tánh. Chính vì việc khó khăn trong việc thâm nhập thế giới bản thể. Vắng Lặng không nói được, Đức Phật mới mở cửa Pháp phương tiện tương ứng. Để người trên trái đất chỉ làm một việc là bàn đi bàn lại phương tiện. Nói cách khác là đưa Phật Pháp vào tâm, đến ngày nào tâm bừng sáng cũng Ngộ Tánh thành Phật.
HỎI: 437 )-*Hàng hạ căn phải tu tập như thế nào ?
ĐÁP:Hàng hạ căn đem hết cuộc đời trầm mình vào 84.000 pháp tu: Suy nghĩ, nghiên cứu, tìm ý nghĩa trong giáo điển, đem ứng dụng vào cuộc đời, đạt được kết quả nào, đem giáo hóa cho lớp kế thừa, để báo ơn Đức Phật.
Thiết nghĩ: Khi gắn liền cuộc đời mình với giáo lý siêu tuyệt được lẽ sống giải thoát, thì không còn gì trên cuộc đời này có khả năng lôi kéo được chúng ta nữa.
HỎI: 438 ) -* Đức Phật khai phương tiện dạy Tăng Ni
Phật tử như thế nao ?
ĐÁP: Đức Phật dạy : “Tăng Ni phải phát huy trí tuệ nương theo phương tiện của bậc đàn anh, cố găng học tập để vượt lên trên, đừng an phận với bát cơm manh áo. Sống trong bể Phật Pháp mà không được chút Phật Pháp nào?. Ở trong kho báu của Như Lai mà không lấy được gì như người không tay. Chẳng lấy được chút hương vị, thật phí cả cuộc đơì tu hành vô ích”.
HỎI:439 )-* Phương tiện phải dùng như thế nào ?
ĐÁP:Phương tiện tùy thời, tùy chỗ, tùy người, thay đổi có vô số pháp phương tiện. Thích hợp khác nhau. Suốt quá trình thuyết Pháp của đức Phật hơn 300 hội, Từ Lộc Uyển đến Ta La Song Thọ tạo cho chúng ta nhiều phương tiện. Được ghi lại bằng văn tự kinh điển. Tuy nhiên trong kinh Văn Thù Sư Lợi Đức Phật đã khẳng định 49 năm Như Lai chưa từng nói một lời, Một lời là Pháp Chân Thật. Như Lai ở trạng thái Vô sanh, không đi, không đến, không về đâu, làm thế nào có thể nói với người trên cuộc đời ở Ta Bà này.
HỎI: 440 )-* Kinh Văn Thù Sư Lợi xác đinh như thế nào? ĐÁP: Kinh Văn Thù Sư Lợi ở lập trường bản thể xác định Như Lai 49 năm thuyết Pháp là đức Thích Ca Mâu Ni mở phương tiện cho người trong sanh tử. Đức Thích Ca viên tịch Như Lai không viên tịch. Đức Phật Chân Thật Tỳ Lô Giá Na không chết. Đức Thích Ca Niết Bàn để lại Xá Lợi xây tháp thờ khắp thế giới. Trở thành con người của nhân loại và luôn luôn hiện hữu trong Pháp Tánh của người tu đắc đạo.Hành giả tu chứng được pháp nào sẽ thấy đức Phật ở khía cạnh đó. Hai mặt Cứu Cánh và Phương Tiện vẫn là một trong con người Đức Phật.
HỎI: 441 )-* Đức Phật cứu cánh là như thế nào ?
ĐÁP:Cứu Cánh là Đức Phật thực hay Tâm Như Lai không sanh, không diệt, không tới, không lui,không mất vẫn ở trên cuộc đời này, Vĩnh hằng, bất diệt.
Phương tiện là hiện ra con người thuyết pháp, có sanh, có diệt, những việc làm hoặc hiện tượng được thể hiện trên cuộc đời ở Ta Bà .
HỎI:442 ) -* Kinh điển của Phật được chia như thế nào?
ĐÁP:Ngài Thiên Thai chia kinh điển của Phật thành năm thời giới: Đức Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm 21 ngày. Kinh A Hàm 12 năm. Kinh Phương Đẳng 8 năm. Kinh Bát Nhã 22 năm. Kinh Pháp Hoa 8 năm.
Ở lập trường Pháp Hoa mà xét. Kinh Pháp Hoa ở thời sau cùng, nhưng kinh này thâu được cả bốn phần trước gọi là Viên Giáo.
HỎI:443 )-* Ngài Thiên Tai chia kinh Pháp hoa như thế nào ?
