Công an Hà Nội |
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Công an Hà Nội |
|---|
| Biệt danh | Đội bóng ngành Công an Đội bóng Thủ đô Bức tường Những chú ngựa Đội bóng Hoàng Thành Bà La Sát Đội bóng Hoàng Diệu |
|---|
| Tên ngắn gọn | CAHCAHN |
|---|
| Thành lập | 10 tháng 10 năm 1956; 69 năm trước (1956-10-10)24 tháng 11 năm 2022; 3 năm trước (2022-11-24) (tái lập, chuyển giao từ Công an Nhân dân) |
|---|
| Sân vận động | Hàng Đẫy |
|---|
| Sức chứa | 22.500 |
|---|
| Chủ sở hữu | Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (đại diện chủ sở hữu cho toàn bộ nhân dân Hà Nội) Công an thành phố Hà Nội (quản lý và điều hành trực tiếp) |
|---|
| Người quản lý | Công ty TNHH Bóng đá CATP Hà Nội |
|---|
| Huấn luyện viên |  Alexandré Pölking |
|---|
| Giải đấu | V.League 1 |
|---|
| Website | https://cahnfc.com |
|---|
Màu áo sân nhà | Màu áo sân khách | Màu áo thứ ba | |
Mùa giải hiện nay |
Câu lạc bộ bóng đá Công an Hà Nội (tên ngắn gọn là Công an Hà Nội, CA Hà Nội hoặc CAHN) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Việt Nam, thành lập từ năm 1956 đến khi bị giải thể và được chuyển giao vào năm 2002. Câu lạc bộ được đặt dưới sự chủ quản của Công an thành phố Hà Nội, và đạt nhiều thành tích trong thời gian tồn tại. Năm 2022, câu lạc bộ Công an Hà Nội được tái lập từ sự chuyển giao của Câu lạc bộ bóng đá Công an Nhân dân.
Theo quyết định của Ủy ban Hành chính Thành phố Hà Nội (nay là Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội) năm 1956 về việc thành lập đội bóng Công an Hà Nội, Công an Hà Nội được công nhận một cách chính thức là đại diện của nhân dân Thủ đô.[1]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn] Hình thành
[sửa | sửa mã nguồn] Năm 1954, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn đã chỉ đạo Giám đốc Công an Thành phố Hà Nội khi đó là Nguyễn Văn Long nghiên cứu thành lập 1 đội bóng đá. 1 cuộc họp nhằm thảo luận về việc thành lập đội bóng Công an Hà Nội đã được Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, cùng với sự tham gia của một số nhân vật đặc biệt như bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội; giám đốc Nguyễn Văn Long cùng phó Giám đốc Sở công an Hà Nội Lê Nghĩa. Sau đó, Ủy ban Hành chính (nay là Ủy ban Nhân dân) thành phố Hà Nội và Bộ Công an nhất trí đội bóng thuộc quân số và sự quản lý của Sở công an Hà Nội, đồng thời đội bóng là đại diện chính thức của nhân dân Hà Nội do Ủy ban Hành chính thành phố quản lý về chuyên môn bóng đá và chi trả kinh phí thi đấu, tập luyện.[1][2]
Thành lập ngày 10 tháng 10 năm 1956 có lẽ chỉ sau Thể Công, đội đã lập tức chứng tỏ được vị thế của mình là đối thủ xứng tầm nhất của đội bóng giàu thành tích khoác áo lính ngay khi Thể Công làm mưa làm gió trong làng cầu khu vực phía Bắc. Được biết đến với lối chơi phòng ngự phản công, đội luôn là một đối thủ khó chịu với mọi đội bóng mạnh, nhưng lại thi đấu tương đối thất thường khi chơi với các đội bóng yếu hơn. Có lẽ vì vậy mà bảng thành tích của đội chưa xứng tầm với thực lực và truyền thống mà đội sở hữu.
Nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ XX là thời kỳ đáng tiếc của đội bóng, khi sở hữu dàn cầu thủ tương đối đồng đều nhưng đội lại được biết đến nhiều bởi những bê bối về cá độ và vay mượn điểm hơn là những thành tích trên sân cỏ. Năm 1992, đội thi đấu yếu kém, phải xuống thi đấu ở hạng A1. Mùa giải 1995, đội lại giành được quyền thăng hạng giải các đội mạnh.
Chuyển giao và giải thể
[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội (2012) Sang thời kỳ chuyển biến cơ chế trong cách làm bóng đá, 1 đội bóng của những cầu thủ mang biên chế của ngành Công an không thể tồn tại. Năm 2002, đội bị giải thể và chuyển giao cho Hàng không Việt Nam tại mùa giải 2003. Sau giải 2003, đội Hàng không Việt Nam cũng bị giải thể. Suất trụ hạng ở V-League được bán cho Công ty Cổ phần Thể thao ACB. Công ty này cũng nhận 8 cầu thủ của Hàng không Việt Nam vào đội bóng LG Hà Nội ACB. Số cầu thủ còn lại được chuyển về đá ở giải hạng Nhất với đội bóng Hòa Phát Hà Nội. Đội bóng công an thủ đô sau gần 50 năm được coi như không còn tham gia đời sống bóng đá.
