Đo Lường Và Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát - Báo Nhân Dân

Tránh từ cực này "nhảy" sang cực nọ

Trường hợp cụ thể được người đứng đầu Quốc hội đề cập ở đây là những sai phạm trong mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế. "Một số ít địa phương trong mua sắm đã có sai phạm, nhưng sai phạm được phát hiện qua điều tra của cơ quan chức năng chứ không phải qua giám sát của hội đồng nhân dân (HĐND). Tại sao HĐND lại không biết, cơ quan dân cử giám sát thường xuyên mà không biết?" - người đứng đầu Quốc hội nêu vấn đề.

Không dừng ở đó, Chủ tịch Quốc hội cũng bày tỏ không hài lòng về một tình trạng đáng lo ngại không kém. Đó là đang từ thái cực mua sắm tràn lan với giá cả "trên trời", hiện nay ở một số nơi lại đang có tình trạng cực đoan khác là "đóng băng", không dám mua sắm vì lo ngại sai phạm, có nguy cơ ảnh hưởng đáng kể đến năng lực kiểm soát, phòng chống dịch bệnh. Trong khi đó, Quốc hội đã có nghị quyết cho phép áp dụng cơ chế đặc thù trong mua sắm công (trong đó có trang thiết bị, vật tư y tế) và Chính phủ cũng đã có hướng dẫn cụ thể…

Nhìn rộng ra, hiệu quả giám sát của các cơ quan dân cử, đặc biệt là cơ quan dân cử ở địa phương trong nhiều lĩnh vực vẫn còn hạn chế, hoạt động giám sát chuyên đề, tái giám sát còn ít. Theo báo cáo bước đầu của đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề này, việc phối hợp và triển khai thực hiện các cuộc giám sát chuyên đề của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại một số tỉnh, thành phố còn thiếu tích cực, công tác lập và gửi báo cáo giám sát chậm, chất lượng báo cáo còn hạn chế.

Kỳ vọng ở hiệu quả giám sát đến mức nào?

Về nguyên lý chung, mục đích của giám sát là xem xét đối tượng bị giám sát tuân theo Hiến pháp và pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình như thế nào. Hiệu quả của hoạt động giám sát chính là kết quả thực tế đạt được, thể hiện qua mức độ đạt được yêu cầu của công việc được giám sát và mức độ tiến bộ sau một thời gian thực thi kết luận của cuộc giám sát.

Trong hình thức giám sát tối cao đã được thực thi tương đối đầy đủ trong thời gian qua (gồm xem xét báo cáo công tác; xem xét việc trả lời chất vấn; xem xét báo cáo giám sát chuyên đề; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm), một trong những thí dụ có thể lượng hóa khá rõ về hiệu quả giám sát là hình thức lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm.

Trên thực tế, tuy Quốc hội chưa bỏ phiếu tín nhiệm, nhưng đã tiến hành ba lần lấy phiếu tín nhiệm tại kỳ họp thứ 5 và kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII; kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm lần thứ nhất (tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII) đã như một lời nhắc nhở mạnh mẽ đối với Chính phủ. Trong 26 chức danh chỉ có hai vị Bộ trưởng có số phiếu "tín nhiệm cao" hơn 50%, thậm chí một chức danh trưởng ngành chỉ được 17,67% - thấp nhất trong tất cả các chức danh được lấy phiếu tín nhiệm. Nhưng từ kết quả đó, với sự nỗ lực phấn đấu, chỉ một năm rưỡi sau, trong lần lấy phiếu tín nhiệm thứ hai tại kỳ họp thứ 8, tất cả các chức danh của Chính phủ đều tăng phiếu "tín nhiệm cao" một cách rõ rệt so với lần thứ nhất.

Tuy nhiên, trong bốn hình thức giám sát của cơ quan dân cử (như đã nêu trên), trừ hình thức giám sát lấy phiếu tín nhiệm với kết quả đã được định lượng rõ ràng, còn ba hình thức giám sát khác không dễ để đánh giá tổng quát, chính xác. Sẽ không thực tế nếu đòi hỏi hiệu quả giám sát của Quốc hội phải tiến tới như hiệu quả của hoạt động kiểm tra Đảng, hoặc Thanh tra Chính phủ, vì chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại cơ quan, tổ chức là khác nhau, do đó quyền hạn cũng rất khác nhau. Chẳng hạn, Ủy ban kiểm tra các cấp của Đảng có quyền xem xét, quyết định những trường hợp phải kỷ luật hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền thi hành kỷ luật theo khoản 4, Điều 32 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành thuộc Thanh tra Chính phủ có quyền quyết định niêm phong tài liệu của đối tượng thanh tra khi có căn cứ cho rằng có vi phạm pháp luật; hoặc tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng... theo khoản 1, Điều 52 Luật Thanh tra hiện hành. Trong khi đó, giám sát của Quốc hội chỉ có quyền theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý…

Kết luận chưa phải là kết thúc

Chính vì vậy, khi góp ý vào một đề án hết sức quan trọng đang được xây dựng, hoàn thiện - Đề án tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội - GS, TS Trần Ngọc Đường, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, cần bổ sung nội dung về vai trò, chức năng giám sát của Quốc hội. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động giám sát, coi trọng phối hợp giữa giám sát mang tính quyền lực của Quốc hội với giám sát mang tính xã hội của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam...

Đặc biệt, nhiều ý kiến khẳng định chất vấn là phương thức giám sát hiệu quả nhất, được nhân dân và cử tri đồng tình ủng hộ. Tiếp tục đổi mới toàn diện hoạt động chất vấn là yêu cầu khách quan, góp phần làm cho bộ máy nhà nước vững mạnh hơn, các chức danh cấp cao trong bộ máy hoạt động hiệu quả hơn, tinh thần trách nhiệm cao hơn. Muốn vậy, cần tăng cường và có cơ chế cụ thể về sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành vào các đoàn giám sát của Quốc hội. Thậm chí, giải pháp thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, điều tra về một vấn đề nhất định phục vụ công tác giám sát cũng là đề xuất rất đáng cân nhắc. Kết luận giám sát phải định vị được chế độ trách nhiệm của các chủ thể chịu sự giám sát, nhận diện rõ trách nhiệm của tập thể, tổ chức, cá nhân…

Cũng cần nói rõ là kết luận vẫn chưa phải là kết thúc. Để công tác giám sát phát huy hiệu quả cao nhất, cần chú trọng đẩy mạnh hoạt động "hậu giám sát", áp dụng chế tài phù hợp để tăng tính hiệu lực của kết luận giám sát.

CẨM HÀ

Từ khóa » đo Lường Giám Sát