ĐÁP: Ngài Thiên Thai cũng chia kinh Pháp Hoa thành năm loại ( Ngũ chủng Pháp Hoa) trong đó văn tự Pháp Hoa gồm tất cả những gì Đức Phật đã thuyết giảng trên cuộc đời mà đệ tử Ngài ghi lại gồm đủ Tam Tạng giáo điển kinh. Bát Nhã , A Hàm đều mang ý nghĩa Pháp Hoa cũng là Phật Thừa. Đối với người dùng ngũ ấm thân nên Đức Phật phải triển khai phương tiện, dùng ngôn ngữ văn tự
HỎI:444 )-*Hành giả hiểu kinh Pháo Hoa như thế nào ? ĐÁP: Hiểu như vậy kinh Pháp Hoa không những giới hạn trong 28 phẩm này mang tên Pháp Hoa, còn các kinh khác được mang ý Pháp Hoa cũng gọi là đại Thừa. Riêng kinh Hoa Nghiêm không mang ý Pháp Hoa vì ở dạng Bồ Tát tu hành, nói về tiền thân của ngài Thích Ca Mâu Ni tu Bồ Tát thành đạo đến thành Phật.
HỎI: 445 )-* Tại sao kinh Hoa Nhgieem không mang ý Pháp Hoa ?
ĐÁP: Kinh Hoa Nghiêm cũng mang một phương tiện của Đức Phật. Kinh này vẽ ra lộ trình tu tập của một chúng sanh từ Địa ngục A Tỳ tu dần dần đến quả vị Như Lai. Phải trải qua quá trình tu: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh,Thập hồi hướng, tiến tới Đẳng giác, Diệu Giác. Khi đức Phật thành đạo ở Bồ Đề đao tràng. Những người có tư cách tiếp cận với Ngài phải là Đẳng giác Bồ Tát. Bồ Tát này đông như vi trần, nhưng phàm phu không thấy được. Đức Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm cho Đẳng Giác Bồ Tát diễn tả toàn bộ sự nghiệp tu hành của Ngài trong 21 ngày ngắn ngủi .
HỎI: 446 ) -*Hành giả muốn mau đắc đạo cần phải cắt bớt những thứ gì ?
ĐÁP: Hãy đem suy nghĩ xem phần vật chất. Mỗi ngày chúng ta phải đem vào thân mấy bát cơm và coi đó là Ta nếu mỗi ngày không dồi vào bao tử bao nhiêu thức ăn thì cái Ta này cũng chấm dứt luôn. Xa hơn nữa rõ ràng chúng ta sử dụng năm giác quan để tiếp thu vinh nhục trần thế. Đây là năm tiền trạm, khiến chúng ta tròng lên mình những buồn khổ, xem buồn khổ đó là “Ta” như vậy tứ đại ngũ uẩn chuyên lượm lặt nhơ bẩn từ ngoài vào không phải là “ta”.
HỎI:447 )-* Người tu hành nhất thiết gạt bỏ những gì? ĐÁP:Theo Phật huệ quan sát, người tu khởi đầu dứt khoát gạt bỏ những gì không phải là “ Ta”. Thực tu không dại gì đem vui buồn trần thế vào Tâm. Các Ngài A La Hán bỏ những thứ lặt vặt bằng cách đóng kín 5 giác quan hay năm cửa tiếp xúc với bên ngoài. Ngăn chặn 5 tiền trạm này xong, còn lại phần tinh thần, Thọ, tưởng, hình, thức, cũng theo đó bị xóa sạch. Vì 6 căn không tiếp với 6 trần. Vấn đề được đặt ra, hiểu biết chuyện thế tục, buồn, vinh, nhục, do mắt thấy, tai nghe bị cắt đứt. Tâm hồn hành giả trở thành lặng yên. Tuy sanh Tâm tứ đại của hành giả vẫn còn, nhưng không tác động của thân, nên tâm khổ đau không có.
HỎI: 448 )-* Chưa tu ta dại khờ nghĩ thế nào ?
ĐÁP:Trước khi dại khờ ta lấy cái khổ là ta, nay xóa cái khổ chỉ còn lại cái ta là Chơn Ngã ( Chân Ngã) kiểm soát tứ đại lại một lần nữa thấy nó không đòi hỏi nhiều như trước nữa. vì Thọ, tưởng, hình, thức, đã dẹp bỏ thân đòi hỏi rất ít. Ngược lại nó giúp ta rất nhiều phương tiện tu hành đạt đến Chánh Đẳng Chánh Giác.
Trên bước đường tu thâm nhập Phật Huệ, bằng phương tiện này dễ dàng đạt Chánh Đẳng Chánh Giác.
HỎI: 449 ) -*Hành giả mới tu phải phá phương tiện gì trước?
ĐÁP: Trước tiên phải phá lòng tham, theo yêu cầu cuộc sống con người không nhiều nhưng lòng tham của chúng ta bao nhiêu cũng không đủ. Tuy nhiên phá được lòng tham rồi, thì những gì không cần thiết cho thân không chi phối được ta nữa.
HỎI: 450 )-*Muốn nhanh chóng thành Phật Đạo hành giả phải thực hiện như thế nào ?
