ĐỀN – ĐÌNH NAM TRÌ VÀ LĂNG MỘ, NGÀY TẾ LỄ CÁC VỊ THẦN
Có thể bạn quan tâm
Đền – Đình Nam Trì do Thánh Địa lý Tả Ao chọn đất tại Tây Nam làng bị bom của quân Pháp năm 1953 làm hư hỏng và lịch sử, thời gian đã tàn phá phần còn lại. Cuối năm Bính Tuất – 2006, Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà, Thánh địa lý Tả Ao đã hiển linh đã chỉ dạy lập dựng lại ngôi đền tại gò Soi rộng hơn 4 sào ở hồ lớn phía Đông Nam làng, nơi đất cũ do đức Cao Vương chọn. Nơi đây thế đất có Hoàng Long Địa mạch, song Long tứ Nhãn, Nhị nhãn hiện Nhị nhãn ẩn, Thuỷ nhiễu chu viên, Đinh sơn Ly hướng. Ngôi đền được Tụ khí, Trấn trạch ngày 18 tháng giêng năm Đinh Hợi – 2007, khởi công, động thổ vào ngày Dương phong vân vũ 12/2, Thượng lương (cất nóc) vào ngày Phật đản 8/4, tu tạo trong vòng tứ nguyệt (4 tháng), làm lễ nhập trạch vào ngày Thiên nguyên Nhất khí lập Thu 29/6; khánh thành, tế lễ vào ngày hôm sau 30/6. Tất cả hội tụ từ tinh hoa địa lý, Địa thế phong thủy đến Bát quái Cửu cung. Tả Thanh long, hữu Bạch hổ Đông Tây chính hướng; Tiền Chu tước, hậu Huyền vũ Ly Khảm 2 phương. Tọa Sơn nghênh Thủy lại đoản Long trường Hổ; Lưỡng nghi, Tứ trụ, Ngũ hành hội Nhật nguyệt Cửu tiêu… Quá trình tu tạo, mọi việc đều được các vị Thần linh thiêng như: Thánh địa lý Tả Ao, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Thượng Toạ Thích Viên Thành linh hiển chỉ giáo về xây dựng, nghi thức phụng thờ, Đại tự Đối liễn… Lại được dân làng đồng tâm nhất chí, góp công góp của; Thập phương công đức. Nghi thức Tâm linh được làm đầy đủ, hội tụ được sự linh thiêng của Thiên Địa, Thần Thánh và Nhân tâm; chuẩn chỉ thờ Tam vị Thượng đẳng Phúc thần và Nhị vị Thánh nhân. Các Triều đại xếp thứ tự thờ các vị Thần khác nhau. Đầu tiên xếp thứ tự: Trung lang Tế thế, Trung thiên Bảo quốc và Quốc vương Thiên tử. Thời Bắc thuộc xếp thứ tự: Quốc vương Thiên tử, Trung thiên Bảo quốc, Trung lang Tế thế; sau lại đổi thứ tự: Trung thiên Bảo quốc, Trung lang Tế thế, Quốc vương Thiên tử. Nay trong hậu cung thờ Tứ vị, xếp theo thứ tự sinh, ngụ, phụ, chầu: 1. Hữu trung : Đức Trung lang Tế thế Đại vương – Lang Công. 2 Tả. trung : Đức Trung thiên Bảo quốc Đại vương – Bảo Công 3. Hữu biên : Đức Quốc vương Thiên tử Đại vương – Cao Vương. 4. Tả biên : Đức Thánh Địa lý Tả Ao Đại vương. 