DICH LY CAO DAI Q.2 / Chuong 05
Có thể bạn quan tâm
| Chương V: |
Đặc tính các con số ứng với Thể-pháp trong nền Đại-Đạo: Từ số 0 đến 7Số 0 | Số 1 | Số 2 | Số 3 | Số 4 | Số 5 | Số 6 | Số 7 |
|
| |
Số 4 | |
| |
![]()
SỐ 4
Nguyên lý
Số 4 là cơ-quan hữu tướng biến hình, tức là Âm Dương biến sanh. Nho-gia gọi là Lưỡng-nghi sanh Tứ tượng là vậy. Số 4 cũng có nghĩa là 1+3, tức là do lý Thái Cực điều-hành với ba ngôi vạn hữu, nên hễ đến 4 là biến hóa ra rồi.
Số 4 tức là 2 thành số với 2 là 4, là con số biểu trương sự bất diệt. Đó là tượng cái tháp, vì cái tháp đứng ở trên cái nền: chóp đỉnh là hình tam giác trên đầu nhọn tượng là số 3 và dưới chân tháp là số 4. Nó là con số giao tiếp giữa Thần và các số. Hơn nữa cái linh hồn người ta là một số tự động có số 7 tức là do 3 và 4 hợp lại. Con người là Thất nguyên hòa hợp, mới tạo ra thất tình. Như vậy người tu để biến thất tình thành thất bửu.
Tinh-thần của Đại-Đạo là Dịch-lý luôn gắn liền với NHO, Y, LÝ, SỐ.
NHO là dạng-thức của chữ Nho, cũng là triết-lý của Nho-Tông chuyển thế.
Y là dựa trên căn-bản của con người làm đối-tượng cho sự lý-luận. Đạo là mục-đích giải khổ cho con người trong kiếp sống hiện tại và giải-thoát cho kiếp thác ở ngày mai. Bởi nhân thân là một Tiểu-thiên-địa đối với trời đất là đại-thiên-địa; xem ra như bóng với hình, cho nên người không bao giờ xa Đạo là vậy.
LÝ là theo trật-tự của thiên-lý lưu-hành; là biết thuận Thiên an mệnh.
SỐ là theo triết-lý các con số uyên-nguyên đi đúng theo nguyên-lý của trời đất.
THỂ PHÁP ĐẠO CAO ĐÀI ỨNG VỚI SỐ 4
I- Cúng Tứ thời:
|
Người Tín hữu Cao-Đài trong một ngày Cúng bốn thời, tức là bốn lần chầu Lễ Đức Chí-Tôn, mục đích là tập cho thân tâm an lạc, luyện tánh xét mình, lần lần sẽ nên người chí Thánh.
1- Ý nghĩa:
Đức Hộ-Pháp giảng qua lời Thuyết Đạo rằng:
“Bần-Đạo tưởng thấy trong trí cần phải buộc cả thảy Đi cúng” Đi cúng tức là Cúng Tứ Thời vậy.
Về việc Cúng tứ thời:
Tân Luật: Điều thứ hai mươi qui định Chức sắc giữ Thánh Thất mỗi ngày phải làm Tiểu Lễ bốn lần theo Tứ Thời: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Mỗi thời phải cúng đúng vào 12 giờ khuya,12 giờ trưa, 6 giờ sáng, 6 giờ chiều. Ở tư gia, dầu cúng một thời nào trong Tứ Thời cũng phải giữ đúng theo những giờ đã qui định trên đây mà hành lễ.
Sở dĩ phải cúng đúng vào các giờ qui định trên là vì Đạo Cao-Đài lấy hai chữ chính trung làm cơ bản, nghĩa là chánh Tý, chánh Ngọ, chánh Mẹo, chánh Dậu vậy
Một ngày có 24 giờ, chia làm hai thời điểm: ngày và đêm ấy là Âm Dương. (Lưỡng nghi) Mỗi một thời điểm là 12 giờ, tượng là Thập Nhị Thời Thần, mỗi thời có 2 tiếng đồng hồ, chia làm bốn khoảnh-khắc (Tứ tượng).
- Thời Tý: từ 11 giờ (đêm) đến 1giờ khuya.
- Thời Mẹo: từ 5 giờ (sáng) đến 7 giờ sáng.
- Thời Ngọ: từ 11 giờ (trưa) đến 1 giờ trưa.
- Thời Dậu: từ 5 giờ (chiều) đến 7 giờ tối.
Thời Tý cúng đúng 12 giờ (khuya) là chính giữa của thời Tý, là trung hòa chi Đạo. Thánh Nho có câu: “Trung giả dã, thiên hạ chi đại bản dã, hòa giả dã, thiên hạ chi đạt Đạo dã. Chí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên”. Có nghĩa rằng: Trung là cái gốc lớn của thiên hạ, hòa là cái đạt Đạo của thiên hạ. Cùng cực cả trung và hòa, thì Trời Đất định vị, vạn vật hóa dục.
