Đạn Xe Tăng – Wikipedia Tiếng Việt
APERS (anti-personnel): Đạn chống bộ binh
sửaĐây là loại đạn đầu tiên mà các xe bọc thép và xe tăng sử dụng. Đạn này vẫn được Nga sử dụng rộng rãi, nhưng phương Tây không sử dụng nhiều. Ví dụ, đạn hộp bi 3Sh-7 được Liên Xô sản xuất nặng 23 kg, chứa 3,4 kg thuốc nổ RDX trộn với nhôm, khi nổ bắn ra 4700 - 4800 mảnh có trọng lượng 1,26g với vận tốc 1000 m/s. Sau này, các loại đạn này được bổ sung kíp nổ điện tử V-429E trong hệ thống Ainet. Khi đạn được lắp vào súng, một hệ thống điện tử sẽ lập trình cho ngòi nổ, đạn sẽ nổ theo khoảng cách yêu cầu. Điều này rất quan trọng khi bắn máy bay.
Solid AP (Armour Piercing): Đạn xuyên giáp đặc
sửaBan đầu, xe tăng bắn đạn HE (High Explosive: Nổ Mạnh) như pháo tự hành tấn công. Sau đó, xe bắn đạn xuyên bằng thép đúc, liều nổ phá giảm đi, khối lượng đạn nhỏ để có đường đạn tốt. Đạn này sau phủ lớp kim loại mềm ở mũi để giảm phân tán lực xuyên của giáp nghiêng. Những cải tiến tiếp theo gồm phủ một lớp kim loại nhẹ, mềm, dày, có mũi nhọn ở đầu, đằng sau là phần hợp kim thép cứng, đưa trọng tâm đạn ra sau, làm đường đạn bắn từ nòng xoắn tốt hơn.
Đạn được dùng rộng rãi cho các loại đại bác xuyên giáp trong Thế chiến 2. Đạn được người Đức phát minh và sử dụng đầu tiên trong Hải quân đầu thế kỷ XIX.
APCR (Armour Piercing Composite Rigid): Đạn xuyên giáp vật liệu phức hợp cứng
sửaTrong trận Moscow (1941), lần đầu tiên xuất hiện đạn lõi tỷ khối lớn, do quân Đức sử dụng: một thanh wolfram được bọc trong vỏ kim loại mềm, khi gặp giáp, vỏ mềm tụt ở lại ngoài giáp. Người Nga tìm thấy đạn này trong xác xe sau trận đánh. Ngay lập tức, toàn thế giới tổ chức ngăn chặn nguồn cung wolfram của Đức, chủ yếu từ Trung Quốc và Nam Mỹ. Đạn có khối lượng nhỏ hơn đạn AP, nhưng có sơ tốc cao hơn và đường đạn tốt hơn. Tỷ khối lớn cho phép sức xuyên xe tăng lớn hơn. So với đạn dưới cỡ nòng sau này, đạn APCR khi bay trong không khí mang theo vỏ bằng kim loại mềm nhẹ nên dễ mất động năng nhanh.
APCNR (Armour-piercing, composite non-rigid): Đạn xuyên giáp phức hợp không cứng
sửaTrong Thế chiến 2, cũng có súng chống tăng nhỏ nòng nón, bắn đạn dưới cỡ nòng đơn giản. Đạn có lõi mật độ cao, nhưng vỏ mềm, đạn sẽ bị tóp nhỏ trong nòng, điều này làm giảm đường kính đạn. Nhược điểm là không tương thích với đại đa số pháo có nòng hình trụ, ngoài ra nòng chóng hỏng, không thể tăng động năng đầu đạn.
Ví dụ, "Littlejohn Adaptor" là đạn tóp nhỏ nòng của quân Anh dùng cho pháo QF 2 pounder (40 mm).
Từ khóa » đạn Nổ He
-
Đạn Pháo – Wikipedia Tiếng Việt
-
Đạn AP, HE, APCR, HEAT, Beehive, APFSDS, HESH Là Gì
-
Đau đầu Với Tên Các Loại đạn Tăng.
-
Đạn Xe Tăng đa Năng AMP
-
Đạn Pháo Xe Tăng Kiểu Mới - Báo Lao Động
-
Nguyên Lý Hoạt động Của Những Loại đạn Chống Tank Hiện Nay
-
ĐẠN CHỐNG TANK - YouTube
-
Bán Súng Thể Thao đạn Nổ
-
Xe Tăng - Lịch Sử đổi Thay - Kỳ 4: Bí Mật đạn Chống Tăng Xuyên Giáp
-
Ukraine: Lựu đạn Nổ Giữa Biểu Tình ở Thành Phố Enerdohar - BBC
-
Đạn - Wikiwand
-
Nổ Kho đạn Trên Bán đảo Crimea - Báo Tuổi Trẻ
-
Đôi Nét Về Xu Hướng Phát Triển Vũ Khí Pháo Binh Và Tên Lửa Lục Quân ...