Đội tuyển bóng đá quốc gia Ai Cập (tiếng Ả Rập: مُنتخب مَــصـر, Montakhab Masr), với biệt danh Các Pharaoh, là đội tuyển cấp quốc gia của Ai Cập do Hiệp hội bóng đá Ai Cập quản lý. Đây là đội bóng châu Phi thành công nhất ở cấp độ khu vực, khi đã 7 lần đoạt chức vô địch Cúp bóng đá châu Phi: 1957, 1959, 1986, 1998, 2006, 2008 và 2010.
Ai Cập là đội bóng đầu tiên của châu Phi dự Giải bóng đá vô địch thế giới khi có mặt tại Ý năm 1934, thua Hungary 2–4. Sau đó Ai Cập cũng vượt qua vòng loại World Cup hai lần vào các năm 1990 và 2018, tuy nhiên không qua được vòng bảng. Họ mang tên Đội tuyển bóng đá quốc gia Cộng hoà Ả Rập Thống nhất khi Ai Cập và Syria sáp nhập thành Cộng hòa Ả Rập Thống nhất từ 1958 đến 1961 và một mình Ai Cập mang tên này cho đến 1970. Họ hai lần dự trận tranh huy chương đồng tại Olympic (1928 và 1964), tuy nhiên thất bại cả hai. Thủ môn huyền thoại Essam El Hadary của họ cũng đang giữ kỷ lục là cầu thủ nhiều tuổi nhất từng thi đấu ở một kỳ World Cup.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]
Đội tuyển bóng đá quốc gia Ai Cập đầu tiên được thành lập vào năm 1920, trở thành đội tuyển bóng đá quốc gia đầu tiên của châu Phi được thành lập để tham dự Thế vận hội Mùa hè tại Bỉ. Trận mở màn của họ là một thất bại trước đội tuyển Ý.
Đội tuyển Ai Cập tại Thế vận hội Mùa hè 1920Đội tuyển Ai Cập tại World Cup 1934 ở Ý
Ai Cập đã 3 lần giành quyền tham dự FIFA World Cup: vào các năm 1934, 1990 và 2018. Họ là quốc gia châu Phi đầu tiên giành vé dự World Cup, khi đánh bại đội Palestine dưới sự ủy trị của Anh. Tại World Cup 1934, Ai Cập để thua Hungary với tỷ số 4–2 trong trận đấu duy nhất, hai bàn thắng của Ai Cập đều do Abdulrahman Fawzi ghi bàn.
Abdulrahman Fawzi ghi hai bàn tại FIFA World Cup 1934 ở Ý.
Tại vòng loại World Cup 1938, Ai Cập rút lui. Họ không tham gia vòng loại năm 1950. Tại vòng loại năm 1954, Ai Cập gặp Ý nhưng không thể vượt qua để giành vé. Ai Cập lần đầu tham dự Cúp bóng đá châu Phi (AFCON) ngay ở giải đấu khai mạc năm 1957. Trong trận đấu đầu tiên (vòng bán kết), họ gặp Sudan và thắng 2–1; sau đó, Ai Cập thắng 4–0 trong trận chung kết để giành chức vô địch.[3] Họ rút lui khỏi giải đấu năm 1958, nhưng chỉ một năm sau, Ai Cập lại giành chức vô địch AFCON. Giải đấu năm đó chỉ có ba đội tham dự: Ethiopia, Sudan và Ai Cập – và Ai Cập bất bại trong suốt cả giải.[4]
Đội trưởng Hanafy Bastan của Ai Cập nâng cao chiếc cúp vô địch Cúp bóng đá châu Phi năm 1957.
Trong giai đoạn 1958–1961, đất nước Ai Cập và Syria có một liên minh chính trị, mang tên Cộng hòa Ả Rập Thống nhất, tuy nhiên hồ sơ thi đấu của đội tuyển trong giai đoạn này vẫn được FIFA tính cho Ai Cập, vì toàn bộ cầu thủ là người Ai Cập. Ai Cập rút lui khỏi vòng loại World Cup các năm 1962, 1966 và 1970. Họ tham gia vòng loại World Cup 1974 nhưng không thể vượt qua.