Đây là cái giờ giáp giới, ngày cũ hết, ngày mới bắt đầu, nên 12 giờ đêm 30 tháng 12 (chạp) gọi là giờ giao thừa.
Còn lại ba thời: Mẹo, Ngọ, Dậu cũng cúng đúng chính giữa thời như vậy, tức là 6 giờ sáng, 12 giờ trưa, 6 giờ chiều.
Đức Chí Tôn phân định thời Tý, Ngọ cúng Rượu. Mẹo, Dậu cúng Trà là một ý nghĩa huyền-bí cao siêu để cho con cái của Ngài được hưởng Bí-pháp vô vi là một đặc ân vô giá của Ngài ban cho đó vậy.
2- Về Lý Dịch:
* Thời Tý: Là thời cực Âm sanh Dương, là thời Ngươn Khí của Đức Chí-Tôn phát khởi, do nhứt điểm Dương sanh chi thủy, vận chuyển Càn Khôn hóa sanh vạn loại, nên dạy hiến rượu là mượn cả khí phách, năng lực của toàn Môn-đệ giúp hay cho phần điển lực của Đức Chí Tôn. Hiến lễ Đức Chí-Tôn giờ nầy, chúng ta hưởng khí sanh quang của Đức Chí-Tôn làm cho khí phách được mạnh mẽ, trí não sáng suốt.
Theo Dịch-lý là quẻ Phục (Địa Lôi Phục)
tức nhiên quẻ trên là Khôn vi Địa, dưới là Chấn vi Lôi. Đọc là Địa Lôi Phục. Có một Dương chịu dưới 5 Âm. Dương bắt đầu tiến dần lên gọi là Dương tiến, tất nhiên Âm phải thoái, hay cũng nói là Âm tuyệt Dương sinh
* Thời Ngọ: Là thời Ngươn Khí của Đức Chí-Tôn đến buổi cực thạnh, đầy đủ ánh Dương quang, soi thấu cả nguồn sanh khí của toàn thể vạn loại, tức là cực Dương sanh Âm, là nguồn tịnh dưỡng Ngươn Khí, nên dạy hiến rượu. Hiến lễ Đức Chí Tôn giờ nầy, chúng ta được hưởng khí sanh quang của Đức Chí-Tôn, hàm dưỡng khí phách của chúng ta cho được an tịnh. Thế nên dạy hiến rượu cũng như Thời Tý vậy.
Dịch-lý ứng vào quẻ Cấu (Thiên-phong Cấu)
tức nhiên quẻ trên là Càn vi Thiên, quẻ dưới là Tốn vi Phong, đọc là Thiên Phong Cấu. Quẻ này có một Âm dưới 5 Dương, là thời Dương tiêu Âm trưởng, nghĩa là Âm lần lần lấn Dương ra ngoài.
* Thời Mẹo: Là thời Ngươn Thần của Đức Chí Tôn sau những giờ định tĩnh mà phát khởi biến hóa, sanh trưởng muôn loài, do Âm Dương vãng lai giao thới, gọi rằng Thủy Hỏa Ký tế, vạn loại hữu sanh, nên dạy hiến trà dùng Âm Dương thủy là mượn cả linh-hồn yên tĩnh điều hòa của chư Môn-đệ giúp hay cho phần Bí-pháp của Đức Chí-Tôn. Hiến lễ Đức Chí-Tôn giờ nầy, chúng ta hưởng được Thần lực của Đức Chí-Tôn mà làm cho Chơn Thần chúng ta được tráng kiện.
Theo như lời của Đức Hộ-Pháp có nói: “Con người ban ngày ăn uống vật thực để nuôi lấy xác thân, ban đêm ngủ là tịnh dưỡng, nuôi nấng Chơn Thần. Dầu người có ăn cao lương mỹ vị, sau ba đêm không ngủ, thì người ấy mất Thần, sẽ kém sút đi mà chớ!”.
Dịch-lý ứng vào quẻ Đại-Tráng (Lôi Thiên Đại-Tráng)
tức nhiên quẻ trên là Chấn vi Lôi, quẻ dưới là Càn vi Thiên, đọc là Lôi Thiên Đại-Tráng. Quẻ này 4 Dương ở dưới đã lấn dần hào Âm ra ngoài, đó là thời Dương tiến Âm thoái, hay là Dương thạnh Âm suy.
* Thời Dậu: Là thời Ngươn Thần của Đức Chí Tôn giáng hạ và tịnh dưỡng, cũng do Âm Dương vãng lai giao thới, Thủy Hỏa Ký tế, vạn loại toại sanh, nên dạy hiến trà. Dùng Âm-Dương-thủy cũng như thời Mẹo vậy. Hiến lễ Đức Chí-Tôn giờ nầy, chúng ta được hàm dưỡng Chơn Thần an tịnh.
