đề án Môn Học Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ - Tài Liệu đại Học
Có thể bạn quan tâm
- Miễn phí (current)
- Danh mục
- Khoa học kỹ thuật
- Công nghệ thông tin
- Kinh tế, Tài chính, Kế toán
- Văn hóa, Xã hội
- Ngoại ngữ
- Văn học, Báo chí
- Kiến trúc, xây dựng
- Sư phạm
- Khoa học Tự nhiên
- Luật
- Y Dược, Công nghệ thực phẩm
- Nông Lâm Thủy sản
- Ôn thi Đại học, THPT
- Đại cương
- Tài liệu khác
- Luận văn tổng hợp
- Nông Lâm
- Nông nghiệp
- Luận văn luận án
- Văn mẫu
- Luận văn tổng hợp
- Home
- Luận văn tổng hợp
- đề án môn học lý thuyết tài chính tiền tệ
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệLời mở đầuTrong tiến trình lịch sử, ngân sách nhà nước đã xuất hiện và tồn tại từ lâu. Với tư cách là công cụ tài chính rất quan trọng của nhà nước, ngân sách nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở 2 tiền đề khách quan là tiền đề nhà nước và tiền đề kinh tế hàng hoá - tiền tệ.Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động thu và chi tiêu quỹ tiền tệ của nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là nhà nước với một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc gia dưới hình thức giá trị. Đằng sau các hoạt động thu chi đó chứa đựng các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác.Việc sử dụng ngân sách nhà nước có ý nghĩa quốc gia, có phạm vi tác động rộng lớn chứ không chỉ cần cho chi tiêu hành chính. Nó được sử dụng chủ yếu cho nhu cầu có tính toàn xã hội như chi tiêu cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá xã hội, an ninh, quốc phòng, chi cho đầu tư phát triển… Thông qua sự vận động của vốn ngân sách nhà nước, nhà nước thực hiện hướng dẫn, chi phối, kiểm soát các nguồn lực tài chính khác của đất nước.Sự phát triển của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại đã cho thấy vai trò của chi tiêu ngân sách nhà nước ngày càng trở nên quan trọng, nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế. Chi tiêu ngân sách đúng chỗ, đúng lúc thì sẽ tạo ra được hiệu quả lớn trong việc phát triển kinh tế. Nhưng nếu sử dụng không hợp lý thì sẽ gây tổn thất, lãng phí rất lớn cho xã hội. Chính vì vậy, việc lùa chọn cơ cấu chi tiêu, phân bổ hợp lý các nguồn lực và quản lý chặt chẽ việc chi tiờu cụng là một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động của ngân sách nhà nước.1Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệMỤC LỤCLời mở đầu 11.2.2 Công tác kiểm soát chi còn một số khó khăn, vướng mắc 251.2.3 Việc quản lý và sử dụng nợ nước ngoài vẫn còn nhiều bất cập 272. Phương hướng hoàn thiện 282.1 Các giải pháp chống lóng phớ28 282.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước31 312.3 Nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài 32Kết luận 34Tài liệu tham khảo35 353Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệI. TỔNG QUAN VỀ CHI TIÊU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Chi tiêu ngân sách nhà nước[ 1.1 Khái niệm và đặc điểm chi tiêu ngân sách nhà nước 1.1.1 Khái niệm Chi ngân sách nhà nước (hay chi tiêu công) là những khoản chi tiêu do Chính phủ hoặc các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công Ých, chẳng hạn như: bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp…Về mặt bản chất, chi ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hoá - xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng.Chi ngân sách nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách nhà nước. Thu ngân sách là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách, ngược lại sử dụng vốn ngân sách để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện để tăng nhanh thu nhập của ngân sách. Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu ngân không trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu ngân sách. Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội của nhà nước.1.2 Phân loại chi tiêu ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước gồm nhiều nội dung với các mục đích khác nhau. Để quản lý ngân sách dễ dàng hơn, người ta đã phân loại dùa vào nội dung kinh tế và tính chất phát sinh của các khoản chi. Theo cách đó, chi ngân sách nhà nước được phân thành:- Chi thường xuyên.