Tái lập
[sửa | sửa mã nguồn] Cuối tháng 11 năm 2022, thực hiện "Đề án phát triển Câu lạc bộ bóng đá Công an nhân dân theo hướng chuyên nghiệp", Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an (sau này là Chủ tịch nuớc CHXHCN Việt Nam và trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) đã quyết định chuyển giao Câu lạc bộ Công an Nhân dân mới được thăng hạng V.League 1 cho Công an thành phố Hà Nội quản lý và đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Công an Hà Nội. Câu lạc bộ Công an Hà Nội chính thức được tái lập với suất chơi được Công an Nhân dân chuyển giao.[3]
Để chuẩn bị cho mùa giải 2023, đội Công an Hà Nội đã tập trung và bắt tay ngay vào công tác tập luyện dưới sự hướng dẫn của các huấn luyện viên chuyên nghiệp tại Trung tâm đào tạo bóng đá trẻ PVF, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên và sử dụng Sân vận động Hàng Đẫy làm sân thi đấu cho các giải đấu.[4]
Mùa giải 2023, Công an Hà Nội với 70 năm sau khi thành lập, 20 năm sau khi giải thể - chuyển giao đã trở lại với một đội hình mạnh gồm 11 cầu thủ của Công An Nhân Dân (quy chế V-League yêu cầu câu lạc bộ nhận chuyển giao suất chơi phải nhận tối thiểu 10 cầu thủ của câu lạc bộ chuyển giao) và 20 cầu thủ đến từ các đội bóng trong và ngoài nước.[5] Đội đã lên ngôi vô địch V-League 2023 đầy kịch tính khi bằng 38 điểm với Hà Nội và xếp trên nhờ hiệu số, qua đó tái lập thành tích của Hoàng Anh Gia Lai năm 2003 và Đồng Tháp năm 1989, trở thành đội vô địch ngay mùa giải đầu tiên lên hạng.[6]
Trang phục thi đấu
[sửa | sửa mã nguồn] Màu sắc
[sửa | sửa mã nguồn] Trước đây, trang phục thi đấu sân nhà của Công an Hà Nội là màu xanh dương đậm, trang phục thi đấu sân khách mang màu trắng.[7] Hiện tại, trang phục thi đấu sân nhà của đội màu đỏ.
Danh sách nhà cung cấp trang phục
[sửa | sửa mã nguồn] | Giai đoạn | Tên gọi | Hãng trang phục | Ghi chú |
| 1998 | Công an Hà Nội | Adidas | trang phục tự cung |
| 1999-2000 | Grand Sport | được tài trợ |
| 2000-2002 | Adidas | cung cấp từ nhà tài trợ giải đấu |
| 2003 | Hàng không Việt Nam | Grand Sport | được tài trợ |
| 2008-2014 | Công An Nhân Dân | không có |
| 2015-2017 | Mitre | được tài trợ |
| 2018 | Jogarbola |
| 2019 | Mitre |
| 2020 | Grand Sport |
| 2021 | Mitre |
| 2022 | Jogarbola |
| 2023-2024 | Công an Hà Nội | Kamito |
| 2024-2025 | CA | trang phục tự sản xuất |
| 2025-nay | Jogarbola[8] | được tài trợ |
Đội hình hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn] Tính đến mùa giải 2024-25 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
| Số | VT | Quốc gia | Cầu thủ | | 1 | TM | | Nguyễn Filip | | 3 | HV | | Hugo Gomes | | 5 | HV | | Đoàn Văn Hậu | | 6 | TV | | Stefan Mauk (Mượn từ Adelaide United) | | 7 | HV | | Cao Pendant Quang Vinh | | 8 | TV | | Vitão | | 9 | TĐ | | Nguyễn Đình Bắc | | 10 | TĐ | | Léo Artur | | 11 | TV | | Lê Phạm Thành Long | | 12 | TV | | Hoàng Văn Toản | | 15 | TV | | Bùi Xuân Thịnh | | 17 | HV | | Vũ Văn Thanh | | 18 | TV | | Trần Đình Tiến | | 19 | TV | | Nguyễn Quang Hải (đội trưởng) | | 20 | TĐ | | Phan Văn Đức | | | Số | VT | Quốc gia | Cầu thủ | | 21 | HV | | Trần Đình Trọng | | 22 | TV | | Phạm Minh Phúc | | 23 | TM | | Vũ Thành Vinh | | 25 | TM | | Trần Đình Minh Hoàng | | 26 | TV | | Hà Văn Phương | | 27 | TV | | Brandon Ly | | 28 | HV | | Nguyễn Văn Đức | | 30 | TĐ | | Rogério Alves | | 32 | TM | | Vũ Tuyên Quang | | 36 | HV | | Hoàng Trung Anh | | 38 | HV | | Leygley Adou | | 55 | TĐ | | Trần Đức Nam | | 68 | HV | | Bùi Hoàng Việt Anh (đội phó) | | 72 | TĐ | | Alan Grafite | | 88 | TV | | Lê Văn Đô (Mượn từ PVF–CAND) | | 98 | HV | | Giáp Tuấn Dương | |