Tại Cúp bóng đá châu Phi 1962, Ai Cập lần đầu tiên thua trong một trận chung kết.[5] Lần tham dự AFCON thứ tư của họ là vào năm 1963 tại Ghana. Ai Cập được xếp vào bảng B cùng Sudan và Nigeria, họ thắng Nigeria 6–3 nhưng hòa Sudan 2–2. Dù bất bại ở vòng bảng, Ai Cập chỉ đứng nhì bảng do thua Sudan về hiệu số bàn thắng bại. Với vị trí nhì bảng, Ai Cập tham dự trận tranh hạng ba và giành chiến thắng 3–0 trước Ethiopia.[6] Tại Cúp bóng đá châu Phi 1965, Ai Cập đủ điều kiện tham dự giải đấu nhưng rút lui do mâu thuẫn ngoại giao với nước chủ nhà Tunisia.[7] Họ cũng rút lui khỏi giải đấu năm 1968.[8]
Tại Cúp bóng đá châu Phi 1970, được tổ chức tại Sudan, Ai Cập nằm ở bảng B cùng với Ghana, Guinea và Cộng hòa Dân chủ Congo (khi đó gọi là Congo-Kinshasa). Ở trận mở màn, Ai Cập thắng Guinea 4–1, hòa Ghana 1–1 và sau đó thắng Congo-Kinshasa 1–0. Ai Cập đứng đầu bảng và giành quyền vào vòng tiếp theo, nơi họ gặp Sudan. Ai Cập để thua trận đầu tiên trong lịch sử AFCON với tỷ số 2–1, sau đó thắng Bờ Biển Ngà 3–1 trong trận tranh hạng ba.[9] Ai Cập lần đầu tiên không vượt qua vòng loại AFCON vào năm 1972, khi bị Maroc loại với tổng tỉ số 5–3.[10] Tuy nhiên, họ trở lại vào năm 1974 với tư cách chủ nhà và kết thúc ở vị trí thứ ba.[11] Hai năm sau, tại Ethiopia, Ai Cập nằm ở bảng A cùng đội chủ nhà, Guinea và Uganda. Họ thắng Uganda 2–1, hòa Uganda và Ethiopia. Ai Cập giành quyền vào vòng chung kết, nhưng để thua cả ba trận.[12] Đây là lần đầu tiên Ai Cập để thua liên tiếp ba trận tại một kỳ Cúp bóng đá châu Phi. Họ sau đó không vượt qua vòng loại năm 1978.[13]
Ai Cập tại Cúp bóng đá châu Phi 1974
Ai Cập trở lại tại AFCON 1980, thắng Bờ Biển Ngà và Tanzania nhưng thua đội chủ nhà Nigeria 0–1. Họ lọt vào bán kết và gặp Algeria, nhưng để thua trên chấm luân lưu.[14] Bốn năm sau, Ai Cập thắng Cameroon và Bờ Biển Ngà, hòa Togo, và kết thúc ở vị trí thứ tư, xếp sau Algeria.[15] Năm 1986, Ai Cập là chủ nhà; họ để thua Senegal 0–1 ở trận mở màn, nhưng thắng cả hai trận còn lại ở vòng bảng: 2–0 trước Bờ Biển Ngà và Mozambique. Ai Cập lọt vào chung kết lần đầu tiên kể từ năm 1962 và lên ngôi vô địch.[16] Ai Cập giành quyền dự AFCON 1990 nhưng thua cả ba trận vòng bảng, lần đầu tiên không giành được bất kỳ điểm nào tại giải đấu.[17] Cũng trong năm đó, Ai Cập dự World Cup sau khi đánh bại Algeria 1–0 ở vòng play-off. Tại World Cup, họ nằm ở bảng F cùng Ireland, Anh và Hà Lan. Ai Cập chỉ ghi được một bàn thắng ở giải – bàn gỡ hòa 1–1 trước nhà vô địch Euro 1988 Hà Lan, qua đó giành điểm đầu tiên trong lịch sử World Cup. Họ sau đó hòa Ireland và thua Anh 0–1.
Đội tuyển Ai Cập thua cả hai trận tại AFCON 1992.[17] Tại AFCON 1994 ở Tunisia, Ai Cập thắng Gabon 4–0, hòa Nigeria 0–0, nhưng thua Mali 0–1 ở tứ kết.[18] Năm 1998, Ai Cập giành chức vô địch châu Phi lần thứ tư, khi đánh bại Nam Phi trong trận chung kết.[19] Ai Cập góp mặt tại AFCON 2004 ở Tunisia, nằm ở bảng C cùng Algeria, Zimbabwe và Cameroon. Họ thắng Zimbabwe 2–1, nhưng thua Algeria 1–2 và hòa Cameroon 0–0. Do có cùng điểm số và hiệu số bàn thắng bại với Algeria nhưng ghi ít bàn hơn, Ai Cập không thể vào vòng tứ kết.[20]
Đến AFCON 2006 được tổ chức tại Ai Cập. Ở vòng bảng, họ nằm cùng bảng với Libya, Maroc và Bờ Biển Ngà. Ai Cập giành 7 điểm và tiến thẳng vào chung kết, nơi họ đánh bại Bờ Biển Ngà trên chấm luân lưu để vô địch. Ai Cập tiếp tục bảo vệ thành công danh hiệu ở AFCON 2008 và 2010, trở thành đội tuyển đầu tiên vô địch ba kỳ liên tiếp.[21][22] Tuy nhiên, họ sau đó không thể vượt qua vòng loại trong ba kỳ AFCON kế tiếp.
Ai Cập trở lại tại AFCON 2017, hòa Mali ở trận mở màn bảng D.[23] Sau đó, họ thắng Uganda và Ghana với cùng tỉ số 1–0, đứng đầu bảng và giành quyền vào vòng tứ kết.[24][25] Ai Cập đánh bại Maroc ở tứ kết – lần đầu tiên trong 31 năm – để vào bán kết gặp Burkina Faso.[26] Bàn thắng của Mohamed Salah bị gỡ hòa bởi Aristide Bancé, nhưng thủ môn kỳ cựu Essam El Hadary cản phá hai quả luân lưu, giúp Ai Cập lọt vào trận chung kết.[27] Ở trận chung kết, họ gặp Cameroon và để thua, đây là lần thứ hai Ai Cập thất bại trong một trận chung kết AFCON.