Dịch-lý ứng vào quẻ Quan (Phong Địa quan)
Tức nhiên quẻ trên là Tốn vi Phong, quẻ dưới là Khôn vi Địa, đọc là Phong Địa Quan (có khi đọc là Quán). Tất nhiên quẻ này là quẻ đảo ngược của quẻ Đại-tráng, có nghĩa là quẻ này có 4 Âm đã lấn hai Dương ra ngoài là thời của Âm trưởng thì Dương tiêu.
Thánh-ý của Đức Chí-Tôn mượn cả khí phách, năng lực và tánh chất điều-hòa của chư Môn đệ mỗi ngày trong bốn thời Cúng đều phải đến trước mặt Thầy đặng Cầu nguyện và Xét mình.
3- Giá trị của việc Cúng Tứ thời:
Có khi nào ta nghĩ rằng tại sao phải cúng Đức Chí Tôn và Phật-Mẫu mỗi thời, mỗi ngày không? Giá trị của sự Cúng kính ra làm sao? Và khi nào được nghỉ Cúng?
Thuở Đức Hộ-Pháp còn sanh tiền Ngài cũng lo ngại cho loài người vì sự văn-minh tuyệt đỉnh bị “giục thúc bởi phương sống vật chất, họ tìm hạnh phúc trong cái sống vật hình, vì cớ Đạo-giáo mất quyền”.
Ngài vấn nạn Đức Lý Giáo-Tông:
“Đương thế kỷ hai mươi này văn-minh cực điểm đã đi quá cao rồi, đem đạo-đức tinh thần làm thuyết cứu thế sợ chẳng có kết quả. Tôi công nhận rằng trước hai ngàn năm có lẽ nhơn loại còn bảo thủ được khối thiên lương, biết xu-hướng đạo-đức; tinh thần đạo-đức buổi ấy dường như gặp một mảnh ruộng có nhiều phân nên hột giống mới mọc đặng, còn thế-kỷ hai mươi này là thời-kỳ văn-minh vật chất, nếu đem đạo-đức ra làm môi giới cứu vãn tình thế cho đời e vô hiệu quả.
Đức Lý Ngài than, nói quyết đoán rằng:
- Theo lẽ Hiền-hữu nói nhơn loại ngày giờ này không cần đạo-đức có phải?
Bần-Đạo trả lời:
- Thật vậy! Nhơn-loại buổi này không cần đạo-đức, chỉ tìm hạnh phúc nơi văn-minh khoa học cũng có thể được chứ?
Ngài cười:
- Văn-minh khoa-học chỉ nuôi phần xác thịt mà thôi, còn phần linh hồn chắc-chắn họ sẽ đói!
Bần-Đạo vấn nạn tiếp:
- Tại sao Ngài nói linh-hồn đói? Linh-hồn có ăn sao mà đói?
- Phải! Phải có vật-thực đặng bảo dưỡng nó như thi hài vậy, nếu không vật thực nó sẽ tiều-tụy rồi chết mà chớ!
Bần Đạo lại hỏi:
- Đạo-đức tìm nơi đâu mà có đặng?
- Tức nhiên tìm nơi cửa Thiêng-liêng hằng sống mới có, mà tìm nơi cửa Thiêng-liêng hằng sống tức là cửa Đạo. Buổi ăn của linh-hồn là buổi ta vô Đền thờ cúng đấy! Ta không thấy mùi của nó tức chưa hưởng được, tưởng vô Đền thờ là bị luật buộc, không dè mỗi phen đi cúng tức là cho linh-hồn ăn vậy! Bần Đạo tưởng thấy trong trí cần phải bắt buộc cả thảy đi cúng. Vì trong thâm tâm Bần Đạo định mấy người chưa biết mùi của nó, cũng như kẻ nhà quê đưa cho gói bánh ăn chẳng được, rồi khi đã biết mùi rồi bán cả áo quần mà mua ăn” (TĐ II/152).
Vì tính cách trọng-yếu đó mà Đức Phật Quan-Âm nhắc nhở rằng:
Phải năng cúng kiến thường:
Thánh Giáo của Đức Quan Âm Bồ-Tát dạy:
"... Các Em phải lo cúng kiến thường:
1- Một là tập cho Chơn Thần được gần gũi các Đấng Thiêng Liêng cho đặng xán lạn.
2- Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các Em và cả chúng sanh.
3- Ba là có tế lễ thì tâm mới có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên.
4- Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri, lương năng của các Em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ. Các Em nhớ à! ..." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.2, ngày 08--05-1933).
Cúng phải nghiêm trang:
Thánh Giáo Đức Chí Tôn dạy:
"Thầy hằng nói với các con rằng: "Thà là các con lỗi với Thầy, thì Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ, chớ chẳng động đến oai linh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, vì họ chẳng tha thứ bao giờ."
Thầy lại cũng đã nói:
"Mỗi khi Chơn linh Thầy giáng Đàn, thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ. Các con nếu mắt phàm thấy đặng, phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng! Nhưng thấy chẳng đặng, nên tội cũng giảm nhẹ đó chút.