ĐÁP:Đức Phật dạy “ Ngũ ấm xí thạnh khổ”.Khổ sanh ra chỉ vì cung ứng cho thân quá nhiều. Ý thức như vậy, hành giả giảm tối thiểu việc ăn uống, đời sống trở nên thanh thản, khác với người thế tục. đó là trạng thái bước vào cửa Thiền thâm nhập Phật Huệ.
Đi sâu vào giới Thiền Định hay giới Tâm linh là đã diệt ngũ uẩn. Nhưng sẽ bắt gặp Tổ Sư đi trước, Ngaì dạy kinh nghiệm tu chứng. Đánh dấu từ khởi điểm này mới gọi đó là tu.
HỎI:452) -* Hành giả tự liên hệ thời gian từ trước đến nay mình tu hành như thế nào?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Hành giả nhìn lại thấy giai đoạn từ trước đế Sơ quả thật là Vô ích, làm những chuyện không đáng làm, mà Tổ Huyền Giác của trách phí cả cuộc đời tu hành, như người giang hồ ,giải nắng, dầm sương, lang thang làm kẻ phong trần đến già cũng chẳng được gì. “ Đa niên uổng tác, phong trần khách”.
Từ Sơ Quả đi vào Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền. Đức Phật mới gặp Ka Ma La đi vào thế giới Không. Ngài gặp Mất Đầu Lan đi cùng tột thế giới tâm linh. Ngài gặp Bồ Tát từ Sơ Địa đến Thập Địa, đến Đẳng Giác Bồ Tát.
HỎI: 452 )-*Đức Phật kiểm tra toàn bộ khi mình tu Bồ Tát Đạo như thế nao ?
ĐÁP: Đức Phật kiểm tra toàn bộ quá trình tu hành Bồ Tát đạo của họ đúng hay sai, bằng cách thuyết kinh Hoa Nghiêm cho Bồ Tát Đẳng Giác trong 21 ngày ở thế giới Thiền định. Không phải nói cho chúng sanh ở Ta Bà nghe. Có thể nói kinh Hoa Nghiêm là phương tiện thứ nhất của Đức Phật đưa ra cho Bồ Tát lớn. Nói xong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật nhập định nghĩa xứ. Trời Phạm Thiên thỉnh đức Phật thuyết Pháp 80.000 Phạm Thiên nghe xong, chứng quả Vô Sanh Pháp Nhẫn, tất cả sự giáo hóa này, chỉ diễn ra trong thế giới Thiền Định ở bản Tâm.
HỎI: 453 ) -*Đức Phật chứng Chánh Đẳng Chánh Giác ở Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài đi giáo hóa chúng sanh như thế nào?
ĐÁP: Đức Phật xả định trở lại thực tế cuộc sống, gặp 5 anh em Kiều Trần Như Ngài giảng pháp Tư Đế, các ông tiếp thu được dễ dàng,từ đó có thêm đối tượng loài người trên cuộc đời. Lập thành Tam Bảo. Đức Phật ngồi Bồ Đề Đạo tràng nhập Thiền Định. Người thế gian không biết Ngài làm gì, nhưng trở lại thực tế cuộc sống. Ngài đi giáo hóa chúng sanh, chúng ta mới biết có một Đức Phật ở thế gian. Có thể nói đức Phật ở thế gian là phương tiện. Ngài thuyết giảng cũng là phương tiện.
HỎI: 454 )-*Đức Phật thuyết pháp như thế nào ?
ĐÁP: Suốt quá trình Đức Phật thuyết pháp bằng ngôn ngữ từ Lộc Uyển đến Ta La Song Thọ, tạo cho chúng ta văn tự Pháp Hoa kinh. Còn Chân Thật Pháp Hoa kinh chỉ có Chư Phật với Phật mới hiểu được. Đức Phật Thích Ca phải điều động đức Phật Đa Bảo Như Lai đến chứng minh pháp Chân Thật Pháp Hoa. Từ Bồ Tát trở xuống chỉ nghe pháp phương tiện.
--Pháp phương tiện thứ nhất đức phật nói cho Bồ Tát Đẳng Giác.
- Phương tiện thứ hai nói cho Phạm Thiên nghe.
- Phương tiện thứ ba nói cho dân gian bằng ngôn ngữ văn tự Pháp Hoa kinh.
HỎI: 455 ) -*Hàng Thanh Văn và Phật tử được nghe Phật thuyết pháp như thế nào ?