Ngày 8 tháng 10 năm 2017, Ai Cập chính thức giành vé dự World Cup 2018 sau khi đứng đầu bảng E, vượt qua Uganda, Ghana và Congo.[28] Ở vòng chung kết, Ai Cập nằm ở bảng A cùng với Ả Rập Xê Út, Uruguay và chủ nhà Nga. Trong trận mở màn gặp Uruguay, Mohamed Salah không ra sân do chấn thương trong trận chung kết UEFA Champions League. Ai Cập để thua 0–1, và thủ môn Mohamed El Shenawy được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất trận, nhưng anh từ chối nhận giải vì giải thưởng được tài trợ bởi hãng bia Budweiser.[29] Salah trở lại đội hình xuất phát trong trận gặp Nga. Dù bị dẫn trước 0–3, Salah ghi bàn thắng đầu tiên của Ai Cập tại World Cup sau 28 năm. Trận cuối cùng, Ai Cập gặp Ả Rập Xê Út trong trận “Derby Biển Đỏ”, khi cả hai đều đã bị loại sau hai thất bại. Thủ môn Essam El Hadary trở thành cầu thủ lớn tuổi nhất từng thi đấu tại World Cup, ở tuổi 45 và 161 ngày. Ai Cập để thua 1–2.[30]
HLV Héctor Cúper, người bị chỉ trích vì lối đá quá thiên về phòng ngự trong trận gặp Ả Rập Xê Út, đã bị sa thải sau giải đấu.[31] Hiệp hội Bóng đá Ai Cập cũng bị chỉ trích vì đặt đại bản doanh ở Chechnya – quá xa nơi diễn ra các trận đấu của đội tuyển.[32] Truyền thông và người hâm mộ Ai Cập đã gay gắt chỉ trích cách EFA điều hành đội bóng.[33][34][35]
Tại Cúp bóng đá châu Phi 2019, với tư cách chủ nhà, Ai Cập toàn thắng cả ba trận vòng bảng nhưng bất ngờ bị Nam Phi loại ở vòng 1/8.[36] Đến AFCON 2021, dù chơi không thuyết phục ở vòng bảng, Ai Cập vẫn vào chung kết sau khi đánh bại Bờ Biển Ngà trên chấm luân lưu (0–0 trong 120 phút) và sau đó tiếp tục vượt qua Cameroon 3–1 trên chấm luân lưu (hòa 0–0), qua đó lọt vào trận chung kết lần thứ 10 – phá kỷ lục số lần vào chung kết của Ghana. Ai Cập để thua Senegal trong cả hai lần đối đầu quan trọng vào năm 2022: một lần ở chung kết AFCON và một lần ở vòng loại World Cup, đều trên chấm phạt đền, và cả hai lần bàn thắng quyết định đều được thực hiện bởi Sadio Mané.[37]
Trang phục thi đấu
[sửa | sửa mã nguồn]
Áo đấu sân nhà của đội tuyển Ai Cập là màu đỏ, sân khách là màu trắng, áo đấu thứ ba là màu xanh lá.
Tính đến nay, đội tuyển Ai Cập mới 3 lần tham dự các vòng chung kết Giải bóng đá vô địch thế giới, cả ba lần dự giải đều dừng bước ở vòng 1.
Vòng chung kết
Vòng loại
Năm
Kết quả
Hạng
ST
T
H
B
BT
BB
Đội hình
ST
T
H
B
BT
BB
1930
Rút lui[38]
Được mời tham dự
1934
Vòng 1/8
13th
1
0
0
1
2
4
Đội hình
2
2
0
0
11
2
1938
Rút lui
Rút lui
1950
Không tham dự
Không tham dự
1954
Không vượt qua vòng loại
2
0
0
2
2
7
1958
Rút lui
Rút lui
1962
1966
1970
Không tham dự
Không tham dự
1974
Không vượt qua vòng loại
2
1
0
1
2
3
1978
10
6
2
2
15
12
1982
2
0
1
1
0
1
1986
6
2
2
2
3
4
1990
Vòng bảng
20th
3
0
2
1
1
2
Đội hình
8
4
3
1
7
2
1994
Không vượt qua vòng loại
6
3
2
1
9
3
1998
6
3
1
2
15
5
2002
10
5
4
1
22
9
2006
10
5
2
3
26
15
2010
13
9
1
3
22
7
2014
8
7
0
1
19
14
2018
Vòng bảng
31st
3
0
0
3
2
6
Đội hình
8
5
1
2
12
5
2022
Không vượt qua vòng loại
8
5
2
1
11
5
2026
Đang trong giai đoạn vòng loại
8
6
2
0
16
2
2030
Chưa xác định
Chưa xác định
2034
Tổng
Vòng 1/8
4/22
7
0
2
5
5
12
—
109
63
23
23
192
96
Cúp bóng đá châu Phi
[sửa | sửa mã nguồn]
Ai Cập đang giữ kỉ lục 7 lần vô địch châu Phi, trong đó có 3 lần liên tiếp và 19 trận bất bại (từ 2006 đến 2010). Đội cũng giữ kỉ lục 14 lần liên tiếp có mặt ở vòng chung kết (từ 1984 đến 2010).