- Chi đầu tư phát triển.5Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ- Các khoản chi khác.1.2.1 Chi thường xuyênChi thường xuyên của ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ ngân quỹ ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội.1.2.1.1 Phân loại chi thường xuyênCó nhiều cách phân loại chi thường xuyên:Một là, xét theo từng lĩnh vực chi, nội dung chi thường xuyên của ngân sách nhà nước bao gồm:+ Chi cho các đơn vị thuộc lĩnh vực văn hoá - xã hội.Lĩnh vực văn hoá - xã hội thuộc phạm vi chi của ngân sách nhà nước bao gồm nhiều loại hình đơn vị thuộc các hoạt động: Sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, nghệ thuật, thể dục - thể thao, thông tấn, báo chí phát thanh, truyền hình v.v… do nhà nước thành lập và giao nhiệm vụ hoạt động.`+ Chi cho các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. + Chi cho các đơn vị sự nhà nước ở từng lĩnh vực. Trên cơ sở đó, việc hoạch định các chính sách chi hay hoàn thiện cơ chế quản lý đối với mỗi khoản chi thường xuyên được xây dựng phù hợp hơn.Hai là, xét theo đối tượng sử dụng kinh phí, nội dung chi thường xuyên của ngân sách nhà nước bao gồm:+ Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sù nghiệp như: Tiền lương, tiền công, phụ cấp, phóc lợi tập thể, y tế, vệ sinh, học bổng cho học sinh và sinh viên v.v…+ Các khoản chi về hàng hoá, dịch vụ tại các cơ quan nhà nước như: Chi trả tiền mua văn phòng phẩm, sách báo, tiền điện nước, dịch vụ thông tin liên lạc, chi hội nghị phí, công tác phí v.v…+ Các khoản chi hỗ trợ và bổ sung nhằm thực hiện các chính sách xã hội hay góp phần điều chỉnh kinh tế vĩ mô của nhà nước như: Chi cho công tác xã 7Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệhội (trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, xây nhà tình nghĩa v.v…) chi hỗ trợ kinh tế tập thể và dân cư, chi trợ giá theo chính sách của nhà nước v.v…+ Các khoản chi để trả lãi tiền vay và lệ phí có liên quan đến các khoản vay. Thuộc khoản chi này bao gồm: Chi trả lãi tiền vay trong nước (trả lãi tín phiếu, trái phiếu kho bạc nhà nước, tiền vay của ngân hàng nhà nước theo lệnh của chính phủ). Chi trả lãi tiền vay ngoài nước như: Tiền vay của các tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế, vay của các chính phủ nước ngoài, vay của các tổ chức phi chính phủ và tư nhân v.v…Chi trả các khoản phí và lệ phí liên quan đến các khoản vay như: Lệ phí hoa hồng, lệ phí rút tiền, phí bảo lãnh, lệ phí phát hành và phớ khỏc.+ Các khoản chi khác: Ngoài các khoản đã được xếp vào chi thường xuyên theo 4 nhóm kể trên, một số khoản chi sau cũng được xếp vào chi thường xuyên của ngân sách nhà nước:- Chi nép ngân sách cấp trên.Đại bộ phận các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính chất tiêu dùng xã hội. Khi nghiên cức ngân sách nhà nước theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát, người ta phân loại các khoản chi thành 2 nhóm: Chi tích luỹ và chi tiêu dùng. Theo tiêu thức này thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên được xếp vào chi tiêu dùng (tiêu dùng chung cho toàn xã hội). Bởi lẽ, các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước, về quốc phòng, an ninh, về các hoạt động sự nghiệp, các hoạt động xã hội khác do nhà nước tổ chức. Kết quả các hoạt động trên hầu như không tạo ra của cải vật chất hoặc không gắn trực tiếp với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Song điều đó không làm mất đi ý nghĩa chiến lược của một số khoản chi thường xuyên. Và theo đó, người ta lại có thể coi nó như là những khoản chi có tính chất tích luỹ đặc biệt. Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lùa chọn của nhà nước trong việc cung ứng các hàng hoá công cộng. Với tư cách là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nên tất yếu quá trình phân phối và sử dụng vốn ngân sách nhà nước luôn phải hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà 9Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệnước đú. Nờn một khi bộ máy quản lý của nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên cho nó giảm và ngược lại. Quyết định của nhà nước trong việc lùa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hoá công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước. 1.2.1.3 Vai trò của chi thường xuyênChi thường xuyên có vai trò đặc biệt quan trọng, được thể hiện qua những vấn đề sau:Chi thường xuyên quyết định chất lượng, hiệu quả và hiệu lực của việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước.doanh với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật.- Chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với các chương trình dự án phát triển kinh tế.- Chi dự trữ Nhà nước.