| Đầu tháng 11 vừa qua, tại phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh đã khánh thành phục dựng, tôn tạo đền Rồng, nơi thờ Lý Chiêu Hoàng, tên húy là Phật Kim, có cuộc đời thăng trầm, éo le. Ngay tại Thủ đô cũng có hai ngôi đền thờ vua bà cuối cùng của vương triều Lý. Yên Thành là một trong tám làng thuộc tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận, Thăng Long thời Lê. Đền Yên Thành nay ở nhà số 28 phố Phan Huy Ích, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình. Ngôi đình được xây dựng trên một diện tích hẹp, quy mô kiến trúc vừa phải, có kết cấu kiểu chữ “đinh” gồm tiền tế và hậu cung. Tòa tiền tế gồm có ba gian hai chái xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, hai đốc mái có đắp nổi hình rồng, miệng ngậm bờ nóc, đuôi xoắn. Vì kèo đỡ mái làm theo kiểu “giá chiêng hạ kẻ, bẩy hiên”. Mái chia “thượng tam - hạ tứ” (trên ba, dưới bốn) đặt trên hệ thống cột làm theo dáng “thượng thu hạ thách” đứng trên các chân tảng đá xanh hình tròn. Hậu cung có ba gian chạy dọc về phía sau, một đầu nối với tiền tế tạo thành hình chữ “đinh” và được chia làm hai cung, gian ngoài rộng đặt ban thờ tám vua triều Lý, hai gian cung cấm thờ Lý Chiêu Hoàng ngồi trong khám và hai thị nữ hầu vua bà. Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc của đền được thể hiện ở các bức chạm nổi hình rồng. Kẻ, xà ngang, đấu kẻ chạm hình lá đề, vân xoắn, diềm mái phía trước tiền tế có hình hổ phù, hoa lá, chữ triện. Trải qua nhiều biến động của thời gian, đến nay tại đền vẫn còn lưu giữ được nhiều di vật có giá trị. Đó là những tượng thờ, hương án, sập thờ, cửa võng, kiệu rước mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX, XX, được nghệ nhân tạo tác rất tỷ mỉ, công phu, thếp vàng lộng lẫy và đều có chạm rồng, phượng. Hệ thống tượng tròn gồm 21 pho, trong đó có 9 tượng vua triều Lý và các tượng thánh, tượng chầu. Đặc biệt pho tượng Lý Chiêu Hoàng được thể hiện bằng trình độ nghệ thuật cao. Ngoài ra, đền còn có các tư liệu thành văn như thần tích, sắc phong, bia đá là nguồn sử liệu quý giá góp phần tìm hiểu về lịch sử, văn hóa Thăng Long. Các câu đối có nội dung ca ngợi công đức của thánh và phong cảnh của di tích. Ở ngoại thành có ngôi đình Giao Tự thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm cũng thờ Lý Chiêu Hoàng làm thành hoàng làng. Trươc cổng đình này có đắp hình hai võ tướng với voi và ngựa. Qua tam quan đến một sân rộng lát gạch Bát Tràng, hai bên có hai dãy nhà giải vũ, mỗi bên chín gian. Giữa đại đình treo một bức hoành phi có bốn chữ Hán “Thánh Cung vạn tuế”, một nhang án thờ với các mảng chạm rồng, phượng, hổ, rùa, long mã… Ngoài ra trong đình còn có một cỗ kiệu bát cống và hai khám mui luyện. Trong khám có bài vị Phật Kim. Khám thờ và bài vị đều là tác phẩm điêu khắc tinh xảo. Đặc biệt đình Giang Tự còn giữ được một cuốn thần phả soạn năm Hồng Phúc thứ nhất, một cuốn “Lý Thái Hậu thực lục”, 13 đạo sắc phong thần của các triều đại Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Tấm bia dựng năm Chính Hòa thứ 11 ghi việc Lý Chiêu Hoàng được phong là Trung đẳng thần. Lý Chiêu Hoàng sinh năm 1217 là con gái thứ hai của vua Lý Huệ Tông. Vua không có con trai nên đã lập công chúa Phật Kim làm thái tử. Lúc này triều Lý đã suy yếu, mọi quyền binh đều do Trần Thủ Độ nắm giữ. Năm 1224, Trần Thủ Độ ép Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Phật Kim mới có 7 tuổi, tức Lý Chiêu Hoàng. Vua còn nhỏ nên Thủ Độ nắm quyền nhiếp chính. Trần Cảnh (cháu ruột của Trần Thủ Độ) mới 8 tuổi được giữ chức Chánh thủ trong hậu cung, trực tiếp hầu cận Lý Chiêu Hoàng. Sau đó Trần Thủ Độ làm mối có Trần Cảnh kết duyên với Lý Chiêu Hoàng, rồi “đạo diễn” để Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng vào cuối năm 1225. Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế tức Trần Thái Tông phong Lý Chiêu Hoàng làm hoàng hậu Chiêu Thánh, Trần Thủ Độ làm thái sư. Chiêu Thánh chung sống với Trần Thái Tông mười năm mà không có con. Trần Thủ Độ đã ép công chúa Thuận Thiên (chị ruột của Chiêu Thánh), vợ của Trần Liễu (anh ruột của Trần Thái Tông) khi đó đã có thai ba tháng về làm hoàng hậu. Còn Chiêu Thánh bị giáng xuống làm công chúa. Trần Thái Tông tức giận bỏ lên núi Yên Tử, tu theo đạo Phật. Trần Thủ Độ liền đi mời Trần Thái Tông trở về kinh đô. Quá đau buồn, Chiêu Thánh tự vẫn nhưng được cứu sống, sau đó bà đi tu ở ngôi chùa bên hồ Tây. Cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ xâm lược nước Đại Việt lần thứ nhất (1258) kết thúc, tướng Lê Tần có công lớn, được vua ban tên mới là Lê Phụ Trần, rồi đem công chúa Chiêu Thánh lúc này đã 41 tuổi gả cho ông. Hai ông bà có một con trai và một con gái. Chiêu Thánh qua đời ngày 23/9/1278, thọ 51 tuổi trong chuyến về giỗ tổ tại hương Cổ Pháp, nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Triệu Chinh Hiểu(KTĐT) |