Vòng chung kết
Vòng loại
Năm
Kết quả
Hạng
ST
T
H
B
BT
BB
Đội hình
ST
T
H
B
BT
BB
Với tư cách Ai Cập
Với tư cách Ai Cập
1957
Vô địch
1st
2
2
0
0
6
1
Đội hình
Không có vòng loại
Với tư cách
Cộng hòa Ả Rập Thống nhất
Với tư cách
Cộng hòa Ả Rập Thống nhất
1959
Vô địch
1st
2
2
0
0
6
1
Đội hình
Không có vòng loại
1962
Á quân
2nd
2
1
0
1
4
5
Đội hình
Vượt qua vòng loại với tư cách đương kim vô địch
1963
Hạng 3
3rd
3
2
1
0
11
5
Đội hình
Được đặc cách vượt qua vòng loại
1965
Rút lui
Rút lui
1968
Rút lui
3
2
1
0
6
4
1970
Hạng 3
3rd
5
3
1
1
10
5
Đội hình
2
1
1
0
2
1
Với tư cách Ai Cập
Với tư cách Ai Cập
1972
Không vượt qua vòng loại
4
3
0
1
6
6
1974
Hạng 3
3rd
5
4
0
1
13
5
Đội hình
Vượt qua vòng loại với tư cách chủ nhà
1976
Hạng 4
4th
6
1
2
3
9
12
Đội hình
4
3
1
0
11
3
1978
Không vượt qua vòng loại
2
0
1
1
4
5
1980
Hạng 4
4th
5
2
1
2
6
7
Đội hình
2
1
0
1
4
3
1982
Rút lui
2
2
0
0
7
3
1984
Hạng 4
4th
5
2
2
1
6
6
Đội hình
4
2
1
1
3
2
1986
Vô địch
1st
5
3
1
1
5
1
Đội hình
Vượt qua vòng loại với tư cách chủ nhà
1988
Vòng bảng
6th
3
1
1
1
3
1
Đội hình
Vượt qua vòng loại với tư cách đương kim vô địch
1990
8th
3
0
0
3
1
6
Đội hình
4
2
1
1
8
2
1992
11th
2
0
0
2
0
2
Đội hình
6
3
3
0
13
5
1994
Tứ kết
5th
3
1
1
1
4
1
Đội hình
6
2
2
2
6
5
1996
7th
4
2
0
2
5
6
Đội hình
10
6
3
1
24
5
1998
Vô địch
1st
6
4
1
1
10
1
Đội hình
6
2
3
1
12
4
2000
Tứ kết
5th
4
3
0
1
7
3
Đội hình
Vượt qua vòng loại với tư cách đương kim vô địch
2002
6th
4
2
0
2
3
3
Đội hình
6
4
1
1
11
6
2004
Vòng bảng
9th
3
1
1
1
3
3
Đội hình
4
3
0
1
14
1
2006
Vô địch
1st
6
4
2
0
12
3
Đội hình
Vượt qua vòng loại với tư cách chủ nhà
2008
Vô địch
1st
6
5
1
0
15
5
Đội hình
6
3
3
0
9
2
2010
Vô địch
1st
6
6
0
0
15
2
Đội hình
13
9
1
3
22
7
2012
Không vượt qua vòng loại
6
1
2
3
5
5
2013
2
0
1
1
3
4
2015
6
2
0
4
5
6
2017
Á quân
2nd
6
3
2
1
5
3
Đội hình
4
3
1
0
7
1
2019
Vòng 1/8
10th
4
3
0
1
5
1
Đội hình
6
4
1
1
16
5
2021
Á quân
2nd
7
3
3
1
4
2
Đội hình
6
3
3
0
10
3
2023
Vòng 1/8
12th
4
0
4
0
7
7
Đội hình
6
5
0
1
10
3
2025
Vượt qua vòng loại
6
4
2
0
12
2
2027
Chưa xác định
Chưa xác định
2029
Tổng
7 danh hiệu
27/35
111
60
24
27
175
97
—
125
70
31
24
229
92
Cúp Liên đoàn các châu lục
[sửa | sửa mã nguồn]
Ai Cập từng 2 lần tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục với tư cách nhà vô địch châu Phi. Tuy nhiên họ đều không vượt qua vòng bảng.
Cúp Liên đoàn các châu lục
Năm
Kết quả
Hạng
ST
T
H
B
BT
BB
Đội hình
1992
Không vượt qua vòng loại
1995
1997
1999
Vòng bảng
7th
3
0
2
1
5
9
Đội hình
2001
Không vượt qua vòng loại
2003
2005
2009
Vòng bảng
6th
3
1
0
2
4
7
Đội hình
2013
Không vượt qua vòng loại
2017
Tổng
Vòng bảng
2/10
6
1
2
3
9
16
—
Thế vận hội
[sửa | sửa mã nguồn]
Ai Cập đã từng 9 lần tham dự Thế vận hội, trong đó thành tích tốt nhất là 2 lần hạng tư (1928, 1964).
(Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
Thế vận hội Mùa hè
Năm
Kết quả
Hạng
ST
T
H
B
BT
BB
Đội hình
1908
Không tham dự
1912
1920
Vòng 1
8th
1
0
0
1
1
2
Đội hình
1924
Tứ kết
8th
2
1
0
1
3
5
Đội hình
1928
Hạng 4
4th
4
2
0
2
12
19
Đội hình
1936
Vòng 1
11th
1
0
0
1
1
3
Đội hình
1948
Vòng 1
13th
1
0
0
1
1
3
Đội hình
1952
Vòng 1
12th
2
1
0
1
6
7
Đội hình
1956
Rút lui
1960
Vòng 1
12th
3
0
1
2
4
11
Đội hình
1964
Hạng 4
4th
6
2
1
3
18
16
Đội hình
1968
Rút lui
1972
Không vượt qua vòng loại
1976
1980
Rút lui
1984
Tứ kết
8th
4
1
1
2
5
5
Đội hình
1988
Không vượt qua vòng loại
1992 đến nay
Xem Đội tuyển bóng đá U-23 quốc gia Ai Cập
Tổng
Hạng 4
9/17
24
7
3
14
51
71
—
Cúp bóng đá Ả Rập
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm
Thành tích
Thứ hạng
ST
T
H
B
BT
BB
1963 đến 1985
Không tham dự
1988
Bán kết
3rd
6
3
2
1
6
0
1992
Vô địch
1st
4
3
1
0
5
3
1998
Vòng bảng
10th
2
1
0
1
3
5
2002
Không tham dự
2012
Vòng bảng
7th
3
0
2
1
3
4
2021
Bán kết
4th
6
3
2
1
10
2
Tổng cộng
1 lần vô địch
5/10
21
10
7
4
27
14
Đại hội Thể thao châu Phi
[sửa | sửa mã nguồn]
(Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1987)
Năm
Thành tích
ST
T
H
B
BT
BB
Brazzaville 1965
Không vượt qua vòng loại
Lagos 1973
Huy chương đồng
5
3
0
2
12
12
Algiers 1978
Bỏ cuộc khi đang tham dự
3
2
1
0
6
2
Nairobi 1987
Huy chương vàng
5
3
1
1
6
4
Tổng cộng
1 lần huychương vàng
13
8
2
3
24
18
Kết quả thi đấu
[sửa | sửa mã nguồn]
2025
[sửa | sửa mã nguồn]Ethiopia v Ai Cập
21 tháng 3Vòng loại FIFA World Cup 2026
Ethiopia
0–2
Ai Cập
Casablanca, Morocco
23:00 UTC+1
Chi tiết
Salah 31'
Zizo 40'
Sân vận động: Sân vận động Larbi Zaouli Lượng khán giả: 300Trọng tài: Patrice Milazar (Mauritius)
Ai Cập v Sierra Leone
25 tháng 3Vòng loại FIFA World Cup 2026
Ai Cập
1–0
Sierra Leone
Cairo, Ai Cập
21:00 UTC+2
Zizo 45+2'
Chi tiết
Sân vận động: Sân vận động quốc tế Cairo Trọng tài: Ahmad Heeralall (Mauritius)
Ai Cập v Ethiopia
5 tháng 9Vòng loại FIFA World Cup 2026
Ai Cập
2–0
Ethiopia
Cairo, Ai Cập
21:00 UTC+2
Salah 41' (ph.đ.)
Marmoush 45+2' (ph.đ.)
Chi tiết
Sân vận động: Sân vận động quốc tế Cairo Lượng khán giả: 37,000Trọng tài: Abongile Tom (Nam Phi)
Burkina Faso v Ai Cập
9 tháng 9Vòng loại FIFA World Cup 2026
Burkina Faso
0–0
Ai Cập
Ouagadougou, Burkina Faso
16:00 UTC±0
Chi tiết
Sân vận động: Sân vận động 4 tháng 8 Trọng tài: Messie Nkounkou (Cộng hòa Congo)
Djibouti v Ai Cập
8 tháng 10Vòng loại FIFA World Cup 2026
Djibouti
0–3
Ai Cập
Casablanca, Maroc
17:00 UTC+1
Chi tiết
Sân vận động: Sân vận động Larbi Zaouli
Ai Cập v Guiné-Bissau
12 tháng 10Vòng loại FIFA World Cup 2026
Ai Cập
1–0
Guiné-Bissau
Cairo, Ai Cập
21:00 UTC+2
Chi tiết
Sân vận động: Sân vận động quốc tế Cairo
Uzbekistan v Ai Cập
14 tháng 11Giao hữu
Uzbekistan
2–0
Ai Cập
Al Ain, UAE
20:00 UTC+4
Urunov 4', 43'
Chi tiết
Sân vận động: Sân vận động Hazza bin Zayed Trọng tài: Ahmed Eisa Mohamed Darwish (UAE)
Cabo Verde v Ai Cập
17 tháng 11Giao hữu
Cabo Verde
1–1(0–2 p)
Ai Cập
Al Ain, UAE
17:00
Rodrigues 7' (ph.đ.)
Chi tiết
Marmoush 57'
Sân vận động: Sân vận động Hazza bin Zayed Lượng khán giả: 2,300Trọng tài: Rawdha Al Mansoori (UAE)
Loạt sút luân lưu
Diney
Monteiro
Pina
Mendes
Marmoush
Abdelmaguid
Hamdy
Faisal
Ai Cập v Kuwait
2 tháng 12Vòng bảng Cúp bóng đá Ả Rập 2025
Ai Cập
1–1
Kuwait
Lusail, Qatar
17:30 UTC+3
Afsha 88' (ph.đ.)
Chi tiết
Al Hajeri 64'
Sân vận động: Sân vận động Lusail Lượng khán giả: 24,632Trọng tài: Espen Eskås (Na Uy)
UAE v Ai Cập
6 tháng 12Vòng bảng Cúp bóng đá Ả Rập 2025
UAE
1–1
Ai Cập
Lusail, Qatar
21:30 UTC+3
Caio 60'
Chi tiết
Hamdy 85'
Sân vận động: Sân vận động Lusail Lượng khán giả: 36,299Trọng tài: Glenn Nyberg (Thụy Điển)
Ai Cập v Jordan
9 tháng 12Vòng bảng Cúp bóng đá Ả Rập 2025
Ai Cập
0–3
Jordan
Al Khor, Qatar
17:30 UTC+3
Abu Hashish 19'
Abu Zrayq 41'
Olwan 90+2' (ph.đ.)