ĐÁP: Hàng Thanh Văn nghe ngôn ngữ văn tự kinh dần dần sống trong cảnh Thiền Định, nghe đức Phật thuyết pháp qua tâm, Tâm họ tiếp nhận pháp. Nhờ đó trí tuệ phát sinh họ bắt đầu thấy sự vật giống đức Phật thấy. Không qua vinh nhục của cuộc đời. họ nghe pháp được dạng không nghe mà nghe vì Đức Phật và A La Hán nhập Thiền Định. Trong im lặng thả sức sống kỳ diệu. Sinh hoạt cảnh giới tinh thần này người trần không nghe được. Từ đó Đức Phật dìu dắt A La Hán tiến lên quả vị Bồ Tát. Nghĩa là họ cũng trở về pháp vô ngôn, để thấy chân Thật tướng của pháp Hoa.
HỎI: 456 )-* Khi tu hành chứng ta thường lầm lẫn như thế nào ?
ĐÁP: Chúng ta thường lầm lẫn chấp pháp phương tiện làm cứu cánh, thì phương tiện không còn cách giải thoát. Lại trở thành ràng buộc ta
HỎI: 457 ) -* Hành Giả cùng Phật tử lạy Phật và tụng kinh có cảm nhận được gì?
ĐÁP:Phật tử đã sớm ý thức tác dụng của phương tiện, chúng ta siêng lạy Phật bằng xi măng; tụng kinh bằng giấy, nhờ đó trí tuệ mỗi ngày một phát sinh, giải quyết các việc đến với mình một cách tốt đẹp. Đối trước tượng Phật, độ thành kính của ta phá được màn vô minh ngăn che giữa ta với tượng Phật có sức thu hút mạnh. Kéo ta rời thực tế phiền não, vụt tan biến theo . Tập trung cao độ tư tưởng có khi quên cả sinh mạng, quên đi hiện hữu thân tứ đại. Thấy Đức Phật có 32 tướng tốt khiến tâm ta hoan hỷ, mới cảm thông liên hệ với đức Phật được. Tượng Đức Phật chỉ có giá trị với người có hương vị giải thoát.
HỎI: 458 )-* Học giáo Pháp của Phật chúng ta có công đức gì ?
ĐÁP:Giáo Pháp của Đức Phật soi sáng Tâm con người,thường được ví như ngón tay chỉ mặt trăng hay thuyền dùng qua sông, tức là phương tiện làm cho tâm ta mở rộng. Trí tuệ phát sanh là chủ yếu. Người nghe Pháp trí không phát sanh, đạo đức không tăng họ đã kẹt phương tiện.
Vấn đề quan trọng ở điểm, biết vận dụng giáo lý làm phương tiện sống của mình giống như cơm ăn , nước uống, hơi thở hàng ngày, để giúp ta sống được mạnh khỏe. Nếu cơm và hơi thở cứ mang vô mà không thải ra, chắc chắn phải chết.
HỎI: 459 )-* Các Tổ Sư dạy chúng ta như thế nào ?
ĐÁP: Cũng vậy: Giáo lý Phật pháp cứ gom vô, làm chúng ta mắc bệnh giáo điều. chẳng khác gì chết bị bội thực ăn không tiêu. Cũng từ ý này Tổ Sư đã dạy rằng:
“Kinh điển lưu truyền tám vạn tư,
Học hành không thiếu cũng không dư,
Đến nay tính lại đà quên hết,
Chỉ để trên đầu một chữ “Như”.
Học hành không thiếu cũng không dư, nghĩa là học đủ để tu, học nhiều để phiền não nhiều cũng vô ích.
Học đủ không giữ lại, vì giữ lại sẽ thành bệnh, chỉ nhớ trên đầu một chữ Như là Tâm Chân ( Phật Tánh).
HỎI:460)-*Học xong Đắc Đạo tát cả như thế nào ?
ĐÁP: Học xong đắc đạo tất cả để lại phía sau. Truyền lại cho thế hệ kế thừa, giảng giáo lý cho mọi người nghe là đã đền ơn đức Phật.
Người sơ tâm vào học cần phương tiện thấp nhất là ngôn ngữ văn tự, tiến lên trí tuệ
Đức Phật Thích Ca thuyết pháp Hoa kinh ở Linh Thứu Sơn thâu 60 kiếp thành một niệm để thâm nhập đạo tràng Pháp Hoa.
HỎI: 461 ) -* Đức Phật xuất hiện trên đời, đã rèn luyện cho đệ tử Ngài như thế nào ?
ĐÁP: Trong một đời Đức Phật giáo hóa giúp các đệ tử trồng căn lành từ Lộc Uyển trưởng dưỡng thân tâm ở thời kỳ Trúc Lâm Tịnh Xá, bỏ hết chấp trước, Tâm Tánh thanh tịnh, có lực, có trí, khỏe mạnh. Đến đây Ngài mới mở hoa linh thoại hay không trung thuyết Pháp. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đạt được Tâm KHÔNG, không còn vướng bận trần thế, mới nhận được kinh Pháp Hoa,do Đức Phật truyền trao vượt ngoài lưới ma. Thâm nhập huệ của Như Lai, không còn lời nói để chỉ dạy. Nhưng tâm hành giả linh hoạt đến cao độ. Một niệm tâm thông được pháp giới thấy biết 18.000 thế giới. Giai đoạn một và hai là giai đoạn tịnh hóa tâm. Giai doạn ba là giai đoạn phát triển tịnh tâm. Nếu không theo thứ tự này không có kết quả.