Thất lễ là đại tội trước mắt các Đấng Chơn linh ấy! Thầy phải thăng cho các con khỏi hành phạt. Thầy chẳng buổi nào chấp trách các con, bởi lòng thương yêu hơn chấp trách rất nhiều. Sợ là sợ cho các con mất đức với chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
Xem đó, thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm! Vì Thầy là bậc Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh hễ các con có lỗi, thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con nghe à!” (TNHT II, 15-10-1926)
4/- “Không có một điều gì mà Chí-Tôn định trong Chơn giáo của Ngài, dầu Bí pháp dầu Thể-pháp mà vô ích đâu”
“Ðấng ấy là Ðấng tưng tiu, yêu ái con cái của Ngài lắm, thảng có điều gì không cần ích mà con cái của Ngài nói rằng không muốn, Ngài cũng bỏ nữa đa !
Từ ngày Khai Ðạo: Kinh kệ, Lễ bái, sự chi sắp đặt về đạo-đức cũng chính Chí-Tôn tạo thành, không phải do các Ðấng khác. Ngài buộc mình làm, tức có cần yếu, hữu ích chi chi đó Ngài mới buộc. Vì cớ nên thời giờ nầy, thấy Bần-Ðạo bó buộc nghiêm-khắc có lẽ những kẻ biếng nhác cũng phàn-nàn lén lút. Ngày cuối cùng các bạn gặp mặt Bần-Ðạo nơi Thiêng-Liêng, Bần-Ðạo sẽ hỏi các bạn coi khi còn ở thế Bần-Ðạo buộc cả thảy đi cúng là có tội hay có công? Công hay tội ngày giờ ấy Bần-Ðạo hỏi rồi chúng ta sẽ có một tấn tuồng tâm lý ngộ-nghĩnh với nhau vô cùng tận, chừng đó mới biết lẽ nên hư.
Ngày nay, giờ phút nầy, Bần-Ðạo đứng tại Giảng đài nầy để lời khuyên nhủ: Còn biếng nhác quá! Xác thịt đã hư rồi đến Linh hồn, phải coi chừng cho lắm, kẻo ngày kia ăn năn quá muộn.
(thời Tý đêm mồng 1 tháng 11 năm Mậu Tý - dl. 01-12-1948)
- Cúng là một hình thức xét mình
Thầy dạy:
“Trước khi vào lạy Thầy buổi tối phải tự hỏi mình coi phận sự ngày ấy xong chưa? Nếu phận-sự chưa rồi, lương tâm chưa an tịnh thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy tội lỗi của mình đã làm thì các con lo chi không bì bực chí Thánh. Thầy mong cho mỗi đứa đều lưu ý đến sự sửa mình ấy. Đặng vậy thì may-mắn cho Đạo và các con cũng sẽ đặng thung dung nêu gương cho kẻ khác”.
Hiện nay có nhiều vị niên cao kỷ trưởng muốn được nghỉ đi cúng, vậy có đúng chơn pháp không?
Sau đây là lời phê của Đức Hộ-Pháp vào năm 1951qua tờ xin của Chí-Thiện Lê-văn-Trưởng xin nghỉ cúng thời Tý vì tuổi già bịnh hoạn.
Đức Hộ-Pháp phê rằng:
“Hễ càng già lại càng Cúng nhiều đặng dâng mạng căn số kiếp của mình cho Chí-Tôn định, ấy là bí-mật giải thoát của Chí-Tôn để nơi Cơ tận độ. Dầu đương giờ mình cúng mà chết trước mặt Người lại càng hay. Phải tuyên truyền cho ai cũng đều thấu đáo nghĩa lý bí-pháp này.
Khi đau ốm nằm dưỡng bịnh, hễ nghe thời Cúng là dậy dâng Tam bửu cho Chí-Tôn”.
Đi Cúng quả là hữu ích, nên Thầy ân cần dặn bảo:
“Phải chịu khó cúng Tứ thời và nhìn Thiên-Nhãn cho thường. Mỗi lần Cúng cho được lâu, lâu đặng cảm lòng giáng hỏa hết đau mắt.
Luôn dịp Thầy nói cho các con biết: Cúng Tứ thời có ích cho các con lắm, chớ không phải ích chi cho Thầy. Nếu Cúng được thường thì lòng dạ mở-mang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bịnh tiêu diệt. Con nên biết việc Cúng Tứ thời nghe! (ĐCT 10-11 Bính-Dần dl 14-12-1926)
Đức Hộ-Pháp thường nhắc:
Điều trọng-yếu là cả bí-pháp Đạo-giáo có liên quan mật thiết với Thể-pháp rồi cả thảy đều nghĩ, từ thử tới giờ Hộ-Pháp buộc phải đi Cúng, phải hành Đạo thế nào, không phải Ngài buộc mà Ngài hưởng một quyền lợi gì riêng hết, thử suy đoán chơn pháp ấy rồi mới biết.