5. Trung đường : Đức Thánh Chủ tịch Hồ Chí Minh Đại vương. Ngôi đền theo lối chữ Đinh, 5 gian 2 trái, trung Công đồng, hậu Cấm cung uy nghiêm tựa Liên hồng ngự thuỷ. Mái ngói đỏ mũ hài; 4 đao Nghê chầu Long Phượng hoá; đỉnh nóc song Long chầu Nhật Nguyệt Lưỡng nghi. Mái lối kẻ truyền, thượng tam hạ tứ. Đầu hồi hạ kẻ, thượng chồng, tả hữu hai vì chữ Tâm, chữ Đức. Nội đền giả gỗ sơn son, hoạ tiết hoa văn, tranh thư lối cổ. Các án thờ, ngũ hành giao hội; ngũ sự, Thạch long, Ngọc ấn, La kinh… Hậu cung bệ thờ đá đen khán tọa thờ bài vị, lư hương Tam khí, lưỡng nghi Long chầu Nhật nguyệt. Trung tâm phụng thờ nhị vị Thượng đẳng Phúc thần Trung lang Tế thế, Trung thiên Bảo quốc Đại vương. Thánh Địa lý Tả Ao ngự tả Đông họa hoa Liên hồng hương tỏa. Thượng đẳng Phúc thần Quốc vương Thiên tử tọa Tây bên hữu, Mẫu đơn rực rỡ tía hồng. Hậu cung, Trung đường ngăn cách bởi bức thư họa long Long chầu Thổ tự (2 rồng chầu chữ Thổ); tiền hương án thờ, hậu nội khán tượng Thánh Chủ tịch Hồ Chí Minh; Công đồng hương án sơn son, lư hương đồng đúc Tam khí; Tàn che, Lọng rước lỗ bộ, bát bửu hai hàng. Tiền Dực bảo Trung hưng đại tự, hậu Quang linh địa ứng hoành phi. Hạ bức thư họa Rồng chầu chữ Thổ, hai bên đối liễn Bảo hộ vạn niên trường Phú quý – Phù trì thiên tải vĩnh Hưng long . Tả hữu Công đồng hai Hương án phụng thờ chầu phụ, Thổ địa Thần linh Thần hậu Thần từ. Tiền Đại bái 3 đôi câu đối: Tướng công hộ Quốc thiên thu Tại – Thần đức an Dân vạn đại Truyền; Tây lộ Khê lưu Kim tại Hậu – Đông giang Thuỷ tụ Mộc cư Tiền, Quốc thái Dân an do Linh địa – Nhân dân An lạc vị Đồng tâm. Tả hữu hai bên Hoành phi Đại tự như Đối liễn: Thánh đức lưu phương – Thần linh Tế thế, Xã tắc Thái bình tả Đông – Hữu tây Nhân dân An lạc. Tàn lọng che hai bên Tả hữu, Hộ quan Giám sát trụ Uy nghi; Ngựa hồng, ngựa bạch Trống cái Hồng chung, Kiệu vàng Bát cống, Long đình sơn son chờ rước Thánh. Chính môn cửa giữa sáu bức bàn lim già trạm trổ; Tả hữu môn bốn cánh đục khảm Tứ bình. Ba gian chính 5 bậc thềm đá tảng, hai tay ngai đá chạm Song long. Tả Đông bia Xây dựng, hữu Tây bia Công đức 5 mặt ngũ hành ghi danh Văn Võ chỉ. Hướng Thổ khôn Văn miếu Đài nghiên Tháp bút, Đá trạm mái sách mở Thanh thiên thờ các bậc Thánh sư. Trước sân Kỳ đài Bát giác thế Cửu tiêu Nhật nguyệt ánh trùng quang với 9 bậc đá quý Kim sa Xà cừ, cột cờ 