HỎI: 462 )-* Học xong Hành giả không giáo hóa trở thành như thế nào ?
ĐÁP: Tự cho đã học hết kinh điển, không còn gì để trưởng dưỡng tịnh tâm vô ích. Nhiều khi thành chướng ngại. Tâm chẳng những không trong sáng, còn hóa ra phiền não. Hành giả đã tu sai pháp, càng tu càng xa dọa.
Chư Tổ Có Câu:
“ Nhất niệm Phật tại tiền
Nhị niệm Phật thăng thiên
Tam niệm Phật bất biến”.
Nghĩa là học nhiều,nghe pháp nhiều, lạy sám nhiều , đến khi đụng việc lập tức Tham, sân, si, phiền não, vì nghe nhiều tự tánh ngăn che, tâm thành mờ không thấy đạo. cần tịnh hóa tự tâm trước,cố gắng giữ tâm trong sáng như lúc ban đầu không cho thay đổi.
Pháp Phật có công năng rửa sạch phiền não, người dùng pháp sai làm tâm nhiễm ô thành bệnh nhất xiểm đề. Đức Phật không cứu được. Người chưa tu còn phiền não, nhưng thấy đức Phật lại phát tâm.
HỎI: 463 )-*Người tu hành phải giữ Tâm như thế nào? ĐÁP: Người trong đạo, lạy phật mỗi ngày vẫn sanh phiền não, Đức Phật đành chịu thua. Họ giống như kẻ sử dụng lờn thuốc, không có tác dụng. hình ảnh tiêu biểu cho điểm này là: Vô Não hung giữ thấy Phật buông kiếm thành A La Hán. Nhưng Thiện Tĩnh Tỳ Kheo là em họ của đức Phật, sống gần Phật Mà Ngài không độ nổi.
HỎI: 464 ) -* Nghe Pháp hành giả có Lợi gì ?
ĐÁP:Nghe Pháp tâm bừng sáng, cuộc đời sóng gió bao nhiêu, hành giả vẫn an trụ pháp tiến tu được.
Ngược Lại : Nghe Pháp cuộc đời vẫn đầy bất mãn, khó chịu. Nghiệp ác ùn ùn nổi dậy. Phải biết đó là không phải chỗ ta tu. Không bỏ đi sẽ đọa địa ngục A Tỳ.
HỎI: 465 ) -*Đức Phật dạy Phật tử phải tu như thế nào?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát Phải tu:Giai đoạn một: Lấy giáo lý trưởng dưỡng tại tâm, tâm thành thanh tịnh, lấy kinh điển làm khuôn vàng thước ngọc, đọc, tụng, suy tư hàng ngày, không được lạc ra ngoài kinh điển.
Giai đoạn hai: Không nghe pháp tâm vẫn thanh tịnh, ta quen quan sát, suy nghĩ thành quả của người, người nhìn thấy phát tâm theo.
HỎI: 466 )-*Hành giả phải tu như thế nào ?
ĐÁP:Giai đoạn ba: Từng niệm tâm thanh tịnh ta phất triển, những điều trước chưa có, thầy không dạy. Ở giai đoạn này hành giả Pháp Hoa lấy Phật hộ niệm làm chính, Phật huệ rọi tâm, Tâm bừng sáng, biết việc chính xác làm có kết quả, mỗi giai đoạn tu khác nhau, mỗi nơi, mỗi chỗ vận dụng cũng khác nhau, hoàn cảnh đổi khác, nên đức Phật dạy trong kinh “Phật oan tam thế”.
HỎI: 467 )-* Thời mạt pháp hành giả phải tu như thế nào? ĐÁP: Đức Phật xác định ở thời mạt pháp không còn kinh nào khác kinh Pháp Hoa lưu tryền trong diêm Phù Đề. Chúng ta phải hiểu kinh Pháp hoa là tâm bừng phát, từ tâm bừng sáng của những người ngộ đạo. Kinh Pháp Hoa do Phật hộ niệm, Bồ Tát giữ gìn trong tâm, là kinh dạy cho hàng Bồ Tát rộng lớn. Chỉ có kinh Pháp Hoa mới tồn tại sau đức Phật diệt độ hơn 2555 là 28 phẩm Diệu Pháp Liên Hoa chúng ta thường đọc hàng ngày. Phần lớn chúng ta chắp chặt văn tự nên chết ngột trong 28 phẩm. Chúng ta không phủ nhận kinh Pháp Hoa văn tự.
