Đình Bình Mỹ Với Sự Ra đời Thôn Bình Mỹ - Vĩnh Thông

Đình thần Bình Mỹ nằm cạnh rạch Hóa Cù, thuộc ấp Bình Trung, xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Đình là một di tích lịch sử văn hóa gắn liền với quá trình mở đất của người Việt ở Nam Bộ, đồng thời là công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao, được bồi đắp qua bao thế hệ. Năm 2000, đình Bình Mỹ được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh và năm 2015 trở thành Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Tìm hiểu về di tích nầy sẽ phần nào giúp người đời sau hiểu hơn về lịch sử hình thành và phát triển thôn Bình Mỹ.

1. Lịch sử hình thành thôn Bình Mỹ

Ngày nay, xã Bình Mỹ có diện tích rộng lớn, nằm cặp quốc lộ 91 và sông Hậu. Theo Ban Quý tế đình thần Bình Mỹ cho biết, một vị tướng của chúa Nguyễn là ông Nguyễn Duy Đức đã đến vùng đất nầy khai khẩn cuối thế kỷ XVIII. Năm 1786, thôn Long Mỹ và ngôi đình thần ra đời. Đến năm 1816, thôn Long Mỹ tách thành hai thôn Bình Long và Bình Mỹ, đình được xây dựng lại và đặt tên là đình Bình Mỹ [Bảo tàng An Giang 2013: 32].

Thông tin trên được lưu truyền qua nhiều thế hệ và được sử dụng lại trong nhiều tài liệu viết về đình và làng Bình Mỹ. Tuy nhiên, đây chỉ là câu chuyện truyền khẩu trong dân gian, chưa chính xác so với với lịch sử. Do đó, trong số các tài liệu đã từng đề cập đến thông tin nầy, không có tài liệu nào đưa ra được bằng chứng chứng minh.

Nếu căn cứ theo địa bàn tương ứng với huyện Châu Phú ngày nay, thì qua Gia Định thành thông chí công bố khoảng những năm 1820, chúng ta biết nơi đây vào đầu triều vua Gia Long chỉ có hai thôn là Bình Thạnh Tây và Bình Lâm. Hai thôn nầy thuộc huyện Vĩnh Định của trấn Vĩnh Thanh, vì huyện nầy thưa thớt nên chưa chia ra tổng [Trịnh Hoài Đức 1999: 116].

Đến triều vua Minh Mạng, qua Địa bạ tỉnh An Giang năm 1836, chúng ta được biết thôn Bình Lâm giữ nguyên, thôn Bình Thạnh Tây trở thành Vĩnh Thạnh Trung, bên cạnh đó có thêm hai thôn mới là Mỹ Đức và Bình Mỹ. Thôn Bình Mỹ lúc nầy thuộc tổng Định Thành, huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang. Đồng thời, tác phẩm nầy cũng cung cấp thêm thông tin về địa giới thôn Bình Mỹ là “Bắc giáp Xẻo Dầu và địa phận thôn Vĩnh Thạnh Trung” [Nguyễn Đình Đầu 1995: 261]. Điều đó có nghĩa là đến năm 1836, thôn Bình Mỹ và thôn Vĩnh Thạnh Trung lấy rạch Cái Dầu làm ranh giới, thôn Bình Long (nằm giữa hai thôn trên) vẫn chưa xuất hiện.

Quả thật như thế, thôn Bình Long được thành lập muộn hơn. Năm 1851, một nhóm tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Nguyễn Văn Xuyến (thường gọi là ông Đạo Xuyến) đến khai phá vùng rạch Cái Dầu, lập nên trại ruộng Cái Dầu. Ông Đạo Xuyến là một trong mười hai đệ tử lớn của Đức Phật Thầy Tây An - giáo chủ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Trại ruộng là mô hình sinh hoạt và tu tập buổi ban đầu của tôn giáo nầy và Cái Dầu là một trong bốn trại ruộng như thế. Ngày nay, tại thị trấn Cái Dầu vẫn còn phần mộ ông Đạo Xuyến. Từ cơ sở ban đầu là trại ruộng, miệt Cái Dầu dần phát triển và về sau hình thành thôn Bình Long.