Cho mượn
[sửa | sửa mã nguồn] Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
| Số | VT | Quốc gia | Cầu thủ | | — | TĐ | | Nguyễn Xuân Nam (cho mượn tại PVF-CAND) | | | Số | VT | Quốc gia | Cầu thủ | | 99 | TĐ | | Bùi Anh Thống (cho mượn tại Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh) | | — | TV | | Nguyễn Chính Đăng (cho mượn tại Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh) | |
Không nằm trong danh sách đăng ký thi đấu
[sửa | sửa mã nguồn] Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
| Số | VT | Quốc gia | Cầu thủ | | 35 | HV | | Nguyễn Hữu Thực | | 37 | HV | | Phùng Viết Trường | |
Quan chức đội bóng
[sửa | sửa mã nguồn] | Chức vụ | Tên |
| Chủ tịch | Dương Đức Hải |
| Phó chủ tịch | Trần Văn Hùng Nguyễn Chí Công |
| Giám đốc điều hành | Phạm Văn Lệ |
| Giám đốc kỹ thuật | Trần Tiến Đại |
| Trưởng đoàn | Lê Hồng Thái |
| Phó trưởng đoàn | Lê Xuân Hải |
| Huấn luyện viên trưởng |  Alexandre Pölking |
| Trợ lý huấn luyện viên trưởng | Phạm Thành Lương Đinh Xuân Việt Luís Viegas |
| Phiên dịch | Trần Hùng Cường |
| Huấn luyện viên thể lực | Paulo Oliveira |
| Huấn luyện viên thủ môn | Valdir Bardi |
Trần Hùng Cường |
| Bác sỹ | Nguyễn Văn Bổn |
| Vật lý trị liệu | Lê Phụng Hiếu |
| Cán bộ phục vụ | Hồ Văn Lộc |
Các huấn luyện viên trong lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn] Các huấn luyện viên trưởng của Công an Hà Nội - 1994-2002:
Nguyễn Văn Nhã - 2023:
Paulo Foiani - 2023:
Flavio Cruz - 2023:
Trần Tiến Đại (tạm quyền) - 2023-2024:
Gong Oh-kyun - 2024:
Kiatisuk Senamuang - 2024-:
 Alexandré Pölking | |
Thành tích thi đấu
[sửa | sửa mã nguồn] Mặc dù thành tích không ổn định như Công an Hải Phòng nhưng đội vẫn được xem là một trong những đội bóng mạnh của cả nước nói chung và của ngành Công an Nhân dân và thành phố Hà Nội nói riêng. Trong những năm tồn tại, đội đã đóng góp nhiều thế hệ cầu thủ ưu tú cho đội tuyển Bộ Công an thi đấu với các đội công an của các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa và thể thao Hà Nội cũng như Việt Nam tại các giải đấu quốc tế khác.
Thành tích bóng đá trong nước
[sửa | sửa mã nguồn] | Chú giải màu sắc |
| Vô địch |
| Á quân |
| Hạng ba |
| Hạng tư |
| Thăng hạng |
| Xuống hạng |
| Thành tích của Công an Hà Nội từ khi thành lập giải vô địch quốc gia |
| Mùa | Hạng đấu | Thành tích | St | T | H [a] | B | Bt | Bb | Điểm | Chú thích |
| I | II | III | IV |
| 1980 | Á quân | 12 | 8 | 2 | 2 | 27 | 10 | 18 |
| 1981–82 | Thứ 3 | 21 | 7 | 11 | 3 | 23 | 19 | 25 |
| 1982–83 | Thứ 7 bảng A g.đ. 1 | 14 | 2 | 8 | 4 | 13 | 16 | 12 |
| 1984 | Vô địch | 17 | 8 | 6 | 3 | 24 | 16 | 22 | Công an Hà Nội vô địch quốc gia lần đầu tiên |
| 1985 | Thứ 2 bảng B g.đ. 2[b] | 15 | 6 | 3 | 6 | 21 | 14 | 15 |
| 1986 | Thứ 4 bảng C | 10 | 3 | 4 | 3 | 13 | 16 | 10 |
| 1987 | Thứ 4 bảng B g.đ. 2 | 19 | 8 | 6 | 5 | 31 | 23 | 22 |
| 1989 | Thứ 3 | 18 | 9 | 6 | 3 | 22 | 11 | 24 | Năm 1988 không tổ chức giải chính thức, chỉ có các giải giao hữu |
| 1990 | Thứ 4 bảng B g.đ. 1 | Không rõ thành tích cụ thể |
| 1991 | Thứ 4 bảng B | 12 | 3 | 6 | 3 | 10 | 11 | 12 |
