Đông Tây Kim Cổ
Có thể bạn quan tâm
Skip to main content
Main navigation
- Home
- Lời Phi Lộ
- Thi Văn Ngàn Thông
- Tác Phẩm
- Chia Buồn
- Chúc Mừng Năm Mới - Xuân Đinh Đậu 2017
- HAPPY THANKSGIVING
- Login
- Logout
- Tác Giả
- Bùi Trọng Căn
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Cát Đơn Sa - Diễm Châu
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Hoài Hương
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Hàn Thiên Lương
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Hồ Ý
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Kim Yến
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- La Vĩnh Thái
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Nguyễn Phú
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Nguyễn Văn Sâm
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Phan Anh Dũng
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Song Phương
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Sơn Phong Phi Điểu
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Thị Nội
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Thụy Phong
- Các Tác Phẩm
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Trần Thị Cẩm Tuyến
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Từ Đức Tài
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Vũ Văn Phương
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Đà Thanh
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Đỗ Thị Minh Giang
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Van
- Thanh Hoàng
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Hồng Thủy
- Các Tác Phẩm
- Thi
- Văn
- Sư Thân Nguyên
- Các Tác Phẩm
- Bùi Trọng Căn
- Thi
- Văn
- Họa
- Thư Pháp - Hồ Ý
- Tranh Vẽ - Hồ Ý
- Nhạc
- ANH VỀ VỚI NGƯỜI
- Bây Giờ Mình Cứ Vui
- Bên Dòng Sông Mơ
- Bước Chân Anh Vế
- CHIỀU GIÃ BIỆT
- Chinh Phụ Ngâm Khúc
- Chẳng Qua Là Hạt Bụi
- Có Buồn Cũng Thế Thôi
- Cửa Đại Dừng Chân
- Duyên Tình -Tình Duyên
- Em Có Hay Chăng
- Em ơi, mùa xuân về
- Gió Thỏang Hương Bay
- KHI EM VỀ
- Kỷ Niệm Giáng Sinh
- Làng Tôi
- Lời Trần Tình Mùa Xuân
- Mong Manh Tình Buồn
- Mẹ Tôi
- Một Ngày Không Thấy
- NHƯ LỤC BÌNH TRÔI
- NHỚ MÙA HẠ XƯA
- Nỗi Lòng Chinh Phụ 1
- Nỗi Lòng Chinh Phụ 2
- Thoáng Bâng Khuâng
- Trên Đỉnh Nhân Gian
- Trăng Đã Tàn
- Trường & Hoàng Sa Và Cá Biển
- Tây Bắc Hồng Hoa
- VÌ SAO EM LẤY CHỒNG HÀN
- Vọng Gác Đêm Xuân
- Xuân Thái Hòa
- Ảnh
- Sinh Hoạt
- CHIA BUỐN
- Liên Lạc
Đ Ô N G T Â Y K I M CỔ
Năm Tân Sửu (41) Vua Hán sai Mã Viện làm Tướng Lưu Long làm Phó Tướng đem hai mươi vạn (200.000) quân sang đánh Trưng Vương ở trận Lãng Bạc. Hơn một vạn (10.000) người Việt ngã xuống máu chảy đỏ sông Hồng và sông Đáy. Nên ghi nhận là thời đó dân Việt mới chỉ có một trăm ngàn (100.000) người già trẻ lớn bé, mà ở trong một trận đánh, chết hơn bốn vạn (40.000) người, vì vậy Hai Bà đã gieo mình xuống sông Hát Giang tự vẫn ngày mồng sáu tháng hai năm Quý Mão (43).
Mã Viện cho dựng cột đồng (khi đó mới chỉ có đồng, chưa có lò cao để luyện sắt thép) ghi sáu chữ: Đồng Trụ Chiết, Giao Chỉ Diệt. Nhưng dân Việt ai đi qua cũng ném vào một cục đá hay cục đất, chỉ thời gian sau thì cột đồng biến mất. Vua Hán cho cử Sĩ Nhiếp sang làm Thái Thú. Hàng năm thu hàng ngàn tấm vải cát bá, hàng trăm ngựa tốt, và các thổ sản quý hiếm như sừng tê giác, ngà voi, gỗ trầm, ngọc trai, đồi mồi cùng những thợ giỏi tài hoa (cũng trở thành đồ cống) sang xây dựng Kinh Đô Kiến Nghiệp tức Nam Kinh ngày nay.