Đình Bình Mỹ (Ảnh: Vĩnh Thông)

Như thế, không hề có thôn Long Mỹ như các tư liệu đã lưu truyền. Thôn Bình Mỹ phải ra đời trong khoảng từ sau năm 1820 đến trước năm 1836, thôn Bình Long phải ra đời trong khoảng thập niên 1850.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Duy Đức được cho là người đầu tiên có công khai phá vùng đất Long Mỹ xưa,cũng có lai lịch cũng khá mơ hồ. Dân gian chỉ truyền tụng rằng ông là một vị tướng của chúa Nguyễn Phước Khoát vâng lệnh chúa đến vùng đất nầy khai hoang, ngoài ra không rõ năm sanh, năm mất, quê quán, hành trạng, phần mộ… Thực ra đây không phải là một nhân vật lịch sử có thật mà chỉ mang tính biểu tượng, nhằm thể hiện tấm lòng tri ân của dân chúng với những bậc tiền nhân đã có công mở cõi. Trường hợp nầy chúng ta không khó bắt gặp ở nhiều thôn làng trên địa bàn Nam Bộ.

2. Tổng quan về đình Bình Mỹ

Qua những nội dung đã phân tích, có thể xác định thôn Bình Mỹ phải ra đời đầu thế kỷ XIX chứ không phảicuối thế kỷ XVIII, cũng không có địa danh Long Mỹ trên địa bàn nầy vào thời điểm bấy giờ. Như vậy ngôi đình Bình Mỹ cũng phải ra đời sớm nhứt là những thập niên đầu thế kỷ XIX, vào đầu triều Nguyễn. Theo các vị bô lão kể lại, ngôi đình buổi đầu nằm ở rạch Xẻo Sâu, vật liệu bằng tre lá đơn sơ.

Đến năm 1890, đình được trùng tu lần thứ nhứt và dời về vị trí hiện nay, bên cạnh vàm rạch Hóa Cù - nơi con rạch Hóa Cù đổ ra sông Năng Gù. Ở lần trùng tu nầy, đình được xây dựng kiên cố hơn. Tuy nhiên, để ngôi đình có diện mạo như hiện nay phải đợi đến lần trùng tu thứ hai vào năm 1928, do ông Phó Cai tổng Phạm Tứ Quý (thầy Phó Quý) đứng ra chủ trương xây cất. Lần nầy, kiến trúc đình được lấy theo mẫu đình Châu Phú vừa xây lại vào năm 1926 (nay tọa lạc tại phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang).

Đình Bình Mỹ có kiến trúc chữ “tam” với ba bộ phận chánh là võ ca, võ quy và chánh điện. Nóc đình dạng cổ lầu gồm bốn bộ chánh và sáu bộ phụ, mái tam cấp lợp ngói tiểu đại, trên các đường bờ nóc và đầu đao trang trí nhiều hình tượng bát tiên, linh thú, hoa văn… Mặt tiền trang nhã với các đường cong mềm mại của dạng cửa vòm, nền vàng viền chỉ trắng, xen lẫn liễn đối và hoa văn trang trí. Đình Bình Mỹ là nơi thể hiện rất rõ nét sự giao thoa giữa phong cách Roman và Gothic trong kiến trúc Pháp với phong cách kiến trúc cung đình triều Nguyễn.

Nội thất đình kết cấu bởi cột gỗ tròn làm từ danh mộc. Chánh điện được trang trí nổi bật bởi các hoành phi, liễn đối, bao lam, thành vọng… được chạm khắc cầu kỳ và sơn son thếp vàng sống động. Nghệ thuật điêu khắc gỗ tinh xảo với sự đa dạng về phong cách và đề tài. Ngoài ra, trên các bức tường còn nhiều tranh sơn thủy độc đáo, nội dung thường là những điển tích cổ hoặc phong cảnh thiên nhiên.

Về bày trí thờ tự, đi từ ngoài vào chánh điện có hai bàn thờ đối xứng hai bên là Hữu Văn Ban - Tả Võ Bá, tiếp theo ở khoảng giữa chánh điện là bàn thờ Hội Đồng, trên cao nhứt phía trong cùng là bàn thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, bên dưới là một bàn thờ thấp hơn có đặt chân dung Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Dọc theo hai bên vách có hai dãy bàn thờ đối xứng gồm: Tả Ban, Hữu Ban, Tiền Hiền, Hậu Hiền, Tiền Cố Hương Lão, Chúa Xứ Sơn Quân.

