Điều 68 Bộ Luật Dân Sự 2015 - Luật Minh Bạch
Có thể bạn quan tâm
X - 13/06/2018
- 14:41
- 6142
- Tác giả: Luật sư Nguyễn Văn Hân
Điều 68. Tuyên bố mất tích
1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
- Để biết thêm chi tiết xin vui lòng liên hệ:
- CÔNG TY LUẬT MINH BẠCH
- Địa chỉ: Phòng 703, số 272 Khương Đình, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
- Hỗ trợ: 0243 999 0601
- Liên hệ sử dụng dịch vụ luật sư: 0987 892 333
- Email: [email protected]
0.0 sao của 0 đánh giá
Gửi yêu cầu tư vấn Tư vấn qua emailBài viết liên quan
Quy hoạch tổng thể Trạm kiểm tra tải trọng xe trên đường bộNgày 30/9/2016, Thủ tướng ban hành Quyết định 1885/QĐ-TTg về phê duyệt Quy hoạch tổng thể Trạm kiểm tra tải trọng xe trên đường bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Theo đó, việc lựa chọn vị trí đặt Trạm kiểm tra tải trọng xe được thực hiện theo nguyên tắc sau:
– Bố trí trên các tuyến đường bộ trọng điểm, hành lang vận tải đường bộ chính;
– Kiểm soát tối đa các phương tiện lưu thông trên đường bộ (kể cả phương tiện từ các khu vực lân cận, đầu mối nguồn hàng, cửa khẩu, bến cảng…);
– Hạn chế tối đa hiện tượng xe quá tải đi vòng đường khác để tránh việc kiểm tra, kiểm soát của Trạm kiểm tra tải trọng xe;
– Hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đến năng lực khai thác của đường bộ;
– Hạn chế đặt Trạm kiểm tra trong phạm vi khu vực nội thành, nội thị, đô thị để chống ùn tắc giao thông;
– Rà soát, điều chỉnh vị trí một số Trạm kiểm tra cố định để kết hợp với Trạm thu phí lân cận mà không làm giảm chức năng kiểm soát tải trọng xe của Trạm.
Quyết định 1885/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 30/9/2016 và thay thế Quyết định 1502/QĐ-TTg .
Sai thẩm quyền ban hành: Văn bản của Bộ Xây dựng không có hiệu lực?
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị vừa thay mặt Chính phủ, thừa ủy quyền Thủ tướng ký văn bản 333 đính chính Nghị định 35/2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. Cụ thể, do sơ suất kỹ thuật, văn bản đính chính từ “Bãi bỏ khoản 2 điều 5, khoản 2 điều 9” thành “bãi bỏ khoản 2 điều 9”. Trong lĩnh vực pháp luật, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về thẩm quyền của từng cơ quan. Chia sẻ với Luật sư Trần Tuấn Anh (Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch) chia sẻ, văn bản 333 của Bộ Xây dựng dùng để đính chính Nghị định 35/2023 là không đúng quy định pháp luật, do Bộ không có thẩm quyền sửa đổi hay bổ sung Nghị định do Chính phủ ban hành. Việc này có thể dẫn đến việc văn bản không có hiệu lực pháp lý, và Bộ Tư pháp có quyền can thiệp để rà soát và xử lý.
Mời bạn đọc tìm hiểu thêm tại đây
Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng!
Hành vi làm giả hồ sơ bệnh án tâm thần có thể phải chịu trách nhiệm hình sựThời gian vừa qua báo chí truyền thông đăng tải nhiều thông tin cho biết nhiều đối tượng giang hồ cộm cán nhưng lại… “bị tâm thần” nên không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội. Các cơ quan chức năng đã vào cuộc điều tra và xác định những trường hợp này có hồ sơ bệnh án tâm thần tuy nhiên những bệnh án này đều được làm giả để trốn tránh trách nhiệm hình sự. Với hành vi làm giả hồ sơ bệnh án tâm thần này, tùy theo cách thức, thủ đoạn làm giả mà cơ quan tố tụng xác định có hay không hành vi phạm tội Đưa hối lộ, Nhận hối lộ hay Làm giả con dấu tài liệu.
Với hồ sơ bệnh án tâm thần giả do các bệnh viện tâm thần địa phương làm ra, cần phải làm rõ cách thức, thủ đoạn làm giả, người làm giả để có căn cứ xác định có hay không có tội phạm và phạm tội gì.
Với loại hồ sơ do giám định viên, bác sĩ được phân công kiểm tra, xác nhận thì hành vi của người làm giả sẽ thuộc vào trường hợp thi hành công vụ, nhiệm vụ. Lúc này, họ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, trái công vụ được giao.
Nếu người này đã nhận hoặc có hứa hẹn sẽ nhận được lợi ích vật chất hoặc phi vật chất để làm giả hồ sơ bệnh án, thì việc làm giả của họ có dấu hiệu của tội Nhận hối lộ
(Điều 354 BLHS 2015 quy định: Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm cho đến tù chung thân hoặc tử hình tùy theo tính chất và mức độ của hành vi phạm tội), người đưa tiền có dấu hiệu của tội Đưa hối lộ (Điều 364 BLHS 2015 quy định: Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng cho đến 20 năm tùy theo tính chất và mức độ của hành vi phạm tội).
Còn nếu không chứng minh được tình tiết đã hoặc sẽ nhận lợi ích thì người phạm tội có thể bị xem xét về tội danh Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356 BLHS 2015 quy định: Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 đến 15 năm tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm) hoặc tội danh Giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS 2015 quy định: Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi giả mạo trong công tác, thì bị phạt tù từ 01 năm cho đến 20 năm tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội).
Trong trường hợp người làm giả là những cá nhân không được phân công công việc đó, thì sẽ xác định họ không có chức vụ, quyền hạn đối với việc làm giả. Do đó, họ sẽ không bị định tội danh đối với nhóm về chức vụ, mà có thể xem xét theo tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS 2015 quy định: Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội).
Về trách nhiệm đối với người sử dụng hồ sơ giả, nếu họ có mục đích dùng hồ sơ để trốn tránh việc bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật (không chứng minh được có tội Đưa hối lộ), thì có thể bị xem xét theo tội danh Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 nêu trên.
Việc làm giả giấy tờ trên thực tế không chỉ do những người trong các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện mà còn do những người khác thực hiện. Trường hợp này được xác định là giả về nội dung và hình thức.
Việc làm giả giấy tờ diễn ra rất phức tạp trong thực tế và thủ đoạn ngày càng tinh vi. Việc làm giả không chỉ xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức mà còn gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng khác cho xã hội. Các ngành, các cấp và mọi người dân cần chung tay đấu tranh, ngăn chặn, tạo môi trường xã hội bình đẳng, văn minh
Căn cứ pháp lý về tình trạng không có năng lực trách nhiệm dân sự và căn cứ miễn trách nhiệm dân sự đối với các hành vi trên.
____________________________________________________________________________________________
Trên đây là quan điểm của Luật Minh Bạch về vấn đề trên, bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, để được hỗ trợ và tư vấn cụ thể hơn, quý bạn đọc vui lòng liên hệ theo địa chỉ:
Công ty Luật Minh Bạch
Phòng 703, số 272 Khương Đình, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Hotline: 1900.6232
Email: [email protected]
Trân trọng!
Tư vấn Bảo hiểm xã hội một lần.Câu hỏi:
Chị Nguyễn Hòa ở thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc gửi câu hỏi với nội dung: Mẹ tôi đang làm nhân viên lao công cho một công ty và đã đóng bảo hiểm xã hội được 5 năm. Tôi xin hỏi sang năm khi mẹ tôi đến tuổi nghỉ hưu thì có nhận được khoản tiền trợ cấp không?
Cám ơn Luật sư!

Ảnh minh họa (internet)
Luật sư trả lời:
Cám ơn chị đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật Minh Bạch!
Trường hợp của gia đình chị, chúng tôi xin được giải đáp thắc mắc như sau:
Căn cứ vào Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội 2014 thì nếu mẹ chị đã đủ tuổi nghỉ hưu mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì sẽ được hưởng bảo hiểm xã hội một lần
Trân trọng!
55 lỗi mà người đi xe máy sẽ bị tước giấy phép lái xeNgười lái xe máy mắc phải 55 lỗi sau đây sẽ bị tước giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 24 tháng (tùy vào mức độ vi phạm, hành vi lỗi) theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
| TT | Hành vi vi phạm | Căn cứ pháp lý | Thời gian bị tước Giấy phép lái xe |
| 1 | Chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe | Điểm b Khoản 4 Điều 6 | 01 đến 03 tháng |
| 2 | Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông | Điểm c Khoản 4 Điều 6 | |
| 3 | Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định | Điểm i Khoản 4 Điều 6 | |
| 4 | Không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông | Điểm m Khoản 4 Điều 6 | |
| 5 | Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc | Điểm b Khoản 5 Điều 6 | |
| 6 | Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ | Điểm đ Khoản 5 Điều 6 | |
| 7 | Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. | Khoản 6 Điều 6 | |
| 8 | Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy | Điểm a Khoản 7 Điều 6 | |
| 9 | Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h | Điểm a Khoản 8 Điều 6 | |
| 10 | Tổ chức thực hiện hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 9, Khoản 10 Điều 5; Điểm b Khoản 8, Khoản 10 Điều 6; Điểm b Khoản 7 Điều 7; Điểm b Khoản 6 Điều 33. | Khoản 7 Điều 11 | |
| 11 | Điều khiển xe đăng ký tạm hoạt động quá phạm vi, thời hạn cho phép | Điểm c Khoản 5 Điều 17 | |
| 12 | Vượt rào chắn đường ngang, cầu chung khi chắn đang dịch chuyển; vượt đường ngang, cầu chung khi đèn đỏ đã bật sáng; không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của nhân viên gác đường ngang, cầu chung khi đi qua đường ngang, cầu chung | Khoản 9 Điều 46 | |
| 13 | Điều khiển loại xe sản xuất, lắp ráp trái quy định tham gia giao thông | Điểm d Khoản 5 Điều 17 | 01 đến 03 tháng (Đồng thời tịch thu phương tiện) |
| 14 | Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông | Điểm b Khoản 7 Điều 6 | 02 đến 04 tháng |
| 15 | Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn | Điểm c Khoản 7 Điều 6 | |
| 16 | – Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe; – Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị; – Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh; – Điều khiển xe thành nhóm từ 02 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định. | Khoản 9 Điều 6 | |
| 17 | Tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần các lỗi sau đây: – Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe; – Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị; – Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh; – Điều khiển xe thành nhóm từ 02 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định. | Khoản 9 Điều 6 | 03 đến 05 tháng (Đồng thời tịch thu phương tiện) |
| 18 | Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm c, Điểm đ, Điểm h, Điểm m Khoản 3; Điểm c, Điểm d, Điểm g, Điểm i Khoản 4; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm e Khoản 5; Điểm b Khoản 7; Điểm a Khoản 8; Điểm d Khoản 9 Điều 6 và gây tai nạn giao thông | Điểm a Khoản 1 Điều 6 | 02 đến 04 tháng |
| 19 | Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe” và gây tai nạn giao thông | Điểm c, Khoản 1 Điều 6 | |
| 20 | Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ và gây tai nạn giao thông | Điểm d Khoản 1 Điều 6 | |
| 21 | Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ và gây tai nạn giao thông | Điểm đ Khoản 1 Điều 6 | |
| 22 | Lùi xe mô tô ba bánh không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước và gây tai nạn giao thông | Điểm e Khoản 1 Điều 6 | |
| 23 | Sử dụng đèn chiếu xa khi tránh xe đi ngược chiều và gây tai nạn giao thông | Điểm g Khoản 1 Điều 6 | |
| 24 | Chở người ngồi trên xe sử dụng ô (dù) và gây tai nạn giao thông | Điểm h Khoản 1 Điều 6 | |
| 25 | Không tuân thủ các quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau, trừ các hành vi vi phạm quy định tại các Điểm d Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 6 và gây tai nạn giao thông | Điểm i Khoản 1 Điều 6 | |
| 26 | Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 3 (ba) xe trở lên và gây tai nạn giao thông | Điểm b Khoản 2 Điều 6 | |
| 27 | Không sử dụng đèn chiếu sáng trong thời gian từ 19 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn và gây tai nạn giao thông | Điểm c Khoản 2 Điều 6 | |
| 28 | Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau và gây tai nạn giao thông | Điểm d Khoản 2 Điều 6 | |
| 29 | Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật và gây tai nạn giao thông | Điểm đ Khoản 2 Điều 6 | |
| 30 | Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe và gây tai nạn giao thông | Điểm h Khoản 2 Điều 6 | |
| 31 | Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường và gây tai nạn giao thông | Điểm a Khoản 3 Điều 6 | |
| 32 | Không giảm tốc độ hoặc không nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính và gây tai nạn giao thông | Điểm b Khoản 3 Điều 6 | |
| 33 | Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; tụ tập từ 03 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trong hầm đường bộ; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật và gây tai nạn giao thông | Điểm đ Khoản 3 Điều 6 | |
| 34 | Xe không được quyền ưu tiên lắp đặt, sử dụng thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên và gây tai nạn giao thông | Điểm g Khoản 3 Điều 6 | |
| 35 | Dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”; đỗ xe tại nơi có biển “Cấm đỗ xe” hoặc biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”; không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 48 và gây tai nạn giao thông | Điểm h Khoản 3 Điều 6 | |
| 36 | Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép và gây tai nạn giao thông | Điểm m Khoản 3 Điều 6 | |
| 37 | Người ngồi phía sau vòng tay qua người ngồi trước để điều khiển xe, trừ trường hợp chở trẻ em ngồi phía trước và gây tai nạn giao thông | Điểm n Khoản 3 Điều 6 | |
| 38 | Người đang điều khiển xe sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính và gây tai nạn giao thông | Điểm o Khoản 3 Điều 6 | |
| 39 | Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ (trừ trường hợp điều khiển xe đi theo hướng cong của đoạn đường bộ ở nơi đường không giao nhau cùng mức) và gây tai nạn giao thông | Điểm a Khoản 4 Điều 6 | |
| 40 | Chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe và gây tai nạn giao thông | Điểm b Khoản 4 Điều 6 | |
| 41 | Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông và gây tai nạn giao thông | Điểm c Khoản 4 Điều 6 | |
| 42 | Dừng xe, đỗ xe trên cầu và gây tai nạn giao thông | Điểm d Khoản 4 Điều 6 | |
| 43 | Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố, trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà và gây tai nạn giao thông | Điểm g Khoản 4 Điều 6 | |
| 44 | Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định và gây tai nạn giao thông | Điểm i Khoản 4 Điều 6 | |
| 45 | Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người được chở trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác và gây tai nạn giao thông | Điểm k Khoản 4 Điều 6 | |
| 46 | Không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông và gây tai nạn giao thông | Điểm m Khoản 4 Điều 6 | |
| 47 | Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc và gây tai nạn giao thông | Điểm b Khoản 5 Điều 6 | |
| 48 | Chạy trong hàm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ và gây tai nạn giao thông | Điểm d Khoản 5 Điều 6 | |
| 49 | Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ và gây tai nạn giao thông | Điểm đ Khoản 5 Điều 6 | |
| 50 | Dừng xe, đỗ xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định và gây tai nạn giao thông | Điểm e Khoản 5 Điều 6 | |
| 51 | Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ | Điểm b Khoản 8 Điều 6 | 03 đến 05 tháng |
| 52 | Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở | Điểm c Khoản 8 Điều 6 | |
| 53 | Vi phạm các quy định sau đây mà gây tai nạn giao thông hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ: – Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe. – Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị. – Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh. – Điều khiển xe thành nhóm từ 02 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.
| Khoản 10 Điều 6 | |
| 54 | Đua xe trái phép | Điểm b Khoản 4 Điều 34 | 03 đến 05 tháng (Đồng thời tịch thu phương tiện) |
| 55 | Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy (trong trường hợp có Giấy phép lái xe) | Khoản 11 Điều 6 | 22 đến 24 tháng |
Về thủ tục cấp lại giấy phép lái xe mô tô, người lái xe lập 1 bộ hồ sơ gửi trực tiếp tại Sở Giao thông vận tải gồm:
– Đơn đề nghị đổi, cấp lại giấy phép lái xe (theo mẫu quy định) có dán ảnh.
– Bản chính hồ sơ gốc phù hợp với giấy phép lái xe (nếu có).
– Bản sao kèm theo bản chính chứng minh nhân dân (hoặc căn cước công dân) để đối chiếu.
Khi đến làm thủ tục sẽ được cơ quan cấp giấy phép lái xe chụp ảnh.
Đối với các trường hợp mất giấy phép lái xe, mất lần thứ nhất được cấp lại giấy phép lái xe. Mất lần thứ hai thì trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày cấp lại cho giấy phép lái xe bị mất lần thứ nhất thì phải sát hạch lại lý thuyết để cấp lại giấy phép lái xe.
Mất giấy phép lái xe từ lần thứ ba trở đi, trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày cấp lại cho giấy phép lái xe bị mất lần trước đó thì phải sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để cấp lại giấy phép lái xe.
Thời gian cấp lại giấy phép lái xe
Sau 2 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định, người có giấy phép lái xe mô tô có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Hệ thống thông tin giấy phép lái xe không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý thì được xét cấp lại giấy phép lái xe hoặc sát hạch lại để cấp giấy phép lái xe.
Lệ phí cấp giấy phép lái và lệ phí sát hạch:
– Lệ phí cấp giấy phép lái xe là: 135.000 đồng/một giấy phép lái xe.
– Lệ phí sát hạch lý thuyết là: 40.000 đồng/lần.
– Lệ phí sát hạch thực hành là: 50.000 đồng/lần.
Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về định đoạt tài sản chungĐiều 218. Định đoạt tài sản chung
1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.
2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.
Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.
Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.
5. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.
6. Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật này.
Thực trạng quản lý nhà nước về công chứng ở Việt Nam hiện naya) Mặt tích cực
Tính đến nay trên cả nước có 724 văn phòng công chứng được thành lập tại hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với hơn 1327 công chứng viên được bổ nhiệm hoạt động tại các văn phòng công chứng. Cùng với 156 phòng công chứng với hơn 458 công chứng viên, các văn phòng công chứng và các công chứng viên hoạt động tại đây đã thành một mạng lưới các tổ chức hành nhề công chứng ngày càng hiệu quả và phát triển hơn, đáp ứng tốt nhu cầu công chứng của nhân dân. Sự cạnh tranh lành mạnh buộc tất cả các tổ chức hành nghề công chứng nếu muốn phát triển cải tiến, đổi mới khẳng định vị trí thương hiệu của mình trong xã hội thì phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật, tạo niềm tin và độ an toàn trong giao dịch đối với người đi công chứng
Công chứng ở nước ta hiện nay được phát triển theo hướng xã hội hóa. Theo đó bên cạnh việc tiếp tục duy trì, củng cố và phát triển mô hình phòng công chứng do nhà nước đầu tư, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công thì Luật công chứng đồng thời cho phép sự ra đời của các văn phòng công chứng do các cá nhân đầu tư và thành lập. Hiện nay văn phòng công chứng theo mô hình xã hội hóa, việc phát triển văn phòng công chứng trong thời gian qua tại một số địa phuuwong đã góp phần phục vụ kịp thời, đầy đủ nhu cầu công chứng của nhân dân trong khi không đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực và tài lực của nhà nước
Thực hiện Luật công chứng 2014, nghị định 29/2015/NĐ-CP, thì nhiều Sở tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Hội công chứng viên tại địa phương, căn cứ vào tình hình phát triển của tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn, đã và đang chuyển giao việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch trên cả nước thực hiện việc chuyển giao và một số địa phương khác cuxngd dang trong quá trình thực hiện việc chuyển giao. Công tác thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn hoạt động đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn cũng được nhiều địa phương quan tâm.
b) Mặt hạn chế
Vấn đề tên gọi của văn phòng công chứng đã gây không ít khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước mà cụ thể là Sở Tư pháp. Để xác định tên gọi của văn phòng công chứng có trùng với tên của các tổ chức hành nghề công chứng khác hay không, nếu trong phạm vi tỉnh, thành phố thì Sở Tư pháp còn có cơ sở để giải quyết và chấp thuận việc đặt tên. Tuy nhiên, nếu vấn đề này thuộc phạm vi cả nước thì Sở Tư pháp rất khó kiểm tra. Mặt khác, pháp luật chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về chuẩn mực để đánh giá tên gọi, từ ngữ, ký hiệu như thế nào là vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Vấn đề này còn mang tính chủ quan của cơ quan quản lý nhà nước của từng địa phương, dẫn đến tình trạng không có sự thống nhất giữa các địa phương.Sở tư pháp còn lúng túng trong việc thực hiện vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn. Vai trò quản lý nhà nước không được phát huy dẫn đến việc các tổ chức hành nghề công chứng trên một số địa bàn chưa lấy cơ quan tư pháp làm chỗ dựa khi có những vướng mắc về chuyên môn, nghiệp vụ, hoạt động hành nghề mà thường gửi thẳng kiến nghị, thăc mắc lên Bộ Tư pháp, không qua Sở Tư pháp là cơ quan giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về công tác tư pháp, trong đó có hoạt động công chứng ở địa phương dẫn đến tình trạng quá tải ở Bộ.
Về xã hội thì bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu tiêu cực như sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công chứng với nhau (giữa văn phòng công chứng và phòng công chứng). Như phản ánh của một số địa phương thì đã có hiện tượng công chứng dạo, thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nhưng không thuộc những trường hợp quy định trong luật Công chứng 2014. Điều này cho thấy rõ vai trò quản lý của nhà nước rõ ràng đã bị lơ là buông lỏng chưa theo kịp tình hình thực tế.
Các Sở Tư pháp vẫn chưa rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành những quy định hướng dẫn các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo thẩm quyền, dẫn đến hoạt động công chứng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhất là khó khăn cho việc quản lý chặt chẽ hoạt động này và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Điều đáng quan tâm ở đây là nhà nươc cần phải quan tâm đến việc tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng theo một quy hoạch hợp lý.
Thủ tục khai báo điện tử đối với tàu bay xuất cảnhNgày 26/9/2017, Thủ tướng ban hành Quyết định 43/2017/QĐ-TTg về trách nhiệm thực hiện thủ tục đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thông qua Cơ chế một cửa quốc gia.
– Bản khai hàng hóa xuất khẩu bằng đường hàng không và vận đơn chủ (nếu có vận chuyển hàng hóa xuất khẩu);
– Danh sách hành khách (nếu có vận chuyển hành khách); – Danh sách tổ bay;
– Bản lược khai hành lý ký gửi của hành khách (nếu hành khách có ký gửi hành lý);
– Thông tin về chuyến bay (đường bay, số liệu chuyến bay, tên hãng hàng không, cửa khẩu, số lượng hành khách, tổ bay và thời gian xuất cảnh);
– Thông tin về đặt chỗ của hành khách (thông tin PNR).
Ngoài ra, người làm thủ tục còn phải nộp các chứng từ bản giấy (bản chính) sau cho các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng hàng không:
a) Tờ khai chung hàng không (bao gồm khai báo y tế) nộp cho tổ chức kiểm dịch y tế biên giới;
b) Giấy khai báo y tế thi thể, hài cốt, tro cốt (nếu có) nộp cho tổ chức kiểm dịch y tế biên giới;
c) Giấy khai báo y tế mẫu vi sinh y học, sản phẩm sinh học, mô, bộ phận cơ thể người (nếu có) nộp cho tổ chức kiểm dịch y tế biên giới.
Người làm thủ tục phải xuất trình các chứng từ bản giấy (bản chính) sau cho các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng hàng không:
d) Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế và thị thực của hành khách; Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế và thị thực của tổ bay xuất trình cho Công an cửa khẩu;
đ) Phiếu tiêm chủng quốc tế của tổ bay, hành khách (trong trường hợp xuất phát hoặc đi qua vùng có dịch hoặc bị nghi ngờ mắc bệnh hoặc tác nhân gây bệnh truyền nhiễm) xuất trình cho tổ chức kiểm dịch y tế biên giới.
Chế tài xử lý với hành vi bạo lực gia đìnhCâu hỏi:
Tôi 25 tuổi, đã kết hôn được 3 năm và có thai 4 tháng nhưng tôi thường xuyên bị chồng nhậu say về rồi đánh đập vô cớ. Cách đây khoảng một tháng, sau khi nhậu say về anh ta lại giở thói vũ phu, đánh tôi khiến tôi bị sảy thai và gãy một bên chân phải nằm viện nửa tháng. Hiện tại tôi đang làm thủ tục ly hôn, tình nghĩa không còn, xin hỏi luật sư tôi có thể yêu cầu chồng tôi phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cũng như tinh thần do bị chồng đánh hay không? Tôi xin cảm ơn.

Hình ảnh minh họa
Luật sư tư vấn:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến Công ty Luật Minh Bạch. Với những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn như sau:
Khi đánh đập gây tổn hại sức khỏe của chị là chồng chị đã có hành vi bạo lực gia đình theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình và bị nghiêm cấm tại điều 8 của Luật này.
Căn cứ vào Nghị định số 110/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình thì hành vi của chồng chị có thể bị xử phạt từ 1.000.000đ – 2.000.000đ. Chị có thể làm đơn tố cáo và yêu cầu xử lý chồng chị đến trưởng công an xã hoặc chủ tịch UBND xã nơi chị sinh sống.
Còn việc anh ta đánh đập khiến chị phải nằm viện điều trị dài ngày, theo khoản 4, điều 4 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình thì anh ta phải có trách nhiệm bồi thường cho chị. Chị có thể yêu cầu việc bồi thường ngay tại công an xã hoặc UBND xã. Nếu anh ta không có trách nhiệm và thoái thác, chị nên thu thập các hóa đơn viện phí để khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại tại tòa án nhân dân huyện, pháp luật sẽ có biện pháp chế tài buộc anh ta phải bồi thường cho chị.
Trân trọng!
Gây tai nạn xong bỏ chạy sẽ bị xử phạt như thế nào?Vào ngày 2/12 vừa qua trên mạng có đăng tải 1 đoạn clip ghi lại hình ảnh lái xe ô tô Mazda CX-5 mang biển số 30A-544.56 sau khi đâm phải người đi xe máy đã bỏ chạy, để mặc người bị nạn nằm trên đường.Lãnh đạo đội CSGT số 6 (Công an TP. Hà Nội) xác nhận có thông tin trên và cho biết, hiện công an quận Nam Từ Liêm đang điều tra vụ việc.Hiện tại, ủy ban đang phối hợp với cơ quan chức năng làm rõ danh tính lái xe gây tai nạn bỏ chạy, xử lý nghiêm.
Qua sự việc nêu trên đối với tài xế lái xe Mazda CX-5 gây tai nạn giao thông xong rồi bỏ chạy, không dừng lại giúp đỡ người bị nạn.

Chiếc xe Mazda Cx-5 lạng lách gây tai nạn cho người đi đường và bỏ chạy khỏi hiện trường
Xét về góc độ hành chính : Đối hành vi trên thì theo quy định tại Điểm b, khoản 7, Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt :
“Điều 5. Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ
- Phạt tiền 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;”
Đối với tài xế điều khiển chiếc xe nêu nêu trên sẽ bị phạt hành chính từ 5 triệu đồng đến 6 triệu đồng đối với hành vi vi phạm của mình.
Ngoài bị xử phạt hành chính, xét về góc độ hình sự : Việc gây tai nạn rồi bỏ trốn còn là một tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự nếu vụ tai nạn đó có dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông. Cụ thể, Điều 202 BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
Theo điểm c, Khoản 2 của điều này nếu người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn thì sẽ phat tù từ 3 năm đến 10 năm tùy vào mức độ vi phạm mà người điều khiển phương tiện giao thông.
Theo NQ số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17.4.2003 thì: “4. Về các tình tiết “gây thiệt hại nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự như sau:
4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:
- Làm chết một người;
- Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
- Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỉ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;
- Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
Xét theo quy định tại Nghị quyết trên còn phụ thuộc vào mức độ tổn hại đến sức khỏe của người bị nạn để có thể khẳng định được hành vi của tài xế đã đủ điều kiện cấu thành tội phạm, nếu đủ điều kiện thì sẽ bị khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 202 BLHS, còn nếu không thì thuộc trường hợp xử phạt hành chính
Căn cứ nào để toà giảm án sâu dưới khung cho ông Trịnh Văn Quyết?
Mức án 7 năm tù dành cho ông Trịnh Văn Quyết trong phiên tòa phúc thẩm mới đây gây chú ý không chỉ vì sự chênh lệch lớn so với bản án sơ thẩm, mà còn vì mức hình phạt này thấp hơn cả khung hình phạt truy tố. Liệu có cơ sở pháp lý nào cho việc “giảm án sâu” như vậy?
Theo Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch, việc tòa án tuyên hình phạt thấp hơn khung áp dụng không phải là ngoại lệ, mà được quy định rõ trong Điều 54 Bộ luật Hình sự. Khi bị cáo có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51, tòa án hoàn toàn có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng phải nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.
Tìm hiểu thêm tại đây.
Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng
Bài viết cùng chủ đề
Mẫu đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự mới nhất 2018 Mẫu số 01-VDS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng
Điều 210 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về sở hữu chung hợp nhấtĐiều 210. Sở hữu chung hợp nhất 1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó,
Xin giấy phép lao động trong trường hợp di chuyển nội bộ doanh nghiệp Câu hỏi : Xin chào luật sư ! công ty em cần làm giấy phép lao động cho Đài loan
Các hình thức ưu đãi dành cho tri thức Người Việt Nam ở nước ngoài trở về công tác trong nước. Theo Nghị định 87/2014/ NĐ-CP quy định về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là
Các trường hợp không thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT Ngày 28/10/2016, Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành Công văn 4262/BHXH-CSYT giải quyết vướng mắc trong thanh toán
Cha mẹ có thể bị phạt vì giữ tiền lì xì của con: Điều gì đang xảy ra? Lì xì là phong tục đẹp ngày Tết, mang ý nghĩa chúc phúc và gắn kết gia đình, nhưng đang
Nghị định 70/2023/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2023 Ngày 18 tháng 9 năm 2023 Chính phủ ban hành Nghị định Số: 70/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số
Điều 42 Bộ luật dân sự 2015 Chi tiết điều 42, Bộ luật dân sự 2015 như sau: Điều 42 : Nơi cư trú của người được
Quyền của chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty TNHH MTV là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu và
Người chịu trách nhiệm trong vụ cháy chung cư tại Khương Đình ?Vụ cháy chung cư mini tại phố Khương Hạ, Hà Nội, đã gây chấn động với hơn 30 người tử
Ủng Hộ Đồng Bào Vùng Lũ: Từ Thiện Minh Bạch, Tránh Lợi Dụng”Lợi dụng danh nghĩa từ thiện để “trục lợi” là vấn đề gây bức xúc trong dư luận, đặt trong
Không thu hồi thẻ bảo hiểm y tế khi người lao động nghỉ việc Đây là nội dung nổi bật được đề cập tại Công văn 2533/BHXH-QLT ngày 18/10/2016 của Bảo hiểm Xã hội
Bài viết mới nhất
Gây tai nạn xong bỏ chạy sẽ bị xử phạt như thế nào? Luật đầu tư năm 2020Luật Đầu tư 2020 là một trong những luật quan trọng của Việt Nam về hoạt động kinh doanh, đầu tư của các nhà đầu tư. Được Quốc hội thông qua vào ngày 17 tháng 6 năm 2020, Luật này chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021. Mục tiêu của Luật Đầu tư năm 2020 là tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, đồng thời tăng cường quản lý, đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong hoạt động đầu tư. (xem thêm…)
Thủ tục đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhânCơ quan thực hiện : Sở tư pháp
Yêu cầu :
Những người sau đây không được đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân:
– Không đủ điều kiện quy định tại Điều 12 của Luật phá sản gồm:
+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
+ Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan;
+ Có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
– Thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 14 của Luật Phá sản gồm:
+ Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.
+ Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
+ Người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
– Người đang bị cấm hành nghề quản lý, thanh lý tài sản theo bản án hay quyết định của Tòa án đã có hiệu lực.
Cách thức thực hiện :
Người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân gửi hồ sơ qua đường bưu điện hoặc trực tiếp đến Sở Tư pháp và nộp lệ phí đăng ký hành nghề theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Tư pháp thì xuất trình bản chính chứng chỉ hành nghề Quản tài viên để đối chiếu.
Trường hợp người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến Sở Tư pháp khi có yêu cầu thì xuất trình bản chính chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
Thành phần hồ sơ :
– Giấy đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân.
– Bản chụp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
Trong trường hợp cần thiết, người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân nộp Phiếu lý lịch tư pháp theo yêu cầu của Sở Tư pháp.
Thời hạn giải quyết :
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp quyết định ghi tên người đề nghị đăng ký vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản và thông báo bằng văn bản cho người đó; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do bằng văn bản. Người bị từ chối có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định ghi tên người đề nghị đăng ký vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, Sở Tư pháp gửi danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản cho Bộ Tư pháp.
Thủ tục đăng ký nhãn hiệuThủ tục đăng ký nhãn hiệu là dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu với nhiều tên gọi khác như đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, đăng ký nhãn hiệu độc quyền, đăng ký thương hiệu hay bảo hộ thương hiệu…
Nhãn hiệu đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp khách hàng nhận biết và phân biệt hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác cùng ngành. Với sự canh trành có thể nói là khốc liệt hiện nay việc cạnh tranh không lành mạnh có thể diễn ra bất cứ khi nào, bất cứ thời điểm nào. Nhãn hiệu có thể bị xâm phạm bởi các hành vi trái pháp luật , tác động xấu đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy nhãn hiệu là một sản phẩm trí tuệ cần được bảo vệ và căn cứ để được bảo vệ là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Vậy, để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu doanh nghiệp cần phải làm gì? Luật Minh Bạch với đội ngũ luật sư nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ sẽ trợ giúp quý doanh nghiệp trong quá trình đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ, cụ thể như sau:
Các điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ:
-
Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
-
Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.
Yếu tố phân biệt trong nhãn hiệu là căn cứ để người tiêu dùng phân biệt sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp này với sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp khác. Việc các nhãn hiệu tương tự nhau, rất dễ gây nhầm lẫn với nhau nên Pháp luật sở hữu trí tuệ quy định khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ không được cấp Giấy chứng nhận ngay mà phải trải qua quá trình thẩm định hình thức, thẩm định nội dung (thông thương mất 12 đến 16 tháng) khi đáp ứng điều kiện mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.
Do đó, chúng tôi thường khuyến khích khách hàng trước khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, người nộp đơn cần tra cứu nhãn hiệu sơ bộ và tra cứu nhãn hiệu chuyên sâu để xem xét khả năng đăng ký nhãn hiệu tránh trường hợp nhãn hiệu bị trùng hoặc dễ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu khác.
Quy trình thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam
- Nộp hồ sơ và nhẫn mã đơn đăng ký nhãn hiệu: 01 ngày
- Thẩm định hình thức từ 01 – 02 tháng kể từ ngày nộp đơn đăng ký nhãn hiệu
- Công bố đơn trên công báo của Cục Sở Hữu Trí Tuệ: 02 tháng
- Thẩm định nội dung: 09 – 12 tháng
- Cấp và công bố Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (01-02 tháng)
Tuy nhiên thời gian có thể nhanh hoặc chậm hơn tuỳ thuộc vào số lượng đơn nộp vào Cục tại thời điểm xét nghiệm.
Dịch vụ đăng ký nhãn hiệu của Luật Minh Bạch
- Tư vấn pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng liên quan đến việc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
- Tư vấn tra cứu nhãn hiệu và đánh giá khả năng cấp văn Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu;
- Tư vấn giải pháp và phương hướng điều chỉnh lại nhãn hiệu dự định đăng ký để gia tăng khả năng nhãn hiệu đăng ký được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu;
- Tư vấn hồ sơ, thủ tục đăng ký nhãn hiệu;
- Đại diện theo ủy quyền cho khách hàng tiến hành thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Cục sở hữu trí tuệ.
- Chuẩn bị Đơn đăng ký nhãn hiệu, nộp đơn
- Theo dõi tiến trình của Đơn và thường xuyên cập nhật tình trạng cho đến khi có kết luận cuối cùng của Cục sở hữu trí tuệ về việc đăng ký nhãn hiệu.
Hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký nhãn hiệu:
- Tờ khai đăng ký nhãn hiệu;
- Tài liệu, mẫu vật, thông tin hoặc mẫu nhãn dự định đăng ký;
- Danh mục sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp dự định sử dụng nhãn hiệu;
- Tên và địa chỉ của chủ đơn đăng ký (nếu chủ đơn đăng ký là Công ty thì tên công ty và địa chỉ phải trùng với tên và địa chỉ trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh);
- Chứng từ đã nộp phí, lệ phí.
Trên đây là tư vấn về thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác xin vui lòng liên hệ với Luật Minh Bạch – Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài gọi số: 1900 6232 để được giải đáp hoặc liên hệ dịch vụ: 0987 892 333
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn Luật – Công ty Luật Minh Bạch
Đề xuất thu phí khai thác dữ liệu dân cư nếu được triển khai có thể là một sai lầm không thể khắc phục“Đề xuất thu phí khai thác dữ liệu dân cư, hay nói cách khác là “bán” dữ liệu dân cư nếu được triển khai trên thực tế, theo tôi sẽ là một sai lầm không thể khắc phục được” – Luật sư Trần Tuấn Anh, Công ty Luật hợp danh Minh Bạch.
Mỗi con người từ khi sinh ra đến lúc chết đi, có 2 thứ quyền gắn bó suốt cuộc đời, đó là “quyền nhân thân” và “quyền tài sản”.
Trong đó, quyền nhân thân tức là những gì gắn bó với chính con người họ, chỉ duy nhất họ mới có quyền thực hiện hoặc thay đổi thông qua bộ máy quản lý hành chính nhà nước, ví như quyền đối với họ tên, giới tính, quyền kết hôn, ly hôn, nuôi con…
Quyền này nằm trong giới hạn “quyền con người” mà pháp luật đã trao cho mỗi cá nhân và là bất khả xâm phạm. Mọi hành vi sử dụng, khai thác không được sự đồng ý của cá nhân, công dân đều là hành vi xâm phạm quyền nhân thân và bị pháp luật nghiêm cấm.
Điều 21 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình” và “Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”.
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 cũng đã dành riêng một mục 2, với 15 Điều luật riêng biệt để quy định về quyền này của công dân.
Ở đó khẳng định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác” (khoản 1, Điều 25) và “1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ; 2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác” (khoản 1, 2 Điều 38).
Như vậy, có thể khẳng định, trong trường hợp cá nhân không đồng ý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng, công khai thông tin liên quan đến “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân” thì cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được quyền thực hiện. Hành vi sử dụng, công khai thông tin cá nhân của người khác trong trường hợp này là hành vi vi phạm pháp luật.
Cũng cần nói thêm rằng, các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tư pháp (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án) hay một số các cơ quan nhà nước khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ có thể “khai thác” thông tin cá nhân của công dân để phục vụ mục đích quản lý hoặc xử lý vi phạm pháp luật của công dân theo đúng phạm vi quy định tại Điều 8 Nghị định 137/2015/NĐ-CP, cũng như Luật Căn cước Công dân năm 2014.
Việc được “khai thác” trong phạm vi thẩm quyền không đồng nghĩa với đề xuất của UBND TP. Hà Nội được đem các thông tin này đi “bán” (dưới cái tên là “thu giá dịch vụ”) cho các tổ chức kinh tế như đề xuất của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội.
Thông tin cá nhân, bí mật đời tư cá nhân thuộc về từng người. Quyền cho hay không do từng cá nhân quyết định, làm gì có giá nào đưa ra để “thu giá” hay “thu phí”, lại càng không phải là hàng hóa để có thể đem “bán”!
Qua đề xuất trên, có cảm giác rằng ở Việt Nam chúng ta chưa coi trọng và dành sự tôn trọng đúng mức đối với dữ liệu cá nhân của mỗi công dân.
Trong thời đại số hiện nay, chỉ cần lộ ra bất kỳ một thông tin cá nhân nào thì đều có thể là cơ sở để các đối tượng xấu lợi dụng, xâm nhập, đánh cắp và sử dụng vào mục đích trái pháp luật. Trong trường hợp dữ liệu công dân bị đánh cắp hoặc sử dụng vào mục đích trái pháp luật thì sẽ xảy ra những hậu quả khôn lường.
Tôi cũng như nhiều người khác đã nhiều lần đặt câu hỏi: Tại sao sau khi đăng ký doanh nghiệp, hàng loạt đơn vị gọi điện đến “Giám đốc” trong giấy đăng ký kinh doanh để mời chào, kết nối làm ăn hay thu thuế, phí? Tại sao khi vừa xuống sân bay, đã có ngay tin nhắn của một hãng taxi gửi đến để quảng bá dịch vụ? Tại sao sau khi đến một đơn vị của ngành tài nguyên môi trường làm việc, ngay sau đó đã nhận được hàng loạt tin nhắn mời chào mua bán bất động sản? Người gọi điện nắm rõ họ tên, thu nhập cũng như nghề nghiệp của tôi. Họ đã làm cách nào?
Chúng ta có thể nhìn vào những sự việc còn chưa hết tính thời sự để có kinh nghiệm cho mình trong lĩnh vực bảo mật thông tin cá nhân của công dân, ví dụ: gần như toàn bộ thông tin cá nhân của người dân Malaysia đã bị đánh cắp cuối năm 2017, hay sự việc nhà sáng lập ứng dụng mạng xã hội Facebook bị điều trần liên tục tại Châu Âu và Mỹ liên quan đến việc để lộ thông tin cá nhân người sử dụng.
Vì thế, đề xuất thu phí khai thác dữ liệu dân cư, hay nói cách khác là “bán” dữ liệu dân cư, nếu được triển khai trên thực tế, theo tôi sẽ là một sai lầm không thể khắc phục được.
Luật sư Trần Tuấn Anh
____________________________________________________________________________________________
Công ty Luật Minh Bạch
Phòng 703, số 272 Khương Đình, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Hotline: 1900.6232
Email: [email protected]
Trân trọng!
Thủ tục Cấp Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp (quy mô dưới 3 triệu lít/năm)Thủ tục Cấp giấy phép sản xuất rượu công nghiệp (quy mô dưới 3 triệu lít/năm)
Căn cứ pháp lý:
- Nghị định 105/2017/NĐ-CP
Điều kiện để được cấp giấy phép sản xuất rượu công nghiệp (quy mô dưới 3 triệu lít/năm)
+ Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật. + Có dây chuyền máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất rượu đáp ứng quy mô dự kiến sản xuất. + Bảo đảm các điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định. + Bảo đảm các điều kiện về bảo vệ môi trường theo quy định. + Đáp ứng các quy định về ghi nhãn hàng hóa rượu. + Có cán bộ kỹ thuật có trình độ, chuyên môn phù hợp với ngành, nghề sản xuất rượu.Hồ sơ xin cấp giấy phép sản xuất rượu
+ Đơn đề nghị cấp Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp.
+ Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương.
+ Bản sao Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm (đối với rượu chưa có quy chuẩn kỹ thuật); bản sao Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.
+ Bản sao Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc giấy xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường do cơ quan có thẩm quyền cấp.
+ Bản liệt kê tên hàng hóa rượu kèm theo bản sao nhãn hàng hóa rượu mà doanh nghiệp sản xuất hoặc dự kiến sản xuất.
+ Bản sao bằng cấp, giấy chứng nhận chuyên môn và quyết định tuyển dụng hoặc hợp đồng lao động của cán bộ kỹ thuật.
Thời gian thực hiện:
15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Doanh nghiệp không có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động bị xử phạt như thế nào?Thời gian qua, rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động (DN XKLĐ) có những sai phạm, điển hình là thu phí của người lao động (NLĐ) quá cao; DN không có giấy phép hoặc hết phép XKLĐ vẫn hoạt động.
Gần đây nhất sự việc Công ty Cổ phần xây dựng, Cung ứng nhân lực & xuất nhập khẩu Thiên Ân (gọi tắt chi nhánh Công ty XKLĐ Tamax) tuyển người lao động đi Rumani trái phép khiến nhiều người lao động bức xúc bởi họ đã bị Tamax đánh lừa khi mời chào họ một cách chắc chắn, đủ cơ sở pháp lý…
Được biết, Công ty XKLĐ Tamax đã được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài từ ngày 10/04/2014. Tuy nhiên, Công ty Tamax chưa được Cục cấp phép xuất khẩu người lao động sang Rumani.
Vậy công ty XKLĐ Tamax đã vi phạm quy định nào của pháp luật và chế tài xử lý ra sao?
Theo quy định của Luật người lao động VN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, chỉ các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, có hợp đồng cung ứng lao động cho đối tác nước ngoài đã được Bộ LĐ-TB&XH chấp thuận thì mới được phép tuyển chọn lao động đi làm việc ở nước ngoài, và các doanh nghiệp này phải trực tiếp tuyển chọn lao động, không được ủy quyền hoặc hợp tác với các doanh nghiệp không có chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tuyển chọn lao động.
Do vậy công ty XKLĐ Tamax mặc dù đã được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài từ ngày 10/04/2014, công ty không có hợp đồng cung ứng lao động cho Rumani chưa được cục chấp thuận cho phép tuyển chọn lao động đi làm việc ở Rumani nhưng công ty vẫn tiến hành thông báo tuyển dụng lao động đi làm việc ở Rumani, tư vấn, thu tiền của người lao động . Việc làm này là trái với quy địnhc ủa pháp luật.
Theo quy định tại Điểm b, khoản 1, Điều 4, Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì công ty XKLĐ Tamax sẽ bị xử phạt hành chính.
“b) Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm mà không có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm hết hạn.”
Như vậy công ty Tamax không có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cục QLLĐNN cấp nên sẽ bị xử phạt từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng
Ngoài ra tại điều 5 của nghị định này quy định biện pháp khắc phục hậu quả của việc giao kết hợp đồng trái pháp luật của người sử dụng lao động đối với người lao động, buộc trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định trên
Tiếp đó nữa, theo quy định của pháp luật, công ty được cấp phép XKLĐ đi nước ngoài không được thu bất cứ một khoản phí nào khi người lao động đến tuyển dụng, nhưng trên thực tế theo những người lao động đến thi tuyển tạo công ty này cho biết họ phải đóng 200 nghìn đồng/1 người cho Tamax. Theo quy định tại Điểm a, khoản 2, Điều 4a Nghị định 88/2015 NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì công ty sẽ bị xử phạt hành chính, phạt tiền từ 1.000.000. đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi “Thu tiền của người lao động tham gia tuyển lao động”
Ngoài biện phái xử lý hành chính và khắc phục hậu quả trên thì công ty XKLĐ Tamax có thể sẽ bị Bộ Lao động – Thương binh và xã hội tạm dừng hoặc rút giấy phép hoạt động dịch vụ của Doanh nghiệp
Điều kiện đề nghị xét đặc xá trong trường hợp đặc biệtTANDTC vừa ban hành Hướng dẫn 330/TANDTC-V1 về xét, đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt cho người bị kết án đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Theo đó, người bị kết án đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thuộc 01 trong các trường hợp đặc biệt được đề nghị xét đặc xá phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:
+ Có nơi cư trú rõ ràng (có giấy xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú hoặc đơn vị quân đội nơi quản lý người bị kết án).
+ Chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú hoặc cơ quan, đơn vị nơi quản lý.
+ Đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung như phạt tiền, tiền bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, án phí và các nghĩa vụ dân sự khác.
+ Tính đến ngày 30/11/2016, Quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của Tòa án vẫn đang còn hiệu lực thi hành đối với người bị kết án.
video tư vấn
dịch vụ tiêu biểu
- Luật sư chất lượng cao
- Tư vấn thường xuyên
- Tư vấn hợp đồng
- Tư vấn lập dự án đầu tư
- Tư vấn doanh nghiệp
- Tư vấn luật đất đai
- Tư vấn luật hình sự
- Tư vấn luật dân sự, gia đình
- Tư vấn luật lao động
- Tư vấn luật sở hữu trí tuệ
- Tư vấn pháp luật thuế
- Tư vấn pháp luật hành chính
Bài viết xem nhiều
Hướng dẫn mới về thuế suất thuế nhập khẩu
Tháng 9 14, 2016Áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Bổ sung án Tham nhũng vào việc Thi hành án trọng điểm.
Tháng 4 10, 2025Quyết định 907/QĐ-TCTHADS của Tổng cục Thi hành án (THA) dân sự quy định về tiêu chí xác
Vụ nữ sinh lộ hình ảnh nhạy cảm ở tiệm chụp ảnh: ‘Chủ tiệm phải chịu trách nhiệm’
Tháng mười một 6, 2025Liên quan đến vụ nữ sinh bị phát tán hình ảnh nhạy cảm tại tiệm chụp ảnh ở
Một buổi sáng, 2 bệnh nhân chết tại bệnh viện Trí Đức: Ai phải chịu trách nhiệm?
Tháng 1 10, 2017Sở Y tế TP Hà Nội vừa có báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện đa
Xuất hiện ‘kẽ hở’ trong chuyển nhượng ô tô kèm biển số trúng đấu giá?
Tháng 9 4, 2024Hiện nay, dư luận đang quan tâm đến việc một số người tham gia đấu giá biển số
Bãi bỏ tử hình đối với các tội tham ô tài sản và nhận hối lộ
Tháng 6 25, 2025Ngày 25/6, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nguy cơ mất an toàn thông tin khi sử dụng wifi
Tháng 10 23, 2017Ngày 16/10/2017, Cục An toàn thông tin (ATTT) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Công
Cần tước quyền cha, mẹ những người ‘ác hơn hổ dữ’
Tháng mười một 16, 2024Vấn đề xâm hại và bạo hành trẻ em, một vấn đề đáng báo động và gây phẫn
dịch vụ nổi bật
Cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm Cơ quan thực hiện :Sở Y tế Yêu cầu : Điều kiện chung để xác nhận nội dung quảng cáo
Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và cách giải quyết Câu hỏi: Công ty muốn phát triển kinh doanh theo hướng mới nên có nhu cầu chấm dứt hợp đồng
Mẫu công văn đề nghị cung cấp thông tin doanh nghiệp Mẫu tham khảo: TÊN DOANH NGHIỆP _______________ Số: /…….. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập
Vô ý làm cháy dây điện của xóm chịu mức xử phạt ra sao? Chị Cúc có câu hỏi gửi đến Luật Minh Bạch với nội dung như sau: Mẹ tôi đốt rác bên
Thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài 1.Hồ sơ: (1) Giấy tờ phải xuất trình – Hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước
Tổng đài luật sư miễn phí Tổng Đài Luật Sư Miễn Phí 24/7 – Giải Pháp Pháp Lý Nhanh Chóng Từ Luật Minh Bạch Bạn đang
Thủ tục đăng ký lưu hành sản phẩm trang thiết bị y tế Theo thông tư 07/2002/TT-BYT hướng dẫn đăng ký lưu hành sản phẩm trang thiết bị y tế và nghị định
Thủ tục đăng ký tham gia BHXH lần đầu Căn cứ Điều 21 Mục 1 Chương III Quyết định 959/QĐ-BHXH ngày 9/9/2015 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam,
DOANH NGHIỆP
- Thành lập Công ty
- Thành lập Công ty cổ phần
- Thành lập Doanh nghiệp
- Thành lập Công ty giá rẻ
- Thành lập Công ty TNHH
- Dịch vụ thành lập công ty
SỞ HỮU TRÍ TUỆ
- Đăng ký logo
- Đăng ký nhãn hiệu
- Đăng ký sáng chế
- Đăng ký thương hiệu
- Đăng ký bản quyền
- Đăng ký kiểu dáng công nghệ
GIẤY PHÉP
- Thành lập Công ty
- Thành lập Công ty cổ phần
- Thành lập Doanh nghiệp
- Thành lập Công ty giá rẻ
- Thành lập Công ty TNHH
- Dịch vụ thành lập công ty
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
- Thành lập Công ty
- Thành lập Công ty cổ phần
- Thành lập Doanh nghiệp
- Thành lập Công ty giá rẻ
- Thành lập Công ty TNHH
- Dịch vụ thành lập công ty
CÔNG TY LUẬT MINH BẠCH P703, tầng 7, số 272 Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội 0243 999 0601 [email protected] www.luatminhbach.vn Chính sách - Chính sách bảo mật
- Quy định sử dụng dịch vụ
- Điều khoản chung
- Hướng dẫn thanh toán
- Gọi điện thoại luật sư tư vấn
- Đặt câu hỏi cho luật sư
- Báo giá vụ việc cần tư vấn
- Đặt lịch hẹn tư vấn trực tiếp
0243 999 0601
© Copyright 2022 by Luatminhbach. Allright Reserved Contact UsTừ khóa » điều 68 Bộ Luật Dân Sự 2015
-
Bộ Luật Dân Sự 2015 Số 91/2015/QH13 - Thư Viện Pháp Luật
-
Bộ Luật Dân Sự Năm 2015, Số 91/2015/QH13 - LuatVietnam
-
Điều Kiện để Tuyên Bố Một Người đã Mất Tích Hay đã Chết - Hànộimới
-
CSDLVBQPPL Bộ Tư Pháp - Dân Sự
-
Khoản 3 Điều 68 Bộ Luật Dân Sự 2015
-
Điều 68 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2015
-
Tuyên Bố Mất Tích Là Gì? Tuyên Bố Mất Tích Theo Bộ Luật Dân Sự?
-
Việc Yêu Cầu Ly Hôn Với Người Mất Tích - Tạp Chí Tòa án
-
Tìm Hiểu Tuyên Bố Mất Tích Luật Dân Sự 2015 - DHLaw
-
Về Việc Xác định Ngày Chết Của Người Bị Tuyên Bố Là đã Chết Theo ...
-
Tuyên Bố Mất Tích Và Tuyên Bố Chết Theo Quy định Của Pháp Luật
-
Tìm Hiểu Luật Dân Sự 2015 (Phần 2) .CÔNG AN TRA VINH
-
[PDF] BỘ LUẬT DÂN SỰ - Ban Dân Tộc
-
Hôn Nhân Và Gia đình - Https//:pbgdpl..vn