Bần Đạo vì phận sự muốn cho con cái của Đức Chí Tôn tạo cơ giải thoát nên mới buộc gắt-gao như vậy thôi”
II- SỰ THÀNH HÌNH TRONG VŨ-TRỤ
-Kiền là Trời có 4 đức: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh:
(Trích từ quẻ Kiền vi Thiên số 1.Dịch Quyển III)
- Nguyên là muôn vật bắt đầu.
- Hanh là muôn vật lớn lên.
- Lợi là muôn vật được thoả.
- Trinh là muôn vật đã thành.
Bốn đức này đã thể hiện trong bài Kinh Ngọc Hoàng: Đại La Thiên Đế.
Thái-cực Thánh-Hoàng. Hoá dục quần sanh. Thống ngự vạn vật Diệu diệu “Huỳnh-Kim-khuyết”. Nguy nguy “Bạch-ngọc-Kinh” Nhược thiệt nhược hư. Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hoá, Thị không thị sắc. Vô vi nhi dịch sử quần linh
Toàn 64 quẻ chỉ có hai quẻ KIỀN KHÔN có đủ 4 đức ấy, các quẻ khác thì tuỳ việc mà thay đổi:
- Nguyên 元 là chuyên làm những việc thiện lớn.
- Lợi 利 là chủ về những sự chính bền.
- Thể của Hanh 亨 Trinh 貞 việc nào xứng với việc ấy. Nghĩa của 4 đức bao gồm hết cả vũ-trụ.
1- Nguyên là gì? Về mặt chữ: Nguyên 元 họp bởi chữ ngột 兀 là cao chót vót, thêm vào nét nhứt ─ ở trên để chỉ cái lý duy nhất, cao cả như nước nguồn đổ ra trăm sông, ngàn mạch, như một chủng-tử lưu truyền theo mỗi loại. Nguyên là bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên.
Theo dạng chữ thì chữ ngột 兀 giống như một cái Đài cao mà từ xưa các bậc tiền bối thường lập nơi thanh vắng và tinh-khiết để cầu chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Nét nhứt ở trên chỉ sự chí diệu, chí linh, tối đại, tối cao, duy tinh, duy nhất. Nói rộng ra Nguyên bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên do đức háo-sanh của Đấng Tạo đoan để mỗi loại được cái sống lưu truyền với cái giác, cái linh huyền-nhiệm mà lưu tồn. Nguyên tượng cho mùa Xuân, ở người là đức Nhân.
2- Hanh là gì? Hanh 亨 gồm có bộ đầu 亠 ở trên hết là chỉ sự khởi điểm, liễu了 ở phía dưới là chỉ sự kết cuộc, khẩu 口 ở giữa hàm chứa điều lành. Vậy Hanh là sự thông suốt, thuận-tiện, sự lớn lên của vạn-vật, chính nhờ có đức Nguyên mà khi vạn vật bắt đầu sinh dục mới được nguyên-khí mà ngày càng phát triển, ví như có mây mới biến hoá mà làm ra mưa cho khắp nơi được nhuần thấm, loại nào theo loại nấy, thứ nào theo thứ nấy, tất thảy thành hình, thành sắc, trưởng dục mãi cho đến vô cùng. Hanh tượng cho mùa Hạ.
3- Lợi là gì? Lợi 利 là sự có ích của mùa thu hoạch, gồm bộ đao刂là con dao, hoà 禾 là cây lúa. Chữ Lợi là chỉ về mùa gặt hái, như lúa tới mùa thu-hoạch thì thợ đem liềm hái ra ruộng cắt đem về. Mùa thu là mùa thu gặt nên có lợi.
Nhờ đức tính hoá-dục được xuyên suốt mới hanh thông tức là có lợi cho nhau, vạn-vật theo nhau mà phát huy toàn diện, lại giữ được nguyên khí thái hoà như lúc đầu trời đã phú cho. Như vậy mọi vật khởi đầu bằng hành động đúng, đưa đến công dụng tốt. Lợi là sự hài-hoà của phẩm-vật. Lợi chỉ về mùa thu. Với người “Lợi là sự hài hoà của việc Nghĩa” (Lợi giả, nghĩa chi hoà dã).
Với trời đất Lợi ở chỗ ban thí ra cùng khắp mà không kể công, tức là Trời không thấy làm, mà không một việc gì không làm “Vô vi nhi vô bất vi”.
4- Trinh là gì? Trinh 貞 là sự chính đính, bền chặc cho đến cùng. Hợp bởi chữ bốc卜 là bói và bối 貝 là đồng tiền, tức là chỉ sự bói toán dùng tiền gieo quẻ, mong được ứng điều lành. Trinh, mang ý-nghĩa sự chính bền cũng là sự thành tựu, giai đoạn thành hình. Trinh ứng vào mùa Đông.