9 bậc cao 9 mét, chói lòa ánh mặt Trời, mặt Trăng. Ngày ngày treo Cờ thần, lễ trọng treo Tam tinh chầu Nhật; hai bên treo Cờ đỏ sao vàng, phấp phới cờ Quốc thái Dân an. Tiền Kỳ đài, cầu ba nhịp vào đền giả gỗ, nối cổ xưa hiện tại mai sau. Hai thành cuốn thư Tam đa tự , lại họa thêm bốn cảnh Tứ mùa. Dưới chầu ra Song long Tứ nhãn, nhị nhãn hoàng ẩn hiện đôi bên. Tứ Qui chầu nhau đội bốn trụ, thấp thoáng mặt hồ thuỷ nhiễu chu viên. Thông ra đường cổng vàng Tứ trụ; Tứ quý, Tứ linh trang điểm bốn bên. Hai cánh gà đắp bốn tranh quê, mặt trước mặt sau Hương thôn trù phú. Lưỡng trụ rồng hai đôi câu đối: Địa linh Long Phượng qui lai kiến tạo Hương thôn Trù phú thịnh – Thiên khánh Tướng Thần phù hộ tấn hưng Tôn tộc hiển vinh trường; Đông thổ Danh lam Phú quý Đại An khang Thần linh tứ Phúc – Nam trì Thắng tích Lộc tài Đa Thịnh vượng Tướng lệnh ban Ân. Tiền Chu tước , bên cầu cây Sa la Long thụ, giống cây từ rừng xa nơi Phật nhập Niết bàn. Bên cạnh 2 cây Ngâu tán tròn như hoa Cẩm Tú cầu. Phía ngoài cổng 2 cây Ô Sa ca hè về hoa đổ vàng rực rỡ, liền kề bên phải tỏa bóng cổ thụ Bồ đề. Hậu Huyền vũ đền trồng 4 cây Tứ quý tạo thành sơn, núi tựa cho đền. Tả biên đền, hàng Lộc vừng soi bóng, hoa nở rơi tím cả mặt hồ. Trước 2 bên 2 cây Ngọc bút, trắng sân đình hạ nắng hoa khoe. Xung quanh hàng chục loại cây xanh tốt, bao bọc đền rợp mát bóng cây. Tả đền chính hướng Đông quẻ Chấn, tả Thanh long bia xây dựng Tả vu . Bên cạnh là tháp Đăng bằng đá, huyệt Hỏa lò hóa sớ kề bên. Hữu đền chính hướng Tây Đoài phía Hữu Bạch hổ bia Công đức ngũ diện kiêm Văn, Võ chỉ ; dưới bóng Ngọc lan hoa thơm ngào ngạt, ghi khắc công lao xây dựng Đình – Đền. Dưới bóng Phượng vĩ già trăm tuổi, hè về cháy rực đỏ sân đền; nối dài phía Hữu biên Bạch hổ là một ngôi Văn miếu uy nghi, trạm khắc bằng đá trắng Ninh Vân như bông Sen tọa lạc trên đất. Hữu miếu cây Đa lan cổ thụ, xóa lời thề đoạn tuyệt quê hương. Nóc Văn miếu như tranh sách mở, Nhật nguyệt chiếu rọi Thiên thư. Văn miếu vọng thờ Thần khoa cử: Văn Xương, Khổng tử chư Hiền triết. Lại Chính thờ Đinh nhân Tiến sĩ cùng chư vị Thánh sư Tiên nho, Khoa bảng Việt Nam các thế các đời. Bên tả miếu là Đài nghiên mực, bên hữu miếu là tháp bút cao bên trong ghi các họ khoa danh. Văn miếu nơi văn chương ước vọng, Đài nghiên Tháp bút tả Thiên thanh.
