Điều Trị U Nguyên Bào Tủy Trẻ Em Tại Bệnh Viện Trung ương Quân đội ...

Video

Xem thêm tin
Những giọt máu hồng hồi sinh sự sống

Những giọt máu hồng hồi sinh sự sống

15/01/2026 Trong bối cảnh nguồn máu dự trữ khan hiếm, Bệnh viện TWQĐ 108 kêu gọi hiến máu cứu người, chỉ trong vòng chưa đầy một ngày, Trường Cao đẳng Hậu cần 1, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật đã nhanh chóng phát động cán bộ, công nhân viên, học viên, sinh viên tham gia hiến máu tình nguyện. Những chương trình hiến máu như vậy thường phải được lên kế hoạch trước nhiều tháng hoặc thậm chí từ đầu năm, nhưng khi bệnh nhân và đồng đội cần máu, nhiều đơn vị đã phản ứng nhanh, sẵn sàng trở thành ngân hàng máu sống cung cấp máu ngay lập tức. Chi tiết
Hồi sinh 5 cuộc đời từ nghĩa cử cao đẹp của một nhân viên y tế

Hồi sinh 5 cuộc đời từ nghĩa cử cao đẹp của một nhân viên y tế

14/01/2026 Ngày 12/1/2026, Bệnh viện TWQĐ 108 đã thực hiện ca lấy, ghép đa tạng từ người hiến chết não là một nữ nhân viên y tế. Nghĩa cử cao đẹp của người hiến và gia đình người hiến đã hồi sinh 5 cuộc đời, mở ra mùa xuân mới cho bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo. Kính mời quý vị cùng xem bản tin phát sóng kênh QPVN! Chi tiết
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 - Trung tâm ứng dụng, phát triển và chuyển giao kỹ thuật ghép tạng

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 - Trung tâm ứng dụng, phát triển và chuyển giao kỹ thuật ghép tạng

05/01/2026 Chi tiết
Câu chuyện nhân sinh từ hành trình hiến - ghép tạng

Câu chuyện nhân sinh từ hành trình hiến - ghép tạng

11/12/2025 Chi tiết Trang chủ | Khoa Xạ trị - Xạ phẫu (A6-C) | Thông tin y học (A6-C) Điều trị u nguyên bào tủy trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 05:04 PM 05/10/2016 Giới thiệu chung U não xuất hiện ở 2,5-4 trên 100.000 trẻ em có nguy cơ mỗi năm, trong đó khoảng 18% là u nguyên bào tủy. U nguyên bào tủy (Medulloblastoma, xem H.1) là khối u ác tính và phổ biến ở trẻ em, chiếm khoảng 10-20% các khối u nguyên phát ở hệ thần kinh trung ương và khoảng 40% trong số các khối u ở hố sọ sau. 

Hình 1. Khối u nguyên bào tủy trên hình ảnh cộng hưởng từ. Đây là loại ung thư biểu mô thần kinh thể phôi có khả năng xâm lấn mạnh và có khuynh hướng phát tán tế bào ung thư vào trong toàn bộ hệ thần kinh trung ương rất sớm. Phẫu thuật, xạ trị toàn não tủy và điều trị hóa chất có thể giúp cho hơn 50% bệnh nhi u nguyên bào tủy không bệnh sau 5 năm. Với các phương thức điều trị hiện nay, có thể chữa khỏi khoảng 80-90% bệnh nhân bị bệnh này nếu chưa có tế bào ung thư phát tán. Tuy nhiên, sau điều trị, các bệnh nhân thường có những vấn đề về nội tiết và trí tuệ. Triệu chứng: Mặc dù có 70-90% bệnh nhân u nguyên bào tủy có biểu hiện đau đầu, nôn hoặc ý thức lơ mơ, nhưng những triệu chứng này thường không liên tục và thoảng qua. Thông thường khoảng thời gian xuất hiện các triệu chứng này nhiều hơn 3 tháng mới được chẩn đoán mắc bệnh.

Hình 2. Hiện tượng não úng thủy ở trẻ em Nặng nề hơn, khối u có thể chèn ép ngăn trở lưu thông dịch não tủy, gây ra não úng thủy (H.2). Tăng áp lực nội sọ (ICP: Increased intracranial pressure) Các triệu chứng sớm mờ nhạt hơn so với các triệu chứng do tăng áp lực nội sọ: đau đầu vào buổi sáng, nôn, ý thức lơ mơ. Đau đầu sẽ giảm dần trong ngày sau khi nôn. Trẻ em ở độ tuổi đi học có thể nói ra được các triệu chứng như đau đầu thoáng qua và mệt mỏi. Ngoài ra những trẻ em này có thể biểu hiện suy giảm nhanh sức học và thay đổi thói quen sinh hoạt cá nhân. Trẻ em ở độ tuổi thấp hơn (nhũ nhi) thường có biểu hiện cáu kỉnh, biếng ăn, chậm phát triển. Các khối u tăng kích thước và xâm lấn vào các mô não xung quanh sẽ gây nên nhiều triệu chứng đặc trưng hơn như dáng đi không bình thường, đi như người say rượu (H.3).