- Người có Bốn đức: Nhân Nghĩa Lễ Trí:
Giữa Trời và Người có liên quan mật thiết nhau:
Nguyên là khởi đầu của sinh-vật, là đức của trời đất, không có gì có trước nó, nên về thời tiết là mùa Xuân, ở người là đức Nhân, là đầu mối các điều thiện. Con người là gốc, nên Thầy có dạy về chữ Nhân rằng:
Nhân là đầu mối các hành tàng, Cũng bởi vì Nhân dân hoá quan. Dân trí có nhân nhà nước trị, Nước nhà nhân thiệt một cơ quan.
Hanh là sự thông suốt của vạn-vật. Bốn mùa thời-tiết điều hoà, hoa quả tốt tươi, thịnh-mậu. Ở người là Lễ.
Lợi là sự toại thông của sinh vật. Vật nào được cái sơ-nghi của vật ấy, không hại lẫn nhau. Lợi vào mùa thu. Ở người là việc Nghĩa.
Trinh là sự thành đạt của sinh vật, ứng vào mùa Đông. Ở người là Trí.
Có thông suốt được các đức tính cao cả của Trời để nghiêm giữ được lòng mình là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí vậy.
Tất cả các yếu-lý để làm một con người toàn thiện là phải đủ 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Có thể gồm thâu vào một mối. Ở người tu theo Đạo Cao-Đài ngày nay là đoạt đức làm Chủ, làm Chúa. Phật Thích-Ca cũng nói: Thắng một vạn quân không bằng tự thắng lấy mình là vậy. Thắng lấy mình là làm chủ mình trước tiên. Dầu một bậc vua quan công hầu khanh tể đi nữa mà không thắng lấy mình được thì mọi việc sẽ hư hỏng về sau.
Lịch-sử nhân-loại đã cho ta thấy điều ấy.
III- Bốn vị Đại Thánh-nhân đến khai sáng nhơn tâm:
Cũng may, chính vào “Cái thời Trung nguơn ấy mà nhơn-sanh mỗi ngày càng thêm nhiều xu-hướng về vật chất nên Ơn Trên mới phái bốn vị Đại Thánh-nhân đến khai sáng cho nhơn tâm, đó là:
- Đức Thích-Ca Mâu-Ni mở Đạo Phật.
- Đức Lão-Tử mở Đạo Tiên.
- Đức Thánh Khổng-Phu-Tử mở Đạo Thánh.
Thánh nơi Đông-phương gọi là Thánh Ta
- Sau cùng con một Đức Chúa Trời là Đức Chúa Jésus-Christ. Thánh nơi phương Tây gọi là Thánh Tây. Thế nên cả hai vị Giáo-Chủ này là Thánh-đạo.
Ngoài ra, còn có các bậc Hiền-nhơn dụng đạo đức để cảm-hóa nhơn-sanh bằng các lý lẽ: không tham danh, trục lợi; đem Đạo-đức của Thánh Hiền mà Phổ-độ nhơn sanh; thế nên, bên phương Đông, Xuân Thu chiến-quốc trở lại êm dịu.
Bên phương Tây, nhờ Chúa Jésus-Christ dạy đời, khuyên chúng-sanh thức tỉnh trở về với Trời đặng sống, sống cái lẽ thanh-cao, liêm-khiết.
Từ Thượng ngươn, Trung ngươn, Hạ ngươn đều ở trong Tam chuyển. Trong Nhơn-hoà từ buổi Tam chuyển được tấn hoá thêm bốn phẩm nữa là Thần Thánh Tiên Phật.
- Nhơn hồn nào đã được trọn trung ấy đã vào Thần vị.
- Biết được nghĩa chánh bồi bổ đạo nhơn luân tức là Thánh-vị. Đến Thánh-hồn thì lẽ tự nhiên phải thông suốt phần Thế đạo.
- Trong phần Thế đạo mà tạo được Bí-pháp đặng bước qua mặt Thể pháp Thiên đạo tức là Tiên vị.
- Đã lập được Thiên-đạo mà tầm nên Bí-pháp Thiên Đạo tức gọi là đắc pháp ấy là Phật-vị.
Trong Nhơn hồn lại chia ra: Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn.
Nếu đoạt được Thể pháp tức là Thần hồn, tạo được phẩm người gọi là Thánh hồn. Trả xong Nhơn đạo tạo nên Bí-Pháp là Tiên hồn, đoạt pháp tức là Phật hồn đó vậy.
Đời là một sự biến dịch không ngừng:
Thế mà: Đức Hộ-Pháp buột lời than cho nhơn-loại rằng:
“Ngày giờ nào nhơn-sanh cũng tìm phương an-ủi cho bớt thống-khổ, kiếm phương an-ủi; tìm cùng đáo-để như tìm gió theo mây chạy đến gõ cửa ĐứcKhổng-Phu Tử:
“Ông có thuốc gì an-ủi nỗi thống-khổ tâm hồn của tôi không ?”