Sân vận động: Sân vận động Al Bayt Lượng khán giả: 55,658Trọng tài: Ismail Elfath (Hoa Kỳ)
Ai Cập v Zimbabwe
22 tháng 12Vòng bảng Cúp bóng đá châu Phi 2025
Ai Cập
v
Zimbabwe
Agadir, Maroc
19:00 UTC+1
Sân vận động: Sân vận động Adrar
Ai Cập v Nam Phi
26 tháng 12Vòng bảng Cúp bóng đá châu Phi 2025
Ai Cập
v
Nam Phi
Agadir, Maroc
19:00 UTC+1
Sân vận động: Sân vận động Adrar
Ai Cập v Angola
29 tháng 12Vòng bảng Cúp bóng đá châu Phi 2025
Ai Cập
v
Angola
Agadir, Maroc
21:30 UTC+1
Sân vận động: Sân vận động Adrar
2026
[sửa | sửa mã nguồn]Bỉ v Ai Cập
15 tháng 6Vòng bảng FIFA World Cup 2026
Bỉ
v
Ai Cập
Seattle, Hoa Kỳ
12:00 UTC-7
Chi tiết
Sân vận động: Lumen Field
New Zealand v Ai Cập
21 tháng 6Vòng bảng FIFA World Cup 2026
New Zealand
v
Ai Cập
Vancouver, Canada
18:00 UTC-7
Chi tiết
Sân vận động: BC Place
Ai Cập v Iran
26 tháng 6Vòng bảng FIFA World Cup 2026
Ai Cập
v
Iran
Seattle, Hoa Kỳ
20:00 UTC-7
Chi tiết
Sân vận động: Lumen Field
Cầu thủ
[sửa | sửa mã nguồn]
Các cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất
[sửa | sửa mã nguồn]Ahmed Hassan là cầu thủ thi đấu nhiều nhất với 184 trận.
Tính đến 12 tháng 9 năm 2023, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển Ai Cập nhiều lần nhất là:
#
Họ tên
Số trận
Số bàn thắng
Năm thi đấu
1
Ahmed Hassan
184
33
1995–2012
2
Hossam Hassan
178
68
1985–2006
3
Essam El-Hadary
155
0
1996–2018
4
Ahmed Fathy
136
3
2002–2021
5
Ibrahim Hassan
132
14
1988–2002
6
Hany Ramzy
123
3
1988–2003
7
Wael Gomaa
114
1
2001–2013
8
Ahmed El-Kass
112
25
1987–1997
Abdel-Zaher El-Saqqa
112
4
1997–2010
10
Rabie Yassin
109
1
1982–1991
Các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất
[sửa | sửa mã nguồn]Hossam Hassan là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất với 68 bàn.
Tính đến 12 tháng 9 năm 2023, các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Ai Cập là:
#
Họ tên
Số bàn thắng
Số trận
Hiệu suất
Năm thi đấu
1
Hossam Hassan
68
178
0.38
1985–2006
2
Mohamed Salah
56
98
0.58
2011–0000
2
Hassan El-Shazly
42
62
0.67
1961–1975
4
Mohamed Aboutrika
38
100
0.38
2001–2013
5
Ahmed Hassan
33
184
0.18
1995–2012
6
Amr Zaki
30
63
0.48
2004–2013
7
Emad Moteab
28
70
0.40
2004–2015
8
Ahmed El-Kass
25
112
0.22
1987–1997
9
Gamal Abdelhamid
24
79
0.30
1979–1993
10
Mahmoud El Khatib
24
54
0.44
1974–1986
Đội hình hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]
Các cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho các trận đấu thuộc Cúp bóng đá châu Phi 2025.[39]
Số lần ra sân và số bàn thắng được cập nhật đến ngày 6 tháng 12 năm 2025, sau trận đấu với UAE.