| 1992 | Thứ 8 bảng B | Không rõ thành tích cụ thể | Công an Hà Nội xuống hạng A1 |
| 1993–94 | Không rõ |
| 1995 | Không rõ |
| 1996 | Thứ 9 | 22 | 7 | 6 | 9 | 27 | 25 | 27 | Công an Hà Nội trở lại giải vô địch quốc gia |
| 1997 | Thứ 7 | 22 | 9 | 4 | 9 | 33 | 37 | 31 |
| 1998 | Thứ 4 | 25 | 13 | 6 | 6 | 34 | 24 | 42[c] |
| 1999 | Á quân | 8 | 5 | 3 | 0 | 14 | 4 | 18 | Năm 1999 không tổ chức giải chính thức, chỉ tổ chức Giải tập huấn mùa xuân |
| 1999–00 | Thứ 3 | 24 | 10 | 7 | 7 | 25 | 22 | 37 |
| 2000–01 | Thứ 7 | 18 | 6 | 6 | 6 | 22 | 19 | 23 |
| 2001–02 | Thứ 8 | 18 | 5 | 6 | 7 | 19 | 22 | 21 | Đội bị giải thể sau mùa giải, suất thi đấu và đội hình được chuyển giao cho Hàng không Việt Nam |
| 2008 | Đồng thứ 3[d] | 6 | 4 | 2 | 0 | 15 | 6 | 14 | CLB Công an Nhân dân được thành lập và thi đấu trở lại từ giải hạng Ba, dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Công an |
| 2009 | Thứ 4 bảng A | 10 | 5 | 0 | 5 | 15 | 15 | 15 |
| 2010 | Thứ 5 bảng A | 8 | 1 | 2 | 5 | 8 | 20 | 5 |
| 2011 | Thứ 6 bảng A | 10 | 1 | 3 | 6 | 7 | 20 | 6 |
| 2012 | Thứ 4 bảng A[e] | 8 | 1 | 3 | 4 | 4 | 13 | 6 |
| 2013 | Thứ 5 bảng A | 8 | 1 | 0 | 7 | 5 | 17 | 3 |
| 2014 | Vô địch | 5 | 1 | 2 | 2 | 4 | 4 | 5 |
| 2015 | Thứ 8 | 14 | 3 | 4 | 7 | 14 | 17 | 14 |
| 2016 | Thứ 2 bảng A | 12 | 5 | 4 | 3 | 19 | 17 | 19 |
| 2017 | Vô địch | 16 | 13 | 0 | 3 | 41 | 10 | 39 |
| 2018 | Thứ 10 | 18 | 4 | 3 | 11 | 15 | 27 | 15 |
| 2019 | Thứ 3 bảng A | 12 | 6 | 4 | 2 | 11 | 7 | 22 |
| 2020 | Thứ 4[f] | 16 | 11 | 3 | 2 | 47 | 11 | 36 |
| 2021 | Mùa giải bị hủy vì COVID-19 |
| 2022 | Vô địch | 22 | 12 | 7 | 3 | 37 | 15 | 43 | CLB Công an Nhân dân được chuyển giao từ Bộ Công an về Công an thành phố Hà Nội và được trao trở lại phiên hiệu Công an Hà Nội |
| 2023 | Vô địch | 20 | 11 | 5 | 4 | 39 | 21 | 38 | Công an Hà Nội trở lại V.League 1, vô địch quốc gia lần thứ hai |
| 2023/24 | Thứ 6 | 26 | 11 | 4 | 11 | 44 | 35 | 37 |
| 2024/25 | Thứ 3 | 26 | 12 | 9 | 5 | 45 | 23 | 45 | Công an Hà Nội giành Cúp Quốc gia và Siêu cúp Quốc gia lần đầu tiên |
| 2025/26 | CXĐ |
Cúp Quốc gia
[sửa | sửa mã nguồn] | Thành tích của Công an Hà Nội tại Giải bóng đá Cúp Quốc gia kể từ khi Cúp Quốc Gia thành lập |
| Mùa | Vòng | Thời gian | Sân vận động | Đối thủ | Kết quả (CAHN bên trái) | Chung cuộc(CAHN bên trái) | Thành tích |
| 1992 | Không rõ |
| 1993 |
| 1994 |
| 1995 | Chung kết | 24/09/1995 | Hàng Đẫy | Công an Hải Phòng | 0-1 | Á Quân |
| 1996 | Vòng loại | Không rõ | Tứ kết |
| Tứ kết | 26/11/1996 | Thống Nhất | Hải Quan | 2-3 | 4-5[9] |
| 29/11/1996 | 2-2 |
| 1997 | Vòng loại | Không rõ |
| 1998 | Vòng loại | Không rõ | Vòng loại |
| 1999/00 | Vòng sơ loại | Được đặc cách vào vòng 1/16 | Tứ kết |
| Vòng 1 |
| Vòng 2 |
| Vòng 1/16 | 26/02/2000 | Không rõ | Bưu điện | 0-0 | 1-0 |
| 04/03/2000 | 1-0 |
| Vòng 1/8 | 26/03/2000 | Công an Hải Phòng | 2-1 | 5-3 |
| 01/04/2000 | 3-2 |
| Tứ kết | 14/05/2000 | Thống Nhất | Công an TP.Hồ Chí Minh | 1-3 | 3-5 |
| 19/05/2000 | 2-2 |
| 2000/01 | Vòng loại | Được đặc cách vào vòng 1/8 | Á Quân |
| Vòng 1/8 | 25/02/2001 | Đà Lạt | Lâm Đồng | 1-1 | 4-1 |
| 11/03/2001 | Hà Nội | 3-0 |
| Tứ kết | 03/06/2001 | Cảng Sài Gòn | 2-0 | 2-1 |
| 07/06/2001 | 0-1 |
| Bán kết | 12/06/2001 | Thể Công – Viettel | 1-1(4-2 p) |
| Chung kết | 17/06/2001 | Công an TP.Hồ Chí Minh | 1-2(s.h.p) |
| 2001/02 | Vòng 1 | Được đặc cách vào vòng 2 | Bán kết |