Đức Khổng-Phu-Tử trả lời:
- Phương chuyển thế không cùng, dầu đoạt được Bí-pháp lấy Trung-dung cũng chưa thỏa mãn.
Sang gõ cửa Phật Thích-Ca:
“Phật có thuốc gì chữa nỗi thống khổ tâm hồn của tôi chăng?”
Phật đem chơn-lý trước mắt là Sanh, Lão, Bịnh, tử, ấy là chơn-lý. Người mới tự xét: Tôi không muốn sanh mà ai sanh ra tôi chi, để tôi phải chịu khổ thế này?
Sống, tôi không muốn sống, vì sống là gốc sản xuất tứ khổ. Cái khổ ấy chẳng phải của tôi mà ai làm cho tôi khổ. Cũng không thỏa-mãn tâm hồn. Tìm nơi Phật không thấy đặng gì !
Đến gõ cửa Lão-Tử:
- Bạch Ngài, có món thuốc gì an-ủi tâm hồn tôi không ?
- Bảo, cứ giữ đạo-đức làm căn-bản, thóat mình ra khỏi thúc-phược thất tình, lên non phủi kiếp oan-khiên, tìm nơi tịch-mịch an-nhàn thân tự-toại. Nếu không thế ấy thì đừng mơ-mộng gì thoát khổ được.
Nghe lời, lên núi ở, mà ngặt nỗi hễ mỗi lần đem gạo lên ăn, thì khó nhọc trần-ai khổ nhộng. Đói, tuột xuống, thất chí nữa, thành phương an-ủi cũng ra ăn trớt.
Đến gõ cửa Thánh Jésus De Nazareth, hỏi:
- Đấng Cứu-Thế có phương thuốc nào trị thống khổ tâm-hồn tôi không?
- Trả lời: Nếu các Ngươi quả-quyết nhìn nhận làm con cái Đức Chúa Trời, tức là Đức Chí Tôn, làm như Người làm, mới mong an-ủi tâm hồn được. Trong khuôn khổ, phương-pháp làm con cái của Đức Chí-Tôn thì lắm kẻ nói được mà làm không được, cũng như tuồng hát viết hay mà không có kép tài đặng hát.
Cả thảy không chối, cũng có kẻ an-ủi được nhờ đức-tin vững-vàng, còn phần nhiều ngược dòng đi ngã khác, không ở trong lòng Chí-Tôn chút nào tất cả. Thất chí nữa, hết tìm ai!”
Nhờ Đức Hộ-Pháp nắm pháp Thiên điều nhơn sanh mới rõ Tứ Ðại Bộ Châu:
Tứ Ðại Bộ Châu là 4 Bộ Châu lớn được phân chia theo 4 hướng: Ðông, Tây, Nam, Bắc , có tên là:
- Ðông Thắng Thần Châu,
- Tây Ngưu Hóa Châu,
- Nam Thiệm Bộ Châu,
- Bắc Cù Lư Châu.
Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu) được chia ra ở trong Tứ Ðại Bộ Châu nầy. Ðịa cầu 68 của nhơn loại chúng ta thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.
Ở phần dưới của vũ trụ, Ðức Chí Tôn chưởng quản 72 Ðịa cầu và 4 Bộ Châu lớn.
IV- Đức Chí-Tôn khai Đạo buổi ban đầu đặc biệt chọn 4 cặp Cơ:
1- Đức Hộ-Pháp Phạm Công-Tắc với Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh-Cư: cặp Cơ phong Thánh.
2- Bảo-Pháp Nguyễn Trung Hậu với Hiến Pháp Trương Hữu Đức: cặp Cơ về Chơn pháp.
3- Khai Pháp Trần Duy Nghĩa với Tiếp Pháp Trương văn Tràng: cặp Cơ về Bí-pháp.
4- Đức Thượng-Sanh Cao-Hoài Sang với Bảo-Văn Pháp quân Cao Quỳnh Diêu: cặp Cơ Phổ Độ.
Còn các vị Hiến-Đạo, Khai Đạo, Tiếp Đạo, Tiếp Thế tuỳ trường hợp sẽ nâng loan cho Cơ truyền giáo.
Nhờ huyền-năng khai sáng của Đức Chí-Tôn mà người lãnh đạo tinh thần như một Giáo-Hữu chẳng hạn phải có đủ bốn điều kiện này mới được nhơn sanh mến phục và xứng đáng là bậc dẫn Đạo độ đời.
Đức Thượng-Phẩm dạy rằng:
“Người ngoại Đạo trông vào mà yêu mến chơn Đạo của Đức Chí-Tôn khai dựng. Mỗi vị Giáo-Hữu cho đặng các điều này:
1- Một là phải thông việc Đạo.
2- Hai là phải thạo việc Đời.
3- Ba là trau-giồi đức hạnh.
4- Bốn là giữ chánh dạy người.
Muốn đặng bốn điều ấy phải tìm-tòi hỏi-han cho mở rộng thêm ra chỗ học thức của mình, phải năng đọc Thánh ngôn cùng năng xem sách Đạo”.