MỘ ĐỨC LANG CÔNG, ĐỨC BẢO CÔNG
Xưa kia, Đức Lang Công, Đức Bảo Công an táng tại gò cạnh phía Tây bờ sông cánh đồng Bến. Năm 1994 xây dựng trạm bơm, đào mương dẫn nước dân làng đã tìm thấy hài cốt đức Lang Công. Năm 2007 do đào ao làm trang trại dân làng đã tìm thấy hài cốt đức Bảo Công. Sau đó đưa các Ngài về nghĩa trang Vườn Bông Ngõ Hiến . Qua khảo cứu, đối chiếu Sử sách; Thần tích, Thần phả; Thờ tự, Đền miếu của một số nơi thờ Tể tướng Lữ Gia; được các vị Thần, Thánh Địa lý Tả Ao, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi hiển ứng; qua thực tế cũng như nhân duyên đã đến, dân Nam Trì đã tìm được hài cốt của 2 vị Thần – Thành hoàng: Lang Công và Bảo Công. Gần 2200 năm sau, ngày 11 tháng 11 năm Đinh Hợi – 2007, dân làng khởi công xây mộ 2 vị Thần tại nơi trước kia các Ngài đã lập quán Hội đồng, xây dựng Hành cung, nơi Vọng miếu Tế rước Thần 3 xã Nam Trì, Đới Khê, Bảo Tàng. Đó là đình Ba Xã, xứ mả Phát – Voi phục. Ngày 18/11 cùng năm dân làng rước 2 Ngài về ngự và ngày 7/3 năm Mậu Tý – 2008 cùng với việc khánh thành đền Mẫu, nhà Tổ chùa tại chùa làng Phổ Xuân – Phổ Thung tự, dân ba làng Nam Trì, Đới Khê, Bảo Tàng chính thức làm lễ khánh thành mộ chí của 2 vị Thần và Tế lễ rước Thần. Mộ phần của 2 vị Thần huynh đệ Bảo Công, Lan Công bên cạnh nhau nhìn ra đường lộ, khe nước chảy; tiếp là hồ lớn, xa là đình Đặng Xuyên thờ ngũ vị Thành hoàng thời Hùng Vương. Mộ phần toạ thủ Thìn sơn, Tốn phương, xây đá tảng chạm khắc hoa văn Kim liên, Vân họa, đôi Nghê gác cổng, bình phong chạm trổ tinh vi, nhà bia hai cột Song long Rồng cuốn, bát hương, lọ hoa đá trắng, bia đề: Nam Trì Thành hoàng mộ chí.
CÁC NGÀY TẾ LỄ, LỄ HỘI
NGÀY SINH CỦA CÁC VỊ THẦN:
1. Ngày sinh của đức Lang Công: 9/3. Ngày hôm trước (8/3) quét dọn 2 khu Đền miếu, rước Thần đến sở Công đồng làm lễ yết cáo. Ngày hôm sau (9/3) là ngày lễ Chính. Ngày 10/3 làm lễ lại. Ngày 12/3 thì cả 3 khu (3 làng) làm lễ tạ. Lễ vật ngày lễ chính gồm trâu lợn đen tuyền mua của những gia đình vợ chồng song toàn. Hội là ca hát 10 ngày, đánh cờ, đấu vật. Khi rã đám thì 3 khu (3 làng) phải cùng dọn xứ mả Phát để rước thần về đó làm lễ và có các trò vui như đấu vật… 2. Ngày sinh của đức Bảo Công: 10/3. Hành lễ đại thể giống như thế. Ngày 8/3 rước Thần ra nhà Hội đồng làm lễ, có trò vui đấu vật 3 keo và rước đi các nơi làm lễ tắm Thánh. Nửa đêm 8/3 làm lễ sơ cáo, hôm sau mồng 9 làm lễ chính. Ngày 21 (hay ngày 12) làm lễ tế tạ. Lễ vật ngày lễ chính gồm trâu bò, xôi rượu. Hội là ca hát 10 ngày, đánh cờ, đấu vật. Ngày hành lễ cấm mặc quần áo màu tía. 3. Ngày sinh của đức Cao Vương: 4/1. Hành lễ đại thể giống như thế. Trước ngày lễ chính quét dọn hai khu đền miếu, rước thần đến sở Công đồng làm lễ yết cáo. Ngày hôm sau là lễ chính. Lễ vật ngày lễ chính gồm trâu lợn đen tuyền mua của những gia đình vợ chồng song toàn. Hội là ca hát 10 ngày, đánh cờ, đấu vật. Khi rã đám thì 3 khu phải cùng dọn xứ mả Phát để rước thần về đó làm lễ, có các trò vui đấu vật… 4. Ngày sinh của đức Thánh Địa lý Tả Ao: Năm Nhâm Tuất niên hiêu Đại Bảo thứ 3 đời Hậu Lê (1442). 5. Ngày sinh của đức Chủ tịch Hồ chí Minh: Năm Kỷ Sửu (1899). 6. Ngày sinh của Công chúa Lâu Lương: Ngày sinh của 2 vị Phu nhân: Thần tích ghi ngày 15/2 năm Bính Thìn. Lễ vật là lễ chay gồm hoa quả, xôi, rượu.