- Cho vay của chính phủ để đầu tư phát triển.Thực chất chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là những khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản (đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình thuộc cơ sở vật chất của các doanh nghiệp nhà nước…) thông qua phương thức cấp phát hoặc tín dụng nhà nước; cấp phát, bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp nhà nước, dự trữ những vật tư, thiết bị hàng hóa chiến lược của nhà nước phòng khi nền kinh tế gặp những biến cố bất ngờ về thiên tai địch hoạ, đảm bảo cho nền sản xuất phát triển ổn định và đời sống nhân dân được bình thường.1.2.2.2 Đặc điểm của chi đầu tư phát triểnChi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước là khoản chi tích luỹ. Chi đầu tư phát triển làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Vấn đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: đường xá, cảng, sân bay, điện, kênh đập tưới tiêu nước, viễn thông, nước sạch, bảo vệ môi trường, bệnh viện, trường học… Sự tăng lên về số 11Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệlượng và chất lượng của hàng hoỏ cụng này là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trờn cỏc mặt: phát triển cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực, cỏc vựng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hót đầu tư trong nước và nước ngoài và tạo động lực, cú huých cho sự tăng trưởng.Các khoản chi khác bao gồm:+ Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.+ Chi trả nợ các khoản vay trong nước cho đầu tư phát triển như: Vay tín phiếu, trái phiếu phát hành qua hệ thống ngân hàng; vay tín phiếu, trái phiếu phát hành qua kho bạc nhà nước và vay khác ở trong nước.+ Chi trả nợ các khoản vay nước ngoài để đầu tư phát triển như: Chi cho các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, cho các chính phủ và các tổ chức tài chính - tín dụng nước ngoài, cho thương nhân nước ngoài, cho nguồn phát hành trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế.+ Chi trả nợ các khoản vay nước ngoài để cho vay lại hoặc cho các mục đích khác.+ Chi để thực hiện đóng và tham gia góp vốn với các tổ chức như: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á, quỹ tiền tệ quốc tế, quỹ ASEAN, đúng niờn liễm cho các tổ chức quốc tế và các khoản khác.+ Chi tài trợ cho các nước.+ Ở mét số địa phương chưa có điều kiện phân cấp quản lý ngân sách cho cỏc xó, vì thế chưa tổng hợp thu, chi ngân sách xã vào ngân sách nhà nước. Nên số chi bổ sung ngân sách xã từ ngân sách địa phương (tỉnh hoặc huyện) được coi như số chi khác của ngân sách cấp đó.1.2.3.2 Đặc điểm của các khoản chi khácCác khoản chi khác, như trên đó nờu gồm nhiều hỡnh thức khác nhau với các mục đích khác nhau của nhà nước. Do vậy từng loại chi có những yếu tố riêng cụ thể tác động đến. Có thể khái quát một số đặc điểm của các loại chi này:- Các loại chi này đa dạng, phức tạp.13Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ- Các khoản chi khác tương đối cố định, nhà nước có thể chủ động xác định trước trong kế hoạch nhà nước. toán hoặc hoàn trả các khoản nợ vay này được lấy từ ngân sách nhà nước thông qua cơ chế phân phối nguồn vốn chi trả nợ.Mặt khác, cùng với quá trình hội nhập đòi hỏi chính phủ phải tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế đa phương, kéo theo đó là nghĩa vụ đóng góp về tài chính theo quy ước hay điều lệ của mỗi tổ chức đó. Vì thế ngân sách nhà nước lại phải phân bổ nguồn vốn để đáp ứng cho nhu cầu chi này. Nhiều khi vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế lại phụ thuộc mức độ đóng góp của nhà nước đó vào mỗi loại quỹ.Góp phần củng cố và tăng cường khả năng huy động nguồn thu theo cơ chế tín dụng nhà nước. Nguồn thu của ngân sách nhà nước qua kênh tín dụng nhà nước ngày càng tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng. Muốn bồi dưỡng, phát triển nguồn thu này trước hết phải mở rộng phạm vị hoạt động. Khả năng mở rộng phạm vi hoạt động một phần lại nhờ vào chính quan hệ cho vay mà chính phủ đóng vai trò chủ nợ trước đó. Đú chớnh là mối quan hệ nhân quả trong quan hệ tín dụng nhà nước.Ngoài ra, khả năng huy động còn phụ thuộc vào uy tín của nhà nước trong thanh toán hoàn trả nợ vay đã trình bày ở trên.Bất kỳ quốc gia nào cũng đều coi trọng các khoản chi khác của ngân sách nhà nước.1.3 Vai trò của chi ngân sách nhà nướcTrong nền kinh tế thị trường, vai trò của Chính phủ được biểu hiện rõ nét qua tính chất chi tiêu ngân sách. Cho đến hiện tại, qua một chiều dài lịch sử hơn 60 năm, các