Tuy nhiên: Phải dùng 28 Phẩm soi vào tâm ta, để biết đúng như thật, làm đúng chân lý, lợi ích cho muôn loài đó mới là Pháp Hoa tâm do tâm khai ngộ mới có ( Nên không có mô hình nhất định)2.
HỎI: 468 ) -* Đối với hàng Bồ Tát hành giả Pháp Hoa phải làm thế nào?
ĐÁP: Đối vời hành giả Pháp Hoa tâm thanh tịnh, trong sáng. Trong kinh có ghi “ Nhất thiết thế gian, tư sanh sự nghiệp”. Nghĩa là bất cứ việc gì trên thế gian cũng là đạo. Không phải chỉ có giới hạn ở chùa.
Hành giả Pháp Hoa là Bồ Tát kiểu mẫu thì được dân kính dân yêu.
- Nếu Bồ Tát là nông dân năng xuất lúa phải trội hơn người, tất cả lợi ích đều cho người và cho mình.
- Nếu Bồ Tát Là công nhân trong nhà máy phải có năng xuất cao,
- Nếu Bồ Tát là thợ thủ công những đồ sản xuất ra phải đẹp, tiêu dùng nhanh,
- Nếu Bồ Tát là cán bộ phải trung thành với Tổ Quốc không tham nhũng, không hách dịch, không làm hại người khác, luôn luôn làm đẹp cuộc đời, Bồ Tát giáo hóa chúng sanh ở lĩnh vực nào cũng xuất sắc mới thực là hành giả Pháp Hoa kinh.
HỎI: 469 ) -* Đức Phật cũng thể hiện điều này như thế nào ?
ĐÁP: Đức Phật cũng thể hiện điều này, đọc lịch sử chúng ta thấy, Đức Thích Ca là người khỏe nhất so với các lực sĩ. Đối với triết gia là người thông minh nhất, mới 12 tuổi mà không thầy nào dạy nổi. Đối với nghệ sĩ Ngài là người đánh đàn giỏi nhất. cỡi ngựa bắn cung Ngài là người bắn giỏi nhất. Đức Phật đa tài như vậy mới được xưng tôn là người thầy của Trời, Người.
HỎI: 470 ) -* Phương tiện của Phật có tác dụng như thế nào?
ĐÁP: Phương tiện của Đức phật có hai phần: Phương tiện lực và Phương tiện trí lực. Phần truyền vào cho hành giả hiểu biết, suy luận, thuộc về phương tiện trí lực của Đức Phật. Phương tiện lực của Phật thì thiên biến vạn hóa vv… Tùy căn cơ hoàn cảnh từng người mà đức Phật ban cho phương tiện thích nghi với họ. Các phương tiện khác điều không chống trái nhau. Phương tiện dù tốt hay xấu đều đưa hành giả đến giải thoát. Hiểu được phương tiện lực và phương tiện trí lực của Đức Phật. Nhìn lại đời Giáo hóa của Đức Phật .
HỎI: 371 )-*Phương tiện Lực của Phật đã giáo hóa Vua A Xà Thế như thế nào ?
ĐÁP: Từ nghịch duyên như vua A Xà Thế hay Đề Bà Đạt Đa. Dưới mắt của Nhị Thừa là chướng ngại cho hoằng pháp của Đức Phật phải vào Địa ngục A Tỳ.
Nhưng theo kinh Pháp hoa đó là phương tiện Ngài đưa ra để giáo hóa chúng sanh. Gặp khó khăn nào Ngài cũng thể hiện vượt hơn người.
Cảm nhận được điều này, ta thấy việc làm của quỹ vương hành hạ tội nhân cũng không nằm ngoài phương tiện lực của Phật. Nhưng có người đáng dùng phước lộc an lành để giáo hóa, cho họ tiến tu, thì đức Phật cung cấp tất cả điều kiện thuận lợi thậm chí Ngài khiến cả Trời Đế Thích hay tám mươi Vương Nữ đích thân đến kính rước.
HỎI: 472 ) -*Mười Tướng Chân Thật của các Pháp như thế nào ?
ĐÁP: Đức Phật dạy: Dưới đây sẽ giải về Tướng Chân thật khó hiểu của các pháp. Cái lý do khó hiểu đó. Nhưng các pháp là: Tướng, Tánh, Thể, Lực, Tác, nhân, duyên, Quả, Báo, Bổn mạt cứu cánh mà thôi. Tất cả mười pháp này thì dễ thấy dễ tin, nào có gì khó. Do vì chính ở nơi các Pháp, để hiển bày thật tướng chân thật cho nên thâm diệu và khó hiểu.
Mười tướng chân thật của các Pháp:
1/- Nếu nói tướng của nó tức là vô tướng đó là tướng như thị.
2/ - Tánh của nó tức là diệu tánh thiên nhiên đó là tánh như thị
3/- Thể của nó là thể tại chân thường đó là thể như thị
4/- Lực của nó thì lực dụng xứng chân đó là lực như thị
5/ Tác của nó, tác mà vô tác mà vô tác đó là tác như thị
6/- Nhân của nó thì sinh vốn vô sinh đó là nhân như thị
7/- Duyên của nó là tánh không thể thành sự là duyên như thị.