Số
VT
Cầu thủ
Ngày sinh (tuổi)
Trận
Bàn
Câu lạc bộ
1TM
Mohamed El Shenawy
18 tháng 12, 1988 (37 tuổi)
68
0
Al Ahly
1TM
Ahmed El Shenawy
14 tháng 5, 1991 (34 tuổi)
29
0
Pyramids
1TM
Mohamed Sobhi
15 tháng 7, 1999 (26 tuổi)
6
0
Zamalek
1TM
Mostafa Shobeir
17 tháng 3, 2000 (25 tuổi)
3
0
Al Ahly
2HV
Ramy Rabia
20 tháng 5, 1993 (32 tuổi)
37
4
Al Ain
2HV
Mohamed Hamdy
15 tháng 3, 1995 (30 tuổi)
32
1
Pyramids
2HV
Mohamed Hany
25 tháng 1, 1996 (29 tuổi)
31
0
Al Ahly
2HV
Ahmed Abou El Fotouh
22 tháng 3, 1998 (27 tuổi)
30
1
Zamalek
2HV
Yasser Ibrahim
10 tháng 2, 1993 (32 tuổi)
6
0
Al Ahly
2HV
Hossam Abdelmaguid
30 tháng 4, 2001 (24 tuổi)
5
0
Zamalek
2HV
Khaled Sobhi
4 tháng 5, 1995 (30 tuổi)
5
0
Al Masry
2HV
Ahmed Eid
2 tháng 1, 2001 (25 tuổi)
4
0
Al Masry
2HV
Mohamed Ismail
1 tháng 8, 1999 (26 tuổi)
0
0
Zamalek
3TV
Trézéguet
1 tháng 10, 1994 (31 tuổi)
86
22
Al Ahly
3TV
Zizo
10 tháng 1, 1996 (30 tuổi)
52
4
Al Ahly
3TV
Hamdy Fathy
29 tháng 9, 1994 (31 tuổi)
52
3
Al-Wakrah
3TV
Marwan Attia
12 tháng 8, 1998 (27 tuổi)
25
0
Al Ahly
3TV
Emam Ashour
20 tháng 2, 1998 (27 tuổi)
18
0
Al Ahly
3TV
Ibrahim Adel
23 tháng 4, 2001 (24 tuổi)
17
3
Al Jazira
3TV
Mohanad Lasheen
29 tháng 5, 1996 (29 tuổi)
15
0
Pyramids
3TV
Mahmoud Saber
30 tháng 7, 2001 (24 tuổi)
9
0
ZED
3TV
Mohamed Shehata
8 tháng 2, 2001 (24 tuổi)
6
0
Zamalek
4TĐ
Mohamed Salah
15 tháng 6, 1992 (33 tuổi)
107
61
Liverpool
4TĐ
Mostafa Mohamed
28 tháng 11, 1997 (28 tuổi)
53
13
Nantes
4TĐ
Omar Marmoush
7 tháng 2, 1999 (26 tuổi)
40
8
Manchester City
4TĐ
Mostafa Fathi
12 tháng 5, 1994 (31 tuổi)
37
3
Pyramids
4TĐ
Osama Faisal
1 tháng 1, 2001 (25 tuổi)
14
0
National Bank of Egypt
4TĐ
Salah Mohsen
1 tháng 9, 1998 (27 tuổi)
7
1
Al Masry
Triệu tập gần đây
[sửa | sửa mã nguồn]
Vt
Cầu thủ
Ngày sinh (tuổi)
Số trận
Bt
Câu lạc bộ
Lần cuối triệu tập
TM
Abdelaziz El Balouti
8 tháng 1, 1994 (32 tuổi)
0
0
National Bank of Egypt
v. Guiné-Bissau, 12 October 2025
HV
Ahmed Nabil Koka
4 tháng 7, 2001 (24 tuổi)
9
0
Al Ahly
v. Guiné-Bissau, 12 October 2025
HV
Amr El Gazar
20 tháng 9, 1999 (26 tuổi)
0
0
National Bank of Egypt
v. Guiné-Bissau, 12 October 2025
HV
Mohamed Rabia
5 tháng 5, 1996 (29 tuổi)
2
0
ZED
v. Burkina Faso, 9 September 2025
HV
Mohamed Abdelmonem
1 tháng 2, 1999 (26 tuổi)
33
3
Nice
v. Sierra Leone, 25 March 2025
TV
Dunga
6 tháng 4, 1996 (29 tuổi)
11
0
Zamalek
2025 Al Ain International Cup
TV
Zalaka
12 tháng 9, 1999 (26 tuổi)
3
0
Pyramids
2025 Al Ain International Cup
TV
Marwan Otaka
7 tháng 7, 2002 (23 tuổi)
1
0
Ceramica Cleopatra
2025 Al Ain International Cup
TĐ
Ahmed Atef
21 tháng 3, 1998 (27 tuổi)
3
0
ZED
2025 FIFA Arab Cup PRE
TĐ
Mostafa Shalaby
1 tháng 9, 1994 (31 tuổi)
1
0
National Bank of Egypt
2025 FIFA Arab Cup INJ
TĐ
Taher Mohamed
7 tháng 3, 1997 (28 tuổi)
6
1
Al Ahly
2025 Al Ain International Cup
Chú thích
SUS Cầu thủ bỏ cuộc
INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương
PRE Đội hình sơ bộ
RET Đã chia tay đội tuyển quốc gia
WD Cầu thủ rút lui vì chấn thương không rõ ràng
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]
^ "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 18 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
^ Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
^ "African Nations Cup 1957". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1959". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1962". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1963". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1965". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1968". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1970". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1972". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1974". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1976". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1978". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1980". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1984". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1986". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
^ ab"African Nations Cup 1992". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1994". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 1998 - Final Tournament Details". Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009.
^ "African Nations Cup 2004". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
^ "African Nations Cup 2006". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
^ "Egypt win Africa Cup of Nations for record third consecutive time". The Guardian. ngày 31 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2020.
^ "El Hadary made history as Mali held Egypt to goalless draw". ngày 18 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
^ "Late Abdallah El Said goal eliminates Uganda from AFCON". ngày 21 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
^ "Egypt beat Ghana to reach quarter-finals as group winners". ngày 25 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
^ "Kahraba strikes late as Egypt beat Morocco, reach AFCON semis". ngày 29 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
^ "El Hadary's heroics send Egypt to AFCON 2017 final". ngày 2 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
^ "Mohamed Salah brace sends Egypt to Russia". AfricanFootball.com. ngày 8 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2017.
^ "FIFA changes its protocol of "Man of the Match" award following Egyptian goalkeeper's refusal to accept it". Egypt Independent. ngày 22 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2019.