3. Tôn thần và sắc thần

Đình Bình Mỹ thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnhvà thờ vọng Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Năm Khải Định thứ 9 (1924), vua ban sắc phong cho Thành Hoàng Bổn Cảnhthôn Bình Mỹ với tước hiệu là Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng tôn thần. Điều nầy giống với trường hợp các đình có thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở An Giang, đó là mặc dù các đình nầy thờ Nguyễn Hữu Cảnh nhưng đều chỉ được ban sắc phong cho thần Thành Hoàng Bổn Cảnh, còn Nguyễn Hữu Cảnh không được ban sắc phong chính thức nên chỉ là thờ vọng. Duy chỉ có đình Châu Phú (thành phố Châu Đốc) có sắc phong ghi rõ danh tánh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh.

Nội dung sắc thần đình Bình Mỹ như sau: “Sắc Châu Đốc tỉnh, An Lương tổng, Bình Mỹ thôn phụng sự Bổn Cảnh Thành Hoàng tôn thần hộ quốc tý dân. Nẫm trứ linh ứng tứ kim chánh trực, Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bửu chiếu đàm ân lễ long đăng trật, trứ phong vi Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần. Chuẩn kỳ phụng sự thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai! Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhựt.”

Tạm dịch: Sắc cho thôn Bình Mỹ, tổng An Lương, tỉnh Châu Đốc được thờ phượng vị thần Thành Hoàng Bổn Cảnh giữ nước giúp dân. Xưa từng linh ứng, nay tỏ bày chánh trực, Trẫm nhân lễ tứ tuần, ban chiếu báo mở rộng ân đức, long trọng thăng phẩm vị, phong là Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần. Cho phép thờ phượng để thần che chở dân ta. Kính nghe! Khải Định năm thứ chín ngày hai mươi lăm tháng bảy.

Hằng năm, đình Bình Mỹ tổ chức lễ Kỳ yên ngày 18 - 19 - 20 tháng 4 âm lịch, lễ Lạp miếu ngày 19 - 20 tháng 12 âm lịch.

Ngoài ra, xã Bình Mỹ còn có miếu Tiền Hiền, được xem là nơi thờ ông Nguyễn Duy Đức. Tuy nhiên theo Võ Thành Phương [2016: 22], nơi đây vốn là nền đồn cũ của nghĩa quân Gia Nghị trong cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bảy Thưa (1867 - 1873) do Quản cơ Trần Văn Thành chỉ huy. Hai bên bờ sông Hậu, nghĩa quân bố trí hai đồn ở làng Bình Mỹ (bờ Tây) và làng Bình Thạnh Đông (bờ Đông). Năm 1943, nhân dân hai làng xây dựng hai ngôi miếu trên nền đồn cũ để tưởng niệm các nghĩa sĩ trận vong. Thông tin nầy khá thuyết phục, vì ngày nay vị trí hai ngôi miếu đối xứng nhau hai bên bờ sông Hậu, ngôi miếu ở xã Bình Thạnh Đông (huyện Phú Tân) trở thành dinh Quan cựu Chánh Quản cơ Trần Văn Thành, ngôi miếu ở xã Bình Mỹ trở thành miếu Tiền Hiền.

Những giai thoại dân gian rất đáng trân trọng vì thể hiện tấm lòng của nhân dân với người đi trước, song hãy để cho những giai thoại ấy sống trong lòng dân gian. Lịch sử không phải là sản phẩm truyền thuyết hóa, nên không thể chỉ được “dựng lại” dựa trên những lời truyền khẩu. Do đó, chúng tôi thiết tưởng cần phải khẳng định lại rằng không hề có thôn Long Mỹ ra đời năm 1786 rồi tách thành hai thôn Bình Long và Bình Mỹ vào năm 1816 như dân gian đã lưu truyền.

VĨNH THÔNG

(Bài đăng trên Tập san Văn nghệ Châu Phú, số 39, 2020 & in trong

sách Dấu ấn thượng châu thổ, Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2021)

_______________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.Bảo tàng An Giang (2013), Di tích lịch sử văn hóa An Giang, Sở Thông tin & Truyền thông An Giang.

2.Nguyễn Đình Đầu (1995), Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn: An Giang, Nxb TP.HCM.

3.Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương & Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục.

4.Võ Thành Phương (2016), “Tìm hiểu địa danh ở Châu Phú”, Tập san Văn nghệ Châu Phú, số 34.

Từ khóa » đình Bình Mỹ An Giang