Năm 78 có Trương Trọng người Quảng Nam hay chữ nên được cử làm thuộc lại (thư ký) rồi đi sứ sang Kinh Đô Lạc Dương. Hán Minh Đế thấy người thấp bé hỏi xách mé: “Viên tiểu lại kia người quận nào.” Trương Trọng bình tĩnh đáp: “Tôi là sứ thần sang chầu Vua chứ không phải tiểu lại. Bệ Hạ muốn dùng người tài hay muốn đo xương thịt.”
Tết Nguyên Đán Vua mở tiệc Trương Trọng vào chầu Vua hỏi: “Nhật Nam có nghĩa là phương Nam Mặt Trời, nhà của sứ đó làm nhà đều quay phương Bắc để thấy Mặt Trời phải không?” Biết Vua Hán kiêu ngạo Trương Trọng tâu: “Nhật Nam không phải phương Nam Mặt Trời. Đất Trung Nguyên (Tầu) có quận Vân Trung thì quận này có ở trong mây đâu, quận Kim Thành thì có phải quận này có thành bằng vàng đâu. Dân tôi có câu: “lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” mà chẳng ai thay đổi tục lệ đó. Sau Vua Hán phải bổ Trương Trọng làm Thái Thú quận Kim Thành.
Nhà Đông Hán mất nước Tầu chia làm ba nước: Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô tức thời Tam Quốc Chí. Ngô Tôn Quyền vẫn cho Sĩ Nhiếp làm Thái Thú, cùng với Hợp Phố thành Quảng Châu.
Năm 225 có bà Triệu Thị Trinh là em Triệu Quốc Đạt ở Thanh Hóa nổi lên khởi nghĩa. Bà là người có sức khỏe và gan dạ, mỗi lần ra trận thường cưỡi voi trắng và có câu nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kình, giành lại giang sơn gấm vóc chứ không cúi đầu khom lưng làm tì thiếp người ta.”
Vua Ngô hốt hoảng sai Lục Dận mang tám ngàn (8.000) quân tinh nhuệ sang đánh, sau sáu tháng và bị nội ứng Bà Triệu đã hy sinh tại núi Tùng (Hậu Lộc) năm đó Bà mới 23 (hai mươi ba) tuổi.
Năm 265 nhà Tấn đánh bại Ngụy, Thục, Ngô hay thời Tam Quốc Chí rồi lập ra Nam Bắc triều nhà Ngụy nhà Lương. Năm 542 (gần hai thế kỷ sau) có Lý Bí là con Lý Toản và Lê Thị Oánh ở Thanh Hóa, từ 5 (năm) tuổi đã mất cha, 7 (bẩy) tuổi mẹ mất phải ở với chú. Một hôm được vị thiền sư đi qua thấy khôi ngô tuấn tú mang về Chùa Linh Bảo nuôi dậy. Mười năm sau Lý Bí văn võ toàn tài được tôn làm thủ lãnh địa phương.
Năm Quý Dậu (543) Vua Lương sai quân sang đánh, nhưng Lý Bí chủ động ra quân trước, quân Lương mười phần chết bẩy tám Tướng nhà Lương bị Vua Lương bắt tự tử. Năm 544 Lý Bí sưng là Hoàng Đế lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Dựng Điện Vạn Thọ lập triều đình bàn việc nước với hai ban văn võ, dựng Chùa lớn ngay trên đê Yên Phụ lấy tên là Chùa Khai Quốc, tiền thân của Chùa Trấn Quốc suốt tới ngày nay trên Hồ Tây tại Hà Nội mà chúng ta còn chứng kiến.
Triều Lý khởi nghiệp từ đây, nhưng khi nhà Lương mang quân sang đánh thì Lý Nam Đế trao quyền lại cho Triệu Quang Phục rồi sau là Lý Phật Tử năm 557, cùng thời ta có thể kể luôn Triệu Việt Vương cùng khởi nghĩa và sau gả con gái cho con trai Lý Phật Tử (y như là chuyện Mỵ Châu Trọng Thủy ngày trước).
