Đổi Mới Tổ Chức Bộ Máy Tòa án Nhân Dân Tinh Gọn, Hoạt động Hiệu ...

Sự cần thiết phải đổi mới tổ chức bộ máy tòa án nhân dân

Trải qua hơn 75 năm xây dựng và phát triển, hệ thống TAND đã không ngừng đổi mới cả về tổ chức và hoạt động để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, nhiệm vụ ngày càng nặng nề đặt ra trong các giai đoạn cách mạng của đất nước. Địa vị pháp lý của tòa án được khẳng định là trung tâm của hoạt động tư pháp; tổ chức bộ máy dần được hoàn thiện; chức năng, nhiệm vụ được tăng cường; chất lượng, hiệu quả công tác không ngừng được nâng cao, hoàn thành tốt các chỉ tiêu, yêu cầu Quốc hội đề ra. Đội ngũ thẩm phán, cán bộ tòa án dần được củng cố về số lượng và nâng cao chất lượng; cơ sở vật chất, điều kiện bảo đảm có bước cải thiện đáng kể. Việc đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng TAND trong sạch, vững mạnh trong thời gian gần đây theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI và XII) đã nâng cao vị thế, uy tín của tòa án và góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn hoạt động của tòa án nhân dân thời gian qua đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế, như tổ chức bộ máy ở một số tòa án có chỗ chưa thực sự khoa học, thiếu đồng bộ, chưa sát thực tiễn; biên chế thiếu nhiều so với yêu cầu, nhiệm vụ; đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp còn thiếu, cơ cấu không hợp lý, chuyên gia đầu ngành còn ít; một số cán bộ hạn chế về trình độ, năng lực; công tác hành chính tư pháp, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu; chính sách tiền lương còn bất cập; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của tòa án chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ. Bên cạnh đó, tình hình quốc tế hiện nay có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó dự báo; đất nước đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ, nhưng cũng phải đối diện với những khó khăn, thách thức mới. Bối cảnh đó đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hệ thống TAND.

Thứ nhất, 10 năm qua, quy mô dân số và quy mô nền kinh tế tăng nhanh (dân số tăng thêm gần 11 triệu người và GDP tăng gấp 2,4 lần); đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng đã kéo theo sự gia tăng mạnh các loại tội phạm, tranh chấp và khiếu kiện, nhất là các tội phạm phi truyền thống, tội phạm xuyên quốc gia và các loại tranh chấp mới. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của kinh tế số, kinh tế chia sẻ đã làm phát sinh nhiều loại tranh chấp chưa từng xảy ra trước đây, đặt ra nhiệm vụ cho tòa án phải theo kịp xu thế và giải quyết kịp thời.

Thứ hai, quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật thời gian qua đã giao thêm cho tòa án nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền mới để phù hợp với vị trí, vai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Trong đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Xu thế mở rộng thẩm quyền, tăng thêm nhiệm vụ cho tòa án cũng góp phần dẫn tới thực trạng số lượng vụ việc tòa án phải giải quyết hằng năm tăng trung bình 8%. Thực tế cho thấy, số lượng vụ việc tòa án giải quyết năm 2020 cao gấp hơn 3 lần so với năm 2005 và cao gấp gần 2 lần so với năm 2012.

Thứ ba, thực trạng tổ chức và hoạt động của TAND đang tồn tại mâu thuẫn lớn giữa sự gia tăng mạnh về số lượng công việc phải giải quyết với yêu cầu tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015, của Bộ Chính trị, “Về việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”; giữa việc thực hiện chế độ, chính sách theo quy định hiện hành với việc bảo đảm chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, tương ứng với sự gia tăng về khối lượng và hiệu quả công tác, cũng như theo yêu cầu ngày càng cao của cải cách tư pháp.

Thứ tư, yêu cầu, đòi hỏi của nhân dân đối với hoạt động của tòa án ngày càng cao; nhiệm vụ bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013 đặt ra cho hệ thống TAND trọng trách lớn, phải không ngừng nỗ lực để nâng cao uy tín trước nhân dân, thực sự là chỗ dựa của người dân trong bảo vệ công lý.

Thứ năm, xu thế hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng đã và đang đặt ra yêu cầu phải thực hiện đầy đủ, hiệu quả các cam kết quốc tế của Việt Nam, chủ động, tích cực tham gia có trách nhiệm vào các định chế pháp lý quốc tế. Do vậy, tòa án phải rà soát, đề xuất cải cách thể chế, pháp luật cho phù hợp; đồng thời, khẩn trương đào tạo nguồn cán bộ chất lượng cao, đủ trình độ giải quyết các tranh chấp quốc tế, các vụ việc có yếu tố nước ngoài và các loại vụ việc mới phát sinh thuộc thẩm quyền.

Thứ sáu, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra thời cơ đối với tòa án trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để đổi mới tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động; tăng cường công khai, minh bạch; tạo các điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận công lý; tăng cường quản lý, giám sát hoạt động của tòa án theo thời gian thực tế.

Thứ bảy, cải cách tư pháp nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nói riêng là xu thế toàn cầu, có tính liên tục, phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn diễn ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Ở nước ta, nhiệm vụ này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh nền tư pháp còn nhiều yếu kém, hạn chế trên các phương diện: thể chế pháp lý, tổ chức bộ máy, năng lực trình độ và điều kiện bảo đảm. Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 và một số đạo luật về tố tụng tư pháp đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập trong tổ chức và hoạt động cần sớm được sửa đổi để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng tòa án xứng đáng là biểu tượng của công lý, lẽ phải và niềm tin.

Từ khóa » Vị Trí Tạp Chí Tòa án