^ Brennan, Feargal (ngày 6 tháng 12 năm 2022). "Oldest players in World Cup history including Qatar 2022 tournament". Sporting News. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
^ "Egypt part ways with head coach Hector Cuper" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
^ Zidan, Karim. "The Egyptian Football Association Turned Mo Salah's World Cup Into An Embarrassing Disaster". Deadspin (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
^ "Egypt to Investigate Egyptian Football Association's 'Failures' at World Cup | Egyptian Streets" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
^ "Op-ed review: Blaming EFA, bad management for Egypt's 'humiliating' World Cup defeat, exit - Daily News Egypt". Daily News Egypt (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
^ Dorsey, James M. "Egyptian Soccer Focuses on Corruption Rather Than Performance". Bleacher Report (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
^ "Egypt sack Javier Aguirre after defeat to South Africa in Africa Cup of Nations last 16". Sky Sports. ngày 7 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
^ "Senegal vs. Egypt". ESPN. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2022.
^ Benjamin, Brian (ngày 4 tháng 9 năm 2014). "The story of the 1930 World Cup". These Football Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2023.
^ "حسام حسن يعلن قائمة المنتخب الأول استعدادًا لمواجهتي إثيوبيا وبوركينا فاسو" (bằng tiếng Arabic). الاتحاد المصري لكرة القدم. ngày 31 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2025.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Đội tuyển bóng đá quốc gia Ai Cập Lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2014 tại Wayback Machine trên trang chủ của FIFA
x
t
s
Bóng đá Ai Cập
Hiệp hội bóng đá Ai Cập
Đội tuyển quốc gia
Nam
ĐTQG
U-23
U-20
U-17
Nữ
ĐTQG
U-20
U-17
Các giải đấu
Premier League
Hạng nhì
Hạng ba
Hạng tư
Giải đấu cúp
Cúp bóng đá Ai Cập
Siêu cúp
Câu lạc bộ
Sân vận động
x
t
s
Các đội tuyển bóng đá quốc gia châu Phi (CAF)
Bắc Phi (UNAF)
Algérie
Ai Cập
Libya
Maroc
Tunisia
Tây Phi (WAFU)
Bénin
Burkina Faso
Cabo Verde
Gambia
Ghana
Guinée
Guiné-Bissau
Bờ Biển Ngà
Liberia
Mali
Mauritanie
Niger
Nigeria
Sénégal
Sierra Leone
Togo
Đông Phi (CECAFA)
Burundi
Djibouti
Eritrea
Ethiopia
Kenya
Rwanda
Somalia
Nam Sudan
Sudan
Tanzania
Uganda
Zanzibar1
Trung Phi (UNIFFAC)
Cameroon
Trung Phi
Tchad
CH Congo
CHDC Congo
Guinea Xích Đạo
Gabon
São Tomé và Príncipe
Nam Phi (COSAFA)
Angola
Botswana
Comoros
Lesotho
Madagascar
Malawi
Mauritius
Mozambique
Namibia
Seychelles
Nam Phi
Eswatini
Zambia
Zimbabwe
Khác
Réunion1
1 Thành viên dự khuyết của CAF nhưng không phải thành viên FIFA
x
t
s
Bóng đá quốc tế
FIFA
Liên đoàn
Đội tuyển
Giải đấu
Cúp thế giới
U-20
U-17
Thế vận hội
Thế vận hội Trẻ
Đại hội Thể thao Sinh viên thế giới
Bảng xếp hạng thế giới
Giải thưởng FIFA The Best
Dòng thời gian
Châu Phi
CAF – Cúp bóng đá châu Phi
U-23
U-20
U-17
Khu vực (CECAFA, CEMAC, COSAFA, WAFU)
Liên lục địa (FIFA Arab Cup)
Nations League
Châu Á
AFC – Cúp bóng đá châu Á – AFC Nations League
U-23
U-20
U-17
U-14
Khu vực (ASEAN, EAFF, SAFF, CAFA, WAFF)
Liên khu vực (AFF-EAFF)
Liên lục địa (FIFA Arab Cup)
Châu Âu
UEFA – Cúp bóng đá châu Âu
U-21
U-19
U-17
Nations League
Bắc, Trung Mỹ và Caribe
CONCACAF – Cúp Vàng
U-20
U-17
U-15
Nations League
Châu Đại Dương
OFC – Cúp bóng đá châu Đại Dương
U-19
U-16
Nam Mỹ
CONMEBOL – Cúp bóng đá Nam Mỹ
U-20
U-17
U-15
Không phải FIFA
CONIFA – Giải vô địch bóng đá thế giới ConIFA
Giải vô địch bóng đá châu Âu ConIFA
IIGA – Đại hội Thể thao Đảo
Hội đồng các liên bang mới Nam Mỹ (CSANF)
Liên minh bóng đá thống nhất thế giới (WUFA)
Đại hội thể thao
Đại hội Thể thao châu Phi
Đại hội Thể thao châu Á
Trung Mỹ
Trung Mỹ và Caribe
Đại hội Thể thao Đông Á
Đại hội Thể thao Cộng đồng Pháp ngữ
Đảo Ấn Độ Dương
Đại hội Thể thao Đoàn kết Hồi giáo
Đại hội Thể thao Cộng đồng ngôn ngữ Bồ Đào Nha
Đại hội Địa Trung Hải
Đại hội Thể thao Liên châu Mỹ
Đại hội Thể thao Liên Ả Rập
Đại hội Thể thao Thái Bình Dương
Đại hội Thể thao Nam Á
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Đại hội Thể thao Tây Á
Xem thêm Địa lý Mã Cầu thủ/Câu lạc bộ của thế kỷ Bóng đá nữ