Kể cùng thời đó bên phương Tây ở Hy Lạp có Thales of Meletus (mà chúng ta ai học Toán cũng biết Định Lý Thales) năm 585 cùng thời có nhà sử gia tên Diogens Laertius nổi tiếng thắp đuốc lang thang ngoài đường đi “tìm một người”. Không có nguồn gốc rõ ràng nhưng ông thuộc một trong Bẩy Học Giả (Seven Wise Men) đã mang lại Tư Tưởng Triết Học cho nhân loại. Còn theo sử gia Herodotus thì chính Thales đưa ra ý niệm chính quyền Liên Bang cho thành phố Ionian của Hy Lạp.
Còn theo Callimachus thì chính Thales hướng dẫn cho người đi biển hãy theo các chùm sao Tiểu Hùng Tinh (Little Bear hay Ursa Minor) và Đại Hùng Tinh (Great Bear hay Ursa Major) nằm tại phương Bắc trước khi người ta biết dùng la bàn. Thales còn là người đã tiên đoán có hiện tượng Nguyệt Thực làm đình lại cuộc chiến tranh thảm khốc giữa Lydian Alyattes và Median Cyaxares năm 585.
Herodotus thì cho rằng Thales không hẳn tiên đoán rõ Nguyệt Thực toàn phần để nghĩ ông là một Thiên Văn Gia. Tuy nhiên ông đã phát biểu năm Định Lý của Hình Học: (1) dùng danh từ Đường Kính chia đôi một vòng tròn. (2) hai góc đáy của một tam giác cân thì bằng nhau. (3) góc cắt của một đường thẳng chéo qua hai đường song song thì bằng nhau. (4) các góc nhìn trên một nửa vòng tròn (quỹ tích) thì bằng nhau. (5) một tam giác được xác định khi hai góc ở đáy đã được biết (are given).
Riêng các sách khác của Thales về số học rất mơ hồ, vì vậy chúng ta quay trở lại lịch sử từ các niên kỷ 600 hay 700, vì đó là thời của các nhà Tùy Đường: nhưng nhà Tùy chỉ làm Vua được hơn hai chục năm thì mất, nên ta chú trọng tới thời nhà Đường.
Năm Tân Tị 621 Vua Cao Tổ nhà Đường sai Khâu Hòa sang cai trị Giao Châu: gồm Phong Châu là Sơn Tây, Hưng Hòa, rồi Hoan Châu là Nghệ Tĩnh Thanh Hóa và Ái Châu là các vùng còn lại.
Năm Nhâm Tuất 722 Vua Huyền Tông nhà Đường có cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan ở Hà Tĩnh. Thủa nhỏ nhà nghèo phải hàng ngày cùng mẹ đi vào rừng kiếm củi, chỉ học lỏm để biết chữ. Một ngày khi nghe tiếng kêu thét của mẹ, Mai Thúc Loan nhìn thấy một con hổ dữ đang gẩm gử, lập tức ông xông vào vật nhau với mãnh thú dù là lúc đó nó đang rình mồi mà rồi hổ cũng đã phải bỏ chạy. Từ đó Mai Thúc Loan đi thi đấu đô vật và ăn nhiều giải nhiều nơi nên nổi tiếng khắp vùng.
Lại kể hồi đó Vua Đường có một ái phi tên Dương Quí Phi nhan sắc tuyệt vời, nhưng nàng này mê ăn trái vải (gọi là quả lệ chi) là đặc sản của các tỉnh Vĩnh Phú và Hải Dương của Việt Nam. Một lần Mai Thúc Loan cùng đoàn người gánh vải đi tiến cống (Tầu), lúc ngồi nghỉ bên đường, một dân phu quá khát nước và mỏi mệt liều ăn trộm một trái vải, liền bị tên lính Tầu áp giải đánh chết. Mai Thúc Loan lập tức cùng dân phu rút đòn gánh nổi lên đánh chống lại lính Tầu rồi dấy loạn.
Trong một trận ác chiến quân của Mai Thúc Loan chiếm được Tống Bình Hà Nội, chính tên Thái Thú là Quách Sở Khách phải chạy về Tầu. Dân Việt đã tôn ông lên làm Vua lấy hiệu là Mai Hắc Đế.
Lúc này nhà Đường hùng mạnh nên Vua Đường cử binh tướng đến 10 vạn (100.000 người) ồ ạt sang chiếm lại thành Vạn An. Không đương nổi quân Tầu, quân của Mai Hắc Đế phải rút vào rừng sâu và ông mất một thời gian sau, cuộc khởi nghĩa thất bại.
Hơn bốn chục năm sau tức năm 767 có Phùng Hưng người Ba Vì tức Phú Thọ ngày nay nổi dