- PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
- Tìm Hiểu Pháp Luật
Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự 04/03/2022 Lượt xem: 4825 Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự Khi công dân bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của mình có thể thực hiện khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án. Vậy cần đáp ứng điều kiện gì khi muốn khởi kiện một vụ án dân sự? 1. Về chủ thể khởi kiện: Theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân được quy định tại Điều 187 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, cụ thể: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình; tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật; Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật; cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, theo Điều 69 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 chủ thể khởi kiện phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự; chủ thể khởi kiện là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác; chủ thể dưới 18 tuổi hoặc không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự phải có người đại diện theo pháp luật hoặc theo quyết định của Tòa án khi tham gia tố tụng. 2. Vụ án khởi kiện phải thuộc thẩm quyền của Tòa án, thẩm quyền của Tòa án trong vụ án dân sự chia thành 3 loại: Thẩm quyền theo loại vụ việc là những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 26, 28, 30, 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện; thẩm quyền theo cấp của Tòa án được quy định cụ thể tại các Điều 35, 36, 37, 38 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và chia theo 4 cấp: Tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh; thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án được quy định cụ thể tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. 3. Thời hiệu khởi kiện, theo Điều 154, 155 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự quy định như sau: Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây: Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp có quy định khác; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai; trường hợp khác do luật quy định. 4. Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Chủ thể khởi kiện được quyền khởi kiện nếu vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện trong, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn đối với: Yêu cầu ly hôn; yêu cầu thay đổi nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại; yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản; vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ. Đối với những trường hợp trên mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại./. Hải Lam Tường Chia sẻ Tin khác - Ban Thanh tra nhân dân được hỗ trợ kinh phí để thực hiện dân chủ ở cơ sở 07/03/2025 (391 Lượt xem )
- Sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 07/02/2025 (1073 Lượt xem )
- Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội 06/02/2025 (682 Lượt xem )
- Quy định về mức hưởng bảo hiểm y tế mới, kể từ ngày 01/01/2025 05/02/2025 (955 Lượt xem )
- Sửa đổi quy định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện 06/01/2025 (821 Lượt xem )
- Quy định mới về tạm giữ phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ 06/01/2025 (1276 Lượt xem )
- Quy định mới về đấu giá biển số xe 06/01/2025 (1225 Lượt xem )
- Tiêu chuẩn mới về sức khỏe, khám sức khỏe đối với nghề lái xe 04/12/2024 (801 Lượt xem )
- Tăng mức trợ cấp hằng tháng với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc 04/12/2024 (786 Lượt xem )
- Chính phủ quy định nội dung mới về đăng ký, quản lý cư trú 04/12/2024 (1612 Lượt xem )
|