8/-Quả của nó là quả chẳng rời nhân là quả như thị.
9/- Báo của nó là nghiệp tánh rõ ràng đó là báo như thị
10/- Bổn mạt thủy chung nhất tế đó là bổn mạt như thị
Các pháp trên đây mỗi mỗi là pháp như vậy, cho nên rốt ráo bình đẳng vắng lặng không hai. Đây là tướng Chân Thật của các pháp.
HỎI: 473 ) -* Các Tổ Sư đã vận dụng phương tiện vào hoàn cảnh nước Việt Nam như thế nào?
ĐÁP: Phật giáo Việt Nam gặp bối cảnh khác,nên suy nghĩ và vận dụng giáo lý của các Thiền Sư Việt Nam cũng khác. Nếu không biết đổi khác, Chỉ sống y nguyên với giáo lý Nguyên Thủy, chắc chắn chúng ta không có những trang sử đẹp, được mạnh danh là thời kỳ vàng son của Phật Giáo : Lý- Trần. Các Thiền Sư Việt Nam tiếp thu và vận dụng giáo lý của Đức Phật vào thực tiễn, tạo thành sự thấy biết chính xác, mang đến những đóng góp tích cực cho dân tộc, nêu cao đời sống gương mẫu, đạo đức được mọi người kính ngưỡng.
HỎI: 474 )-*Các Ngài đã xuất hiện trong thế gian như thế nao ?
ĐÁP:Các Ngài xuất hiện nhiều hình thức khác nhau, khi thì đóng vai Thái Sư Khuông Việt hay người chèo đò Đỗ Thuận, lại có lúc là thầy thuốc Tuệ Tĩnh. Hay thợ đúc đồng Nguyễn Minh Không. Thậm chí có lúc tự tại ở ngôi vị Đế Vương
Xông pha trước mũi tên làn đạn để chống đỡ cho muôn dân thoát khỏi sự dày xéo của ngoại bang.
HỎI: 475 ) -* Nói theo các Tổ Sư đi trước, các Tổ Sư hiện nay đã và đang làm gì cho chấn hưng Phật Pháp ?
ĐÁP: Ngày nay nước nhà được thông nhất, Tổ quốc gom lại một mối, giang sơn được an khang, thịnh vượng, xã hội được bình an, Phật Giáo Việt Nam Gom lại thành một mối. Lãnh đạo từ Trung ương đến dịa phương, các Tăng Ni hăng hái học tập, các chùa đang xây dựng và tu sửa khang trang. Cũng có thể khẳng định là thời kỳ vàng son của Phật Giáo Việt Nam. Đánh dấu một bước tiến vững chắc Phật Giáo thời kỳ xã hội chủ nghĩa.
HỎI:476 ) -* CácTổ Sư Việt Nam đã biết ứng dụng phương tiện đạt những thành quả gì ?
ĐÁP: Tổ Sư Việt Nam đã biết ứng dụng phương tiện một cách linh hoạt và hoàn hảo, trải qua bao phong trần đổi thay, lịch sử Việt Nam vẫn tồn tại sáng ngời theo thời gian, tồn tại trong tác phẩm thi văn, hội họa, kiến trúc, của các Thiền Sư Việt Nam để lại cho đời. tồn tại trong sự nghiệp cao quý của những Thiền Sư đã hòa thân cùng dân tộc.
HỎI:477 )-* Các Ngài tồn tại như thế nào ?
ĐÁP:Tồn tại trong tư cách cao thượng không màng danh lợi phú quý. Suốt cuộc đời các Ngài chỉ hành động về tâm nguyện đại bi, đại từ, mang lợi lạc cho dân tộc. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa 84.000 phương tiện của đức Phật Thích Ca Như Lai mở ra cho chúng ta đến chân trời giác ngộ, giải thoát, đồng thời kế thừa được những phương tiện của các tiền bối.
Tăng, Ni,Phật tử, sáng suốt vận dụng những phương tiện phù hợp với thời đổi mới của đất nước, để xây dựng một cuộc sống đạo đức, trí tuệ, đạo hạnh, trên bước đường phục vụ Đạo Pháp và Dân Tộc.
BA LOẠI KẺ THÙ MẠNH NHẤT,PHÁ HOẠI PHẬT PHÁP
HỎI;478 )-* Đức Phật xác định như thế nào ?
ĐÁP: Đức Phật xác định ở phẩm Pháp Sư ngay Như Lai còn tại thế, pháp này còn có người oán ghét, huống là sau khi Phật diệt độ. Vì vậy Chư Bồ Tát phát nguyện, dù hạng chúng sanh cực ác, xin Phật phóng quanh hộ niệm, Các Ngài đặt trọn niềm tin nơi Đức Phật, nên không thấy sợ. Hàng Bồ Tát mới Phát tâm đứng trước ba kể thù nghịch, cũng phải run sợ. Đó là tục chúng tăng thượng mạn; Đạo môn tăng thượng mạn; Tiếm Thánh tăng thượng mạn.Được Đức Phật nêu lên để dạy Bồ Tát trong khi giảng giáo lý Diệu Pháp Liên Hoa kinh
HỎI: 479 )-* 1/- Tục chúng tăng thượng mạn như, thế nào?
ĐÁP: Tục chúng tăng thượng mạn là:Một số người ngoài Phật Pháp phỉ báng, ngược đãi, các tín đồ kinh Pháp Hoa một cách vô trách nhiệm, dù họ chẳng biết gì về giáo lý kinh Pháp Hoa. Đây gọi là những người thế tục tăng thượng mạn.
HỎI: 480 )-*2/- Đạo môn tăng thượng mạn duyên cớ làm sao ?
ĐÁP: Đạo môn tăng thượng mạn là: Những người cùng xuất gia tu hành, nhưng mang tâm niệm hẹp hòi, ích kỷ,họ thấy việc làm của ta, sanh tâm ganh tỵ,ngay trong chùa với nhau cũng còn chống đối. Một số người tu hành cho giáo lý của mình là tốt; Rồi phỉ báng kinh Pháp Hoa, gây trở ngại cho những người giảng nói kinh Pháp Hoa; Dùng mọi cách chống đối không trừ một thủ đoạn xấu xa nào. Đay gọi là Đạo môn tăng thượng mạn.
HỎI: 481 )-*3/- Tiếm Thánh tăng thượng do duyên có làm sao ?
ĐÁP: Đức Phật dạy Tiếm Thánh tăng thượng mạn là: Một số người tu hành, trong thâm tâm mong cầu danh lợi. Dù bề ngoài họ ra vẻ trịnh trọng như bậc Thánh, vì họ giả bộ như siêu thế. Họ sống tu hành tiêu cực, giảng những giáo lý tiêu cực. Gây mọi khó khăn cho hành giả Pháp Hoa.Đây là những người tiếm Thánh tăng thượng mạn
HỎI: 482 )-* Họ cảm thấy giáo lý kinh Pháp Hoa như thế nào ?
ĐÁP: Do đó họ cảm thấy giáo lý Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, một giáo lý tích cực, cứu độ được nhiều người bình thường, họ cố gắng áp chế Phật tử và găn cản những người giảng giáo lý Pháp Hoa. Đây là những người kiêu mạn quá khích, hạch sách đủ điều với hành giả Pháp Hoa, những người này nuôi tâm độc ác, bao giờ cũng nghĩ mọi cách nói xấu. Bao giờ họ cũng nghĩ đến cá nhân của họ về ăn, ở, ngủ nghỉ, không biết đến người khác, luôn luôn nghĩ đến việc trần tục, thích nói xấu, vu khống, nhũng Bồ Tát đang tích cực giảng giáo lý Diệu Pháp Liên Hoa kinh
HỎI: 483 )-* Những lời nói là tiếng rống của Sư Tử thể hiện như thế nào ?
ĐÁP: bài kệ lòng tin và cam đảm:
“ Chúng con kính Phật
Mặc áo giáp kiên cố
Chỉ nhằm giảng kinh này
Chúng con chịu mọi khó khăn
Để giảng giáo lý kinh
Diệu Pháp Liên Hoa
Trong đời ác trược này”.
Đây là bài kệ nói về sự nhẫn nhục, chịu mọi khó khăn gian khổ, để giảng giáo lý kinh pháp Hoa bí yếu của Phật. Được Đức Phật ba đời hộ niệm. Các bồ Tát giữ gìn trong tâm.
Tỳ Kheo: Thích Thiện Đạo tự Nhật Pháp../..
Từ khóa » Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú
-
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú - Tam Tạng Kinh Điển - Hoa Vô Ưu
-
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú
-
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú - Trang Nhà Quảng Đức
-
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA VĂN CÚ - LỜI TỰA VỀ VIỆC CHÚ GIẢI
-
Tự điển - Pháp Hoa Văn Cú Kí - .vn
-
Tự điển - Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú - .vn
-
[PDF] KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
-
Tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - HT. Thích Trí Thoát - Trì Tụng
-
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - YouTube
-
[PDF] KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA - Ni Giới Khất Sĩ
-
Kinh / Bổn Môn Pháp Hoa Kinh - Đạo Tràng Pháp Hoa
-
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Quyển Thứ Năm - Phẩm “Phân Biệt Công ...
-
Pháp Hoa Kinh – Wikipedia Tiếng Việt
-
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA (TRỌN BỘ) – HT THÍCH TRÍ TỊNH