| Vòng 2 | 10/11/2001 | Không rõ | Quân khu 3 | 2-0 |
| Vòng 3 | 18/11/2001 | Hà Nội | Công an Hải Phòng | 1-0 |
| Tứ kết | 03/03/2002 | Không rõ | Hà Nội ACB | 1-0 | 1-0 |
| 09/03/2002 | 0-0 |
| Bán kết | 17/03/2002 | Hàng Đẫy | Sông Lam Nghệ An | 0-1 | 1-3 |
| 24/03/2002 | Vinh | 1-2 |
| 2008 | Không đủ điều kiện tham dự |
| 2009 |
| 2010 |
| 2011 |
| 2012 |
| 2013 |
| 2014 |
| 2015 | Vòng loại | 04/04/2015 | Hàng Đẫy | TP.Hồ Chí Minh | 1-0 | Vòng 1/8 |
| Vòng 1/8 | 20/06/2015 | Pleiku | Hoàng Anh Gia Lai | 0-0(2-4 p) |
| 2016 | Không đủ điều kiện tham dự |
| 2017 |
| 2018 | Vòng loại | 08/04/2018 | Long An | Long An | 11-11(10-11 p) | Vòng loại |
| 2019 | Không đủ điều kiện tham dự |
| 2020 |
| 2021 | Giải đấu bị hủy vì COVID-19 |
| 2022 | Vòng loại | 07/04/2022 | Hàng Đẫy | Hà Nội | 0-4 | Vòng loại |
| 2023 | Vòng loại | 02/04/2023 | 19/8 Nha Trang | Khatoco Khánh Hòa | 3-1 | Vòng 1/8 |
| Vòng 1/8 | 07/07/2023 | Hàng Đẫy | Nam Định | 1-1(2-3 p) |
| 23/24 | Vòng loại | 25/11/2013 | Hoàng Anh Gia Lai | 2-1 | Vòng 1/8 |
| Vòng 1/8 | 13/03/2024 | Mỹ Đình | Thể Công – Viettel | 0-1 |
| 24/25 | Vòng loại | Được đặc cách vào vòng 1/8 | Vô Địch |
| Vòng 1/8 | 14/01/2025 | Hàng Đẫy | Hồng Lĩnh Hà Tĩnh | 2-1 |
| Tứ kết | 22/04/2025 | Lạch Tray | Hải Phòng | 3-1 |
| Bán kết | 26/06/2025 | Hàng Đẫy | Thể Công – Viettel | 3-1 |
| Chung kết | 29/06/2025 | Vinh | Sông Lam Nghệ An | 5-0 |
| 25/26 | Vòng loại | Được đặc cách vào vòng 1/8 | Vòng 1/8 |
| Vòng 1/8 | 23/11/2025 | Hàng Đẫy | Thể Công – Viettel | 2-2(3-4 p) |
Thành tích quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn] Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn] | Giải vô địch Quốc gia | 2 | 1984, 2023 |
| Giải hạng Nhất Quốc gia | 1 | 2022 |
| Cúp Quốc gia | 1 | 2024-2025 |
| Siêu cúp Quốc gia | 1 | 2025 |
- Giải vô địch Quốc gia
Vô địch: 1984, 2023
Á quân: 1980
Hạng 3: 1981-1982, 1989, 1999-2000, 2024-2025
- Cúp Quốc gia
Vô địch: 2024-2025
Á quân: 1995, 2000-2001
Hạng 3: 2001-2002
- Siêu cúp Quốc gia
Vô địch:2024-2025
- Shopee Cup
Á quân: 2024-2025
- Giải hạng Nhất Quốc gia
Vô địch: 2022
- Giải hạng A
Vô địch: 1962, 1964
- Dunhill Cup
Vô địch: 1999
Kình địch
[sửa | sửa mã nguồn] Hà Nội
[sửa | sửa mã nguồn] Câu lạc bộ Hà Nội được đầu tư bởi ACB (đội bóng nhận chuyển giao của Công an Hà Nội vào năm 2002) cho tới trước khi ngừng tham gia hoạt động bóng đá từng là một trong những đối trọng của Hà Nội T&T (tên gọi cũ của câu lạc bộ Hà Nội của bầu Hiển) tại Thủ đô. Trong các trận đấu ở sân Hàng Đẫy luôn xuất hiện tấm băng rôn của Hội Cổ động viên CLB Hà Nội - CHF (tiền thân là Hội Cổ động viên của Công an Hà Nội) với hàng chữ "Đây mới là Hà Nội này", nhằm mục đích tranh giành với đối thủ xem đâu mới là đội xứng đáng đại diện cho bóng đá thủ đô.[10] Sau khi Công an Hà Nội được tái lập trên cơ sở nhận chuyển giao suất chơi từ câu lạc bộ Công an Nhân dân từ mùa giải 2023, nhiều cổ động viên lại coi đây là đại diện thực sự của bóng đá Hà Nội do Công an Hà Nội về mặt pháp lý được công nhận là đại diện chính thức của bóng đá Thủ đô.[11] Sự kình địch nổ ra giữa một bên là đại diện đã được công nhận về mặt pháp lý một cách chính thức (Công an Hà Nội) và một bên là một đội bóng đã mang về cho thủ đô nhiều danh hiệu và thể diện trên đấu trường quốc nội cũng như quốc tế nhưng đang trên đường tìm kiếm sự thừa nhận (Hà Nội FC).