Tất cả lời hay ý đẹp đều do Cơ bút của Thần Tiên Thánh Phật giáng dạy.
V- ĐẠO XUẤT Ư ĐÔNG
Trong trời đất phân ra bốn phương chánh là: Đông, Tây, Nam, Bắc và ngoài ra còn bốn phương phụ là Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, nhưng chính Đông vẫn là khởi điểm.
Theo nguyên-lý của trời đất thì Đạo luôn luôn phát khởi từ phương Đông.
“Từ cổ chí kim, tạo thiên lập địa, Đạo đều phát khởi từ phương Đông, là các nước ở miền Á Đông (Asie) như các nền chơn-giáo trước kia: Nho 儒, Đạo 道, Thích 釋 cũng đều phát khởi nơi miền Á-đông rồi lần lần truyền bá qua phương Tây như:
- Đạo Phật thì khai tại Thiên-trước là Đức Nhiên đăng Cổ-Phật và Đức Thích-ca Mâu-Ni khai Phật-giáo.
- Đại-Đạo là Đạo Tiên thì Lão-Tử khai tại Trung Hoa.
- Sau nữa Khổng-Tử khai Đạo Thánh cũng tại Trung hoa là ở miền Á-Đông.
- Sau lần lần Đạo trải khắp qua hướng Tây, nên Đức Chúa Jésus truyền Đạo Thánh tại hướng Tây. Kế đó Đạo mới roi truyền ra khắp năm châu.
Câu“Ánh thái-dương giọi trước phương Đông”. Ánh Thái-dương là Đạo đó vậy. Nay đã đến hạ-nguơn mạt kiếp, cuối cùng nên Đức Chí-Tôn mới chuyển Đạo nơi vùng Á-đông, đấy là nơi nguồn Đạo phát ra, lại khai nơi Nam-kỳ (một trong ba kỳ nơi cõi Á-đông). Vì cõi Đông dương đây cũng về miền Đông của Á-châu nên ngày nay phải khởi khai nơi hướng Đông trước rồi mới truyền lần ra hướng Tây.
Như Đức Chúa Jésus khai Đạo bên Âu châu, thì cũng khởi khai nơi miền Đông của Âu châu, rồi mới loan truyền khắp cả Âu-châu, ấy là luật tự-nhiên từ cổ chí kim, hễ Đạo phát khai thì cứ bắt đầu từ phương Đông truyền ra.
Ngày nay là giáp một vòng nên khởi lại điểm ban đầu gọi là “Thiên địa tuần-hoàn châu nhi phục thủy” do đó nền Đại-Đạo phải khai tại Á-Đông này nên Thầy mới mở Đạo nơi Đông dương là cực Đông của Á-châu mà lại khai nơi xứ Nam-kỳ là xứ thuộc-địa, dân-tộc yếu hèn, kém cỏi, ấy là do nơi Thiên-cơ tiền định cả muôn năm, lại là thưởng cái lòng tín-ngưỡng của người Nam từ thử.
Tuy khai Đạo tại nước Nam mà cũng khởi từ Đông, do cái lý từ Bàn-cổ sơ khai: “Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, nhơn sanh ư Dần”天開於子地藉於丑人生於寅. Do vậy mà Đạo khởi khai tại Tây-ninh lần lần truyền ra Gia định, Biên-Hòa, Thủ-Dầu-một, Chợ-lớn là mấy hạt ở hướng Đông. Qua năm thứ nhì, thứ ba Đạo mới truyền ra mấy hạt hướng Tây”.
Đó là Thầy đã chuẩn bị cho dân tộc Việt-Nam này từ lâu rồi nên Thánh giáo có nói:
“Khai Đạo muôn năm trước định giờ”
![]()
►Xem tiếp >>>>>
Từ khóa » Thiên Sinh ư Tý
-
Cách Bắt Ấn Tý. - CaoDai-Online
-
Bài Giảng Của Ngài Minh Thiện (1): Nhơn đạo Và Thiên Đạo
-
Ý NGHĨA CỦA CÂU "THIÊN KHAI Ư TÝ" VÀ Ý NGHĨA CỦA THẤT SÁT
-
Cao Đài Tiên Thiên - Ý NGHĨA ĐẠO TRỜI NGÀY MÙNG 9 THÁNG ...
-
LINH SỐ 12 | Đạo Và đời Qui Nguyên
-
Khai Triển Bát-quái đồ-thiên
-
Thảo Luận Về Mệnh-Thân - Lý Số Việt Nam
-
Ninh- Hán Việt Dịch Lược Sử
-
Ly Dao Co Thien - Thiên Lý Bửu Tòa
-
HUYỀN DIỆU CƠ BÚT - CAO ĐÀI - ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ Phần ...
-
Năm Tý Nói Chuyện Chuột (phần 2)
-
Giáo Lý Cao Đài Căn Bản