NGÀY HOÁ CỦA CÁC VỊ THẦN:
1. Ngày hoá của đức Lang Công: 12/9. Lễ vật gồm: xôi, rượu, lợn và trò chơi đánh vật. 2. Ngày hoá của đức Bảo Công: 1/12. Lễ vật gồm: trâu, lợn, gà, xôi, rượu và bánh mật. 3. Ngày hoá của đức Cao Vương: 10/8. Lễ vật gồm: trâu, gà, xôi, rượu. 4. Ngày hoá của Thánh Địa lý Tả Ao: 29/6 Lễ vật gồm: trâu, gà, cá, xôi, rượu. 5. Ngày hoá của Thánh Chủ tịch Hồ chí Minh: 21/7 Lễ vật gồm: trâu, gà, cá, xôi, rượu. 6. Ngày hoá của Công chúa, nhị vị Phu nhân: 15/11. Lễ vật gồm gà, xôi, rượu (hoặc mổ trâu, bò cũng được). Hát 3 ngày
NGÀY HUÝ NHẬT CỦA THÁNH PHỤ, THÁNH MẪU:
Ngày huý nhật của Thân phụ đức Lang Công là ngày: 10/7. Biện lễ tuỳ nghi. Các lễ tế khác thì thỉnh cả Thánh phụ, Thánh mẫu.
NGÀY KHÁNH HẠ (LỄ MỪNG): 4/6, 8/6 và 12/8.
Lễ vật gồm gà, xôi, rượu. Hát 1 ngày. – Ngày 10/3: Ngày dân làng lễ đón rước đức Bảo Công, đức Cao Vương. Hiện nay là dịp tổ chức lễ hội. – Lễ Tam sinh: Các ngày Đinh tháng 2, tháng 8 và chi 52 quan tiền công quỹ. Các ngày lễ phải kiêng huý các chữ: Biền, Quốc, Lang, Bảo, Lã, Gia và tên Thánh phụ, Thánh mẫu (Tạo, Vỹ, Tuyên, Huyền, Nguyên, Tố, Phương). Hành lễ cấm dùng màu vàng, màu tía.
Chia sẻ:
- In
- X
Có liên quan
Từ khóa » đền Nam Trì
-
Lễ Hội Nam Trì – Wikipedia Tiếng Việt
-
Nam Trì – Wikipedia Tiếng Việt
-
Kỳ Bí Làng Nam Trì được Cao Biền Và Tả Ao Trấn Yểm - Kiến Thức
-
Cụ Tả Ao Và Câu Chuyện Phong Thủy Làng Nam Trì - Trí Thức VN
-
Top 15 đền Nam Trì
-
Lễ Hội Nam Trì Và Lễ Nghi Tôn Giáo Thời Thượng Cổ
-
Lễ Hội Nam Trì - Huyện Hàm Yên
-
Chuyện Ở Ngôi Làng Cổ May Mắn Được 2 Thánh Địa Lý Trấn Yểm
-
Lễ Hội Nam Trì Tại Hưng Yên
-
File:Ban Thờ Tả Ao Tại đền Nam Trì.jpg - Wikimedia Commons
-
Đền Thờ Cụ Tả Ao, Nam Trì, Ân Thi, Hưng Yên
-
Ngoại Khóa: Mô Hình Trường Học Gắn Với Di Sản “Đền Thiên Cổ
-
Di Tích Cấp Quốc Gia Trên địa Bàn Thị Xã Kinh Môn
-
Danh Sách Các Di Tích - Thành Phố Từ Sơn
-
Đền Chùa Xá: (Lễ Hội Chính Vào Ngày 15/1 âm Lịch)
-
Làm Sao để đến Đền Làng Nội Trì ở Tân Hồng Bằng Xe Buýt? - Moovit