Hai đội gặp nhau lần đầu tại vòng 2 V.League 2023, khi Hà Nội giành chiến thắng 2–0 với các bàn thắng của Trần Văn Kiên và Nguyễn Văn Quyết.[12] Tuy nhiên trong trận tái đấu ở lượt về, Công an Hà Nội đã thắng lại đối thủ 2–1 nhờ cú đúp của Gustavo Henrique để vươn lên ngôi đầu bảng xếp hạng với 2 điểm nhiều hơn.[13][14] Sau đó, Công an Hà Nội đã thẳng tiến tới chức vô địch thứ hai trong lịch sử đội bóng còn câu lạc bộ Hà Nội có năm trắng tay đầu tiên của họ kể từ 2018. Chuỗi trắng tay của Hà Nội FC vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt trong khi Công an Hà Nội đã giành thêm Cúp Quốc gia mùa giải 2024-25 và Siêu cúp quốc gia năm 2025.
Thể Công – Viettel
[sửa | sửa mã nguồn] Trong quá khứ, những cuộc đối đầu giữa Công an Hà Nội và Thể Công luôn có một vị trí đặc biệt đối với nhiều cổ động viên bóng đá Việt Nam. Đó không chỉ là cuộc đấu của những thế hệ tài năng nhất của bóng đá Việt Nam mà còn là trận đấu giữa hai đội bóng cùng đóng đô ở Hà Nội, cùng đại diện cho lực lượng vũ trang nhân dân, và cùng là những thế lực lớn của bóng đá miền Bắc nói riêng và bóng đá Việt Nam nói chung. Đây cũng là cuộc đối đầu của những niềm tự hào, thường để phân định thủ đô sẽ mang màu xanh của Công an Hà Nội hay màu đỏ của Thể Công. Thể Công kiêu hãnh là đội bóng có nhiều chức vô địch cấp quốc gia nhất, trong khi Công an Hà Nội cũng có quyền tự hào khi luôn là đối thủ khó chơi nhất của Thể Công xuyên suốt chiều dài lịch sử. Thậm chí, Công an Hà Nội từng nhiều lần đánh bại Thể Công khi đối thủ đang ở ngay trước ngưỡng cửa vô địch.
Mặc dù diễn biến trên sân luôn kịch tính nhưng cầu thủ và các cổ động viên hai đội không bao giờ có những hành động quá khích nhằm vào nhau, và luôn dành cho nhau những sự tôn trọng cao.
Ngày 14 tháng 2 năm 2023, Công an Hà Nội để thua 1–2 trước Viettel ở vòng 3 V.League 2023 trên sân Hàng Đẫy. Đây là cuộc đối đầu chính thức đầu tiên của hai đội sau 21 năm.[15]
Biểu trưng
[sửa | sửa mã nguồn] -
2022–nay
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn] - Câu lạc bộ bóng đá Công an Nhân dân
- Câu lạc bộ bóng đá Công an Hà Nội B
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn] - ^ Một trận đấu được phân định thắng thua sau loạt sút luân lưu được coi là một trận hòa.
- ^ Do một số trận đấu tại bảng B có dấu hiệu tiêu cực, ban tổ chức đã không chọn 2 đội đứng đầu bảng này vào vòng bán kết, thay vào đó 2 đội đứng đầu bảng A được vào thẳng trận chung kết.
- ^ Công an Hà Nội không được công nhận kết quả trận gặp Công an Hải Phòng vòng 17 (thua 0–1) và bị trừ 3 điểm.
- ^ Được thăng hạng sau khi mua lại suất thi đấu của Quân khu 7
- ^ Mua lại suất thi đấu của Hà Tĩnh cũ
- ^ Được thăng hạng sau khi Gia Định rút lui
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn] - ^ a b "Nhớ về một tượng đài – Đội bóng đá Công an Hà Nội". TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ^ "Vang bóng một thời". Công an nhân dân. ngày 4 tháng 10 năm 2016.
- ^ cand.com.vn. "Xây dựng Đề án phát triển CLB bóng đá CAND chuyên nghiệp". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2023.
- ^ "Chuyển giao Câu lạc bộ bóng đá CAND về Công an TP Hà Nội". Công an nhân dân. ngày 24 tháng 11 năm 2022.
- ^ "Viết tiếp truyền thống vẻ vang của đội bóng Công an Hà Nội". Báo điện tử An ninh Thủ đô. ngày 10 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2023.
- ^ VnExpress. "CAHN vô địch V-League 2023". vnexpress.net. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2023.
- ^ "Công An Hà Nội". Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Facebook". www.facebook.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ^ Hai đội hòa nhau với tỷ số 4–4 sau hai lượt. Hải Quan thắng trong hiệp phụ nhờ luật bàn thắng vàng.
- ^ News, V. T. C. (ngày 29 tháng 12 năm 2012). "Thành Lương và giấc mơ người Hà Nội". Báo điện tử VTC News. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023. {{Chú thích web}}: |họ= có tên chung (trợ giúp)
- ^ "Câu lạc bộ bóng đá Công an Hà Nội sẵn sàng cho sân chơi V.League 2023". congan.hanoi.gov.vn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- ^ https://vtv.vn/bong-da-trong-nuoc/vong-2-vleague-2023-clb-ha-noi-2-0-cong-an-ha-noi-van-quyet-toa-sang-2023020918553882.htm
- ^ "Đánh bại CLB Hà Nội, CAHN chiếm ngôi đầu V-League". Báo điện tử Tiền Phong. ngày 6 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2023.
- ^ VnExpress. "HLV Hà Nội FC nghi ngờ trọng tài ở trận thua CAHN". vnexpress.net. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2024.