nền kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định chi tiêu ngân sách là nhằm cung ứng những hàng hoỏ cụng mà ở đó những khu vực kinh tế tư nhân bị thất bại; hay nói cách khác, kinh tế thị trường đã hình thành rõ ràng quy luật là hàng hoỏ cụng và sự cung ứng nó thuộc về trách nhiệm tối cao mà Chính phủ phải đầu tư thoả đáng. Đối với những nền kinh tế đang chuyển đổi, Chính phủ phải tiến hành đẩy mạnh chính sách thị trường hoỏ các quan hệ tài chính của chi tiêu ngân sách, một mặt là nhằm cải thiện tính minh bạch, rõ 1516Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệcủa Chính phủ về nguồn nhân lực thông qua các chính sách phát triển hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế…Chi tiêu ngân sách góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế. Cũng cần thấy rằng, chi tiêu ngân sách đã hình thành nên một thị trường đặc biệt. Với một khối lượng hàng hóa to lớn do Chính phủ tiêu thụ trên thị trường làm tổng cầu của xã hội được mở rộng. Đến lượt mình, tổng cầu mở rộng lại tác động nâng cao khả năng thu hót vốn và kích thích sản xuất phát triển hơn nữa. Trên góc độ này mà nói, thị trường Chính phủ lại trở thành công cụ kinh tế quan trọng của Chính phủ nhằm tích cực tái tạo lại cân bằng của thị trường hàng hoá khi bị mất cân đối bằng cách tác động vào các quan hệ cung cầu thông qua tăng hay giảm mức độ chi tiêu ngân sách ở thị trường này.Chi tiêu ngân sách góp phần tái phân phối thu nhập xã hội giữa các tầng líp dân cư, thực hiện công bằng xã hội. Về mặt xã hội, tài chính công góp phần điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng líp dân cư bằng cả 2 công cô bé phận là thuế và chi tiêu. Trong khi thuế là công cụ mang tính chất động viên nguồn thu cho nhà nước, thì chi tiêu ngân sách mang tính chất chuyển giao thu nhập đó đến những người có thu nhập thấp thông qua các khoản chi an sinh xã hội, chi cho các chương trình giải quyết việc làm, xoỏ đúi giảm nghốo… Như Samuel Johnson nói “Cung cấp tử tế cho người nghèo là đánh giá sự thật về nền văn minh”. Nghệ thuật của Chính phủ thể hiện ở chỗ lấy nhiều tiền có thể được từ một giai cấp trong xã hội để chuyển cho mét giai cấp khác nhằm tạo ra sự công bằng cho xã hội.2. Quản lý chi ngân sách nhà nước 2.1 Quản lý chi đầu tư phát triểnTrong các khoản chi của chi đầu tư phát triển thì chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn nhất, chủ yếu nhất và có nội dung quản lý phức tạp nhất. Chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước là việc sử dụng một đích, đúng công trình cần đầu tư.- Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải được thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền. Kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện trong toàn bộ quá 18Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệtrình đầu tư, bắt đầu từ lúc lập dự toán đến lúc cụng trình hoàn thành đưa vào sử dụng. Thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền trong quá trình cấp phát đầu tư xây dựng cơ bản nhằm bảo đảm tính hợp lý và nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư.2.2 Quản lý chi thường xuyênTheo Luật Ngân sách nhà nước, quản lý chi thường xuyên của ngân sách nhà nước được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:Thứ nhất, nguyên tắc quản lý theo dự toán. Hoạt động của ngân sách nhà nước, đặc biệt là cơ cấu thu, chi của ngân sách nhà nước phụ thuộc vào sự phán quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, đồng thời luôn phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước. Do vậy, mọi khoản chi từ ngân sách nhà nước chỉ có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi khoản chi đú đó nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt và thông qua.Phạm vi chi của ngân sách nhà nước rất đa dạng liên quan tới nhiều loại hình đơn vị thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Mức chi cho mỗi loại hoạt động được xác định cho đối tượng riêng, định mức riêng. Ngay các cơ quan trong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến các mức chi từ ngân sách nhà nước cho các cơ quan cũng có sự khác nhau.Do đó, mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch nhất thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt của cơ quan quyền lực nhà nước từ thấp đến cao. Trong quá trình tổ quỹ ngân sách nhà nước. Vì vậy Kho bạc nhà nước vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên. Để tăng cường vai trò kiểm soát chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, ở nước ta đang triển khai việc chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này.20Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệNguyờn tắc chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước đòi hỏi giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản sau: Một là, tất cả các khoản chi ngân sách nhà nước phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Hai là, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự ỏn… sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước phải mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước trong quá trình lập dự toán, phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh toán, hạch toán kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước. Ba là, cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo hạn mức kinh phí quý cho các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách, kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi ngân sách nhà nước. Bốn là, Kho bạc nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách nhà nước theo đúng quy định, tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách nhà nước và xác nhận số thực chi ngân sách nhà nước qua kho bạc của các đơn vị. Năm là, Kho bạc nhà nước có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước biết, đồng gửi cơ quan tài chính đồng cấp giải quyết trong các trường hợp: chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt; chi không đúng chế độ, định mức, chi tiêu tài chính nhà nước; không đủ các điều kiện chi theo quy định hiện hành về chi trong Luật ngân sách nhà nước đã phản ánh sự thay đổi trong quan điểm, cách nhìn của Chính phủ, chủ yếu theo hướng: Tăng phân cấp, phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương, nghĩa là tăng quyền chủ động đi đôi với trách nhiệm (Hội đồng nhân dân tỉnh được quyền quyết định ngân sỏch các cấp Chính quyền địa phương, quyết định một số định mức tiêu chuẩn chi tiêu, 22Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệtăng cường nguồn lực cho ngân sách xã). Cải cách hành chính trong lĩnh vực ngân sách phù hợp với tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia và phân định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công. Thực hiện nguyên tắc dân chủ, công khai, thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong quản lý ngân sách nhà nước. Mục đích của những cải cách này chính là nhằm xây dựng một hệ thống ngân sách nhà nước nói chung và hệ thống chi tiêu ngân sách nói riêng thống nhất, lành mạnh, hợp lý và hiệu quả.Thực tế Việt Nam đã được thế giới đánh giá là có thành công trong việc cải thiện cơ chế chi tiêu ngân sách. Có thể núi đó có nhiều chuyển biến tích cực trong lĩnh vực ngân sách: tổng chi ngân sách giai đoạn 1998-2003 tăng trung bình hàng năm khoảng 16%, một mức tăng cao trên bình diện quốc tế. Tốc độ tăng này đã tạo cho Chính phủ có cơ hội thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và xoỏ đúi giảm nghèo. Về cơ cấu chi, chi đầu tư phát triển tăng bình quân gần 20%/năm (gấp đôi tốc độ tăng chi thường xuyên), tỷ lệ chi khoa học công nghệ và môi trường 2,2%/năm, chi giáo dục đào tạo 18,6%/năm, đảm bảo xã hội 8,3%/năm.Trong năm 2004 nhờ tăng thu khá và sử dụng hợp lý dự phòng ngân sách nên ngân sách trung ương và ngân sách 64 tỉnh, thành phố đã tăng quy mô cho đầu tư phát triển; tăng kinh phí thực hiện những nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội; cơ cấu chi ngân sách có bước tiến bộ; tăng số địa phương tự cân đối được ngân trong chống lãng phí, thất thoát. Kho Bạc nhà nước đã ngăn chặn kịp thời hàng nghìn trường hợp chi không đúng chế độ, với mức kinh phí hàng trăm tỉ đồng. Công tác xử lý vi phạm theo kết quả thanh tra, kiểm toán, kiểm tra tài chính - ngân sách đã được thực hiện khá hơn, xử lý thu hồi ngân sách, xuất toán, chuyển vào quyết toán năm sau được trên 70% những khoản truy thu, giảm chi theo kết luận của cơ quan thanh tra tài chính, kiểm toán nhà nước.1.1 Hạn chếBên cạnh kết quả đã đạt được nêu trên, chi tiêu ngân sách ở Việt Nam hiện nay vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục.24Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ1.2.1 Lãng phí về quản lý và sử dụng ngân sách trong chi đầu tư và chi thường xuyên.- Lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản: đây là nơi tình trạng lãng phí chi tiêu công diễn ra rất nghiêm trọngLãng phí lớn nhất trong đầu tư xây dựng cơ bản là việc quyết định đầu tư sai lầm. Chủ trương đầu tư sai lầm chiếm tới 60 – 70% số lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản. Là một nước với diện tích không lớn, nhưng đó cú trờn 100 cảng biển ở 24 tỉnh, thành phố (một số cảng biển chỉ cách nhau 30 km); 80 cảng hàng không và sân bay chuyên dùng. Chi phí đầu tư cho một sân bay lên tới hàng tỷ đụla Mỹ. Việc đầu tư theo phong trào dẫn đến hiệu ứng xi măng lò đứng và các nhà máy đường mọc lên ở khắp mọi nơi. Hiện cả nước có 44 nhà máy đường với tổng vốn đầu tư là 9.505,5 tỷ đồng, trong số đú khụng Ýt nhà máy sau khi xây dựng xong không có đủ điều kiện và nguyên liệu để hoạt động, nhiều nhà máy đã phải di dời đến các địa phương khỏc, gõy lãng phí rất lớn về tiền của. Lãng phí do buông lỏng quản từ khâu thiết kế, thi công cho đến giám sát làm cho công trình không đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, không đảm bảo chất lượng và xuống cấp nhanh chóng. Tuy chưa có số liệu thống kê tính toán Tải File Word Nhờ tải bản gốc Tài liệu, ebook tham khảo khác
- Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
- Đè án môn học lý thuyết tiền tệ- ngân hàng
- ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
- Đề án môn lý thuyết tài chính tiền tệ
- Đề cương bài giảng
- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Tài liệu Đề thi trắc nghiệm lý thuyết tài chính tiền tệ
- Tài liệu Đề cương bài giảng tham khảo môn học Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ doc
- Tài liệu Môn lý thuyết tài chính tiền tệ : đề tài ''''Vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp FDI ở Việt Nam
- Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ ( thực trang phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở việt nam)
- Quản lý cán bộ, công chức cấp quận qua thực tiễn tại địa bàn quận Hai Bà Trưng : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 01
- Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
- Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam -những vấn đề tham chiếu. Luận văn ThS. Luật: 62.38.01.01
- Quốc triều hình luật – các giá trị nhân văn, tiến bộ và sự kế thừa trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay : Luận án TS. Luật: 62 38 01 01
- Ứng dụng mô hình quản lý và lãnh đạo bản thân trong việc xây dựng chương trình đào tạo tại Công ty Viễn thông Viettel : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 05
- Tinh sạch và khảo sát một số đặc điểm của Enzyme Phytase từ nấm Aspergillus niger
- Định giá cổ phiếu ngân hàng thương mại qua trường hợp ngân hàng Sacombank. Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 05
- Nghiên cứu marketing và đề xuất cho sản phẩm fast food Vietmac. Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 05
- Vietnam local banks in post-WTO period (a study on strengths, weaknesses, opportunities, and challenges) : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 05
- Xây dựng chiến lược cạnh tranh cho Công ty Cổ phần Xi măng Bút Sơn. Luận văn ThS. Quản trị kinh doanh
Học thêm
- Nhờ tải tài liệu
- Từ điển Nhật Việt online
- Từ điển Hàn Việt online
- Văn mẫu tuyển chọn
- Tài liệu Cao học
- Tài liệu tham khảo
- Truyện Tiếng Anh
Copyright: Tài liệu đại học ©
Từ khóa » đề án Tctt
-
Đề án Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ - Tài Liệu - 123doc
-
Đề án Môn Học Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
-
Đề án Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ - Đề Tài: Lạm Phát Trong Nền Kinh Tế ...
-
Đề án Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ: Huy động Vốn Của Các Ngân Hàng ...
-
Đề án Môn Học Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ | PDF - Scribd
-
Đề án Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ Trang 1 Tải Miễn Phí Từ TailieuXANH
-
[PDF] Đề án Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
-
đề án Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ - Xemtailieu
-
Đề án Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ: Nghiệp Vụ Thị ... - TAILIEUCHUNG
-
Top 15 đề án Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ
-
Đề án Tài Chính Tiền Tệ - HTTLE
-
Top 15 đề án Tài Chính Tiền Tệ
-
đề án Tiền Tệ Trang 1 Tải Miễn Phí Từ Tailieunhanh
-
Đề án Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
-
[DOC] Giáo Viên Hướng Dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
-
Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Là Thành Viên Hội đồng Tư Vấn ... - Chi Tiết Tin
-
[PPT] đề án Môn Học Tài Chính Tiền Tệ - 5pdf