Hình 3. Thay đổi về dáng đi (Greenberg, Clinical Neurology, 8th Ed.) Khi khối u xâm lấn vào thân não hoặc xuất hiện hội chứng tăng áp lực nội sọ có thể gây ra triệu chứng nhìn đôi, xệ 1 bên mặt, ù tai, mất sức nghe, nghiêng đầu, cứng cổ… Bệnh nhân có thể có đau lưng hoặc yếu bại chân do di căn tủy.  Các xét nghiệm chẩn đoán Các xét nghiệm thường quy để đánh giá bao gồm đếm tế bào bạch cầu, xét nghiệm điện giải, kiểm tra chức năng gan, thận. Ngoài ra người ta cũng khuyến cáo xét nghiệm chức năng tuyến giáp và nồng độ vi-rút. Chụp CT não có và không có thuốc cản quang có độ nhạy > 95% trong việc phát hiện u não. Chụp cộng hưởng từ (CHT) sọ và tủy sống có và không có thuốc đối quang từ cần được thực hiện trên tất cả các bệnh nhân mà hình ảnh CT hoặc các xét nghiệm lâm sàng thể hiện u nguyên bào tủy. Các khối u hố sọ sau khác như astrocytoma và ependymoma có thể có biểu hiện tương tự trên CT. MRI có thể hữu ích hơn vì cho biết rõ hơn nguồn ngốc và sự xâm lấn của khối u. Ngoài ra, chụp CHT trước và sau phẫu thuật cũng cần được thực hiện để phát hiện và kiểm tra kích thước của khối u còn sót sau phẫu thuật. Chụp CHT sau phẫu thuật cần được thực hiện trong vòng 72 giờ để xác định phần khối u còn sót do những thay đổi sau phẫu thuật mà chỉ có thể quan sát rõ trên CHT ở thời điểm này. Chụp CHT cột sống là phương pháp có độ nhạy cao nhất trong việc phát hiện các di căn tủy sống. Chụp X-quang thẳng: vì u nguyên bào tủy có thể di căn ra ngoài hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là vào xương nên chụp X-quang xương có thể hữu ích với những bệnh nhân có triệu chứng liên quan.  Chọc ống sống (LP: Lumbar puncture) Xét nghiệm tế bào học dịch não tủy (CSF) rất hữu ích cho việc phát hiện sự phát tán vi thể của tế bào u leptomeningeal. Ngược lại, không được chẩn đoán là chưa có sự phát tán của bệnh vào tủy sống nếu các triệu chứng lâm sàng hoặc CSF âm tính. Có khoảng 50% bệnh nhân có CHT dương tính với bệnh lý này ở tủy sống lại không có triệu chứng lâm sàng và có xét nghiệm tế bào âm tính. Soi đáy mắt (hoặc chụp CT, CHT) cần được thực hiện trước khi chọc ống sống để loại trừ hiện tượng não úng thủy.  Trong các trường hợp đã biết u nguyên bào tủy, việc chọc ống sống thường được hoãn lại đến 2 tuần sau phẫu thuật để tránh sự có mặt của các tế bào khối u phát tán theo phẫu thuật.. Tiên lượng Phân loại mức độ nguy cơ theo tuổi, mô học và theo phân loại M của Chang. • Nhóm nguy cơ trung bình: Bệnh nhân > 3 tuổi ở giai đoạn M0 với kích thước khối u còn sót sau phẫu thuật < 1,5cm2. Tỉ lệ sống thêm sau 5 năm với nhóm này khoảng 78%.  • Nhóm nguy cơ thấp: Bệnh nhân > 3 tuổi, ở giai đoạn M1-M4 và/hoặc có kích thước khối u còn sót sau phẫu thuật > 1,5cm2. Tỉ lệ sống thêm sau 5 năm với nhóm này khoảng 30-55%. Những bệnh nhân có khối u không biệt hóa cũng được xếp vào nhóm nguy cơ thấp.  • Tất cả các bệnh nhân có khối u không ở hố sọ sau có hình thể tương tự với u nguyên bào tủy (PNET) có tiên lượng kém ngang với các bệnh nhân u nguyên bào tủy nguy cơ thấp, không liên quan đến sự phát tán của bệnh. • Nhũ nhi (

Từ khóa » Nguyên Tủy Bào Là Gì