- ^ VnExpress. "Công an Hà Nội thua trận thứ hai liên tiếp". vnexpress.net. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2024.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn] | Câu lạc bộ bóng đá Công an Hà Nội – đội hình hiện tại |
|---|
- 1 Filip Nguyễn
- Minh Phúc
- 5 Văn Hậu
- 6 Văn Thiết
- 7 Quang Vinh
- 9 Jeferson
- 11 Thành Long
- 12 Văn Toản
- 15 Xuân Thịnh
- Mạnh Trường
- 17 Văn Thanh
- 18 Ngọc Thắng
- 19 Quang Hải(c)
- 20 P. Văn Đức
- 21 Văn Luân
- Trung Anh
- 26 Văn Phương
- 29 Trọng Long
- Đình Trọng
- 33 Sỹ Huy
- Văn Tấn
- 68 Việt Anh
- 72 Alan
- N. Văn Đức
- 88 Văn Đô
- 98 Tuấn Dương
- Huấn luyện viên: Pölking
|
| Những mùa bóng của Câu lạc bộ bóng đá Công an Hà Nội |
|---|
| Công an Hà Nội | 1980 1981-82 1982-83 1984 1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1996 1997 1998 1999 1999–2000 2000–01 2001–02 2023 2023–24 2024–25 2025–26 |
|---|
| Bóng đá Việt Nam |
|---|
- Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF)
- Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF)
|
| Đội tuyển quốc gia | | Nam | - Bóng đá
- U-23
- U-22
- U-21
- U-18/19/20
- U-16/17
- U-14
- Bóng đá trong nhà
- Bóng đá bãi biển
|
|---|
| Nữ | - Bóng đá
- Bóng đá trong nhà
|
|---|
|
|---|
| Giải đấu quốc gia | | Nam | - Bóng đá
- Vô địch
- Hạng Nhất
- Hạng Nhì
- Hạng Ba
- U-21
- U-19
- U-17
- U-15
- U-13
- U-11
- U-9
- Bóng đá trong nhà
- Bóng đá bãi biển
|
|---|
| Nữ | - Bóng đá
- Bóng đá trong nhà
|
|---|
|
|---|
| Cúp quốc gia | | Nam | - Bóng đá
- Bóng đá trong nhà
|
|---|
| Nữ | |
|---|
|
|---|
| Giải đấu giao hữu | - U-21 Báo Thanh Niên
- U-19 Báo Thanh Niên
- Cúp BTV
- Cúp VFF
- Cúp VTV–T&T
- Cúp Thành phố Hồ Chí Minh
- Cúp Độc lập
|
|---|
| Giải đấu khác | - Đại hội Thể thao toàn quốc
- Sinh viên toàn quốc
- Thanh Niên sinh viên
|
|---|
| Giải thưởng | - Quả bóng vàng Việt Nam
- Fair Play Việt Nam
- Chiếc giày vàng Việt Nam
|
|---|
| Kình địch | | Câu lạc bộ | - Đà Nẵng – Sông Lam Nghệ An
- Đồng Tháp – Long An (derby miền Tây)
- Hà Nội – Hải Phòng (derby miền Bắc)
- Hà Nội – Sông Lam Nghệ An
- Hải Phòng – Quảng Ninh (derby Đông Bắc Bộ)
- Gia Lai – Sông Lam Nghệ An
- Hồng Lĩnh Hà Tĩnh – Sông Lam Nghệ An (derby Nghệ Tĩnh)
- Công an Hà Nội – Công an Thành phố Hồ Chí Minh (derby ngành Công an)
- Quảng Nam – Đà Nẵng (derby Quảng Đà)
- Thanh Hóa – Sông Lam Nghệ An (derby Bắc Trung Bộ)
- Thể Công – Công an Hà Nội (derby Thủ đô)
|
|---|
| Đội tuyển quốc gia | - Việt Nam – Thái Lan
- Việt Nam – Indonesia
- Việt Nam – Malaysia
|
|---|
|
|---|
| Lịch sử | - Tổng quát
- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Việt Nam Cộng hòa
- Trận cầu đoàn tụ
|
|---|
- Danh sách
- Số liệu thống kê
- Tổng thể hệ thống thi đấu quốc gia
- Giải bóng đá Vô địch Quốc gia
|
| Giải bóng đá Vô địch Quốc gia Việt Nam |
|---|
| Các câu lạc bộmùa giải 2025–26 | - Becamex Thành phố Hồ Chí Minh
- Công an Hà Nội
- Công an Thành phố Hồ Chí Minh
- Đông Á Thanh Hóa
- Hà Nội
- Hải Phòng
- Hồng Lĩnh Hà Tĩnh
- Hoàng Anh Gia Lai
- PVF–CAND
- Ninh Bình
- SHB Đà Nẵng
- Sông Lam Nghệ An
- Thể Công – Viettel
- Thép Xanh Nam Định
|
|---|
| Mùa giải | - 1980
- 1981–82
- 1982–83
- 1984
- 1985
- 1986
- 1987
- 1989
- 1990
- 1991
- 1992
- 1993–94
- 1995
- 1996
- 1997
- 1998
- 1999 (tập huấn)
- 1999–00
- 2000–01
- 2001–02
- 2003
- 2004
- 2005
- 2006
- 2007
- 2008
- 2009
- 2010
- 2011
- 2012
- 2013
- 2014
- 2015
- 2016
- 2017
- 2018
- 2019
- 2020
- 2021
- 2022
- 2023
- 2023–24
- 2024–25
- 2025–26
|
|---|
| Giải đấu | - Câu lạc bộ
- Cầu thủ
- nhập tịch/Việt kiều
- nước ngoài ghi bàn
- Huấn luyện viên
- Sân vận động
|
|---|
| Số liệu thống kêvà giải thưởng | - Kỷ lục
- Vua phá lưới
- Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải
- HLV xuất sắc nhất mùa giải
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa giải
- Bàn thắng đẹp nhất mùa giải
- HLV xuất sắc nhất tháng
- Cầu thủ xuất sắc nhất tháng
- Bàn thắng đẹp nhất tháng
- Thủ môn ghi bàn
- V.League Awards
|
|---|
| Giải đấu liên kết | - Cúp Quốc gia
- Siêu cúp Quốc gia
- AFC Champions League Elite
- AFC Champions League Two
- ASEAN Club Championship
|
|---|
| Trận đấu đáng nhớ | - Nam Định 3–2 Hoàng Anh Gia Lai (2003)
- Đồng Nai 8–0 Thanh Hóa (2014)
- Thành phố Hồ Chí Minh 5–2 Long An (2017)
|
|---|
| Nhạc hiệu | |
|---|
Thể loại - Trang web chính thức
|
| Giải bóng đá Cúp Quốc gia |
|---|
| Các câu lạc bộmùa giải 2025–26 | | V.League 1 | - Becamex Thành phố Hồ Chí Minh
- Công an Hà Nội
- Công an Thành phố Hồ Chí Minh
- Đông Á Thanh Hóa
- Hà Nội
- Hải Phòng
- Hồng Lĩnh Hà Tĩnh
- Hoàng Anh Gia Lai
- PVF–CAND
- Ninh Bình
- SHB Đà Nẵng
- Sông Lam Nghệ An
- Thể Công – Viettel
- Thép Xanh Nam Định
|
|---|
| V.League 2 | - Bắc Ninh
- Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại học Văn Hiến
- Đồng Tháp
- Khatoco Khánh Hòa
- Long An
- Quảng Ninh
- Quy Nhơn United
- Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Tươi Đồng Nai
- Xuân Thiện Phú Thọ
|
|---|
|
|---|
| Mùa giải | - 1992
- 1993
- 1994
- 1995
- 1996
- 1997
- 1998
- 1999–00
- 2000–01
- 2001–02
- 2003
- 2004
- 2005
- 2006
- 2007
- 2008
- 2009
- 2010
- 2011
- 2012
- 2013
- 2014
- 2015
- 2016
- 2017
- 2018
- 2019
- 2020
- 2021
- 2022
- 2023
- 2023–24
- 2024–25
- 2025–26
|
|---|
| Nhạc hiệu | |
|---|
| |
| Các câu lạc bộ bóng đá cũ ở Việt Nam |
|---|
| Giải thể trước năm 2000 | Ngôi sao Gia Định (1954) • Cảng Hải Phòng (1991) • Điện Hải Phòng (1993) • Dệt Nam Định (1993) • Công an Thanh Hóa (1994) • Công an Hà Bắc (1996) • Cao su Bình Long (1997) • Hải Hưng (1997) • Công nhân Xây dựng Hà Nội (?) • Công nhân Xây dựng Hải Phòng (?) • Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (?) • Công an Quảng Nam – Đà Nẵng (?) • Gò Dầu (?) • Công nghiệp Việt Trì Vĩnh Phú (?) |
|---|
| Giải thể sau năm 2000 | Tổng cục Đường sắt (2000) • Thanh niên Hà Nội (2002) • Hải quan (2002) • Hàng không Việt Nam (2003) • Ngân hàng Đông Á (2005) • Quân khu 9 (2006) • Quân khu 4 (2009) • Hòa Phát Hà Nội (2011) • Quân khu 7 (2011) • Hà Nội ACB (2012) • Navibank Sài Gòn (2012) • Ninh Thuận (2012) • Xi măng Xuân Thành Sài Gòn (2013) • Kiên Giang (2013) • T&T Baoercheng (2014) • An Giang (2014, 2021) • Xi măng The Vissai Ninh Bình (2015) • Mancons Sài Gòn (2018) • Cà Mau (2018) • Hoàng Sang (2019) • Triệu Minh (2021) • Than Quảng Ninh (2021) • Kon Tum (2022) • Sài Gòn (2023) • Bình Thuận (2023) • Gama Vĩnh Phúc (2024) |
|---|
| Đã đổi tên | Công nhân Nghĩa Bình (1989) • Phú Khánh (1989) • Công nghiệp Hà Nam Ninh (1991) • Sông Lam Nghệ Tĩnh (1991) • Sông Bé (1996) • Công nhân Quảng Nam – Đà Nẵng (1997) • Công an Hải Phòng (2002) • Cảng Sài Gòn (2003) • Thể Công (2009) • Hà Nội T&T (2016) • Công an Nhân dân (2022) • Phù Đổng (2023) • Bình Phước (2023) • LPBank Thành phố Hồ Chí Minh (2024) |
|---|
| Đã tái lập | Trẻ SHB Đà Nẵng (2018) • Công an Hà Nội (2022) • Công an Thành phố Hồ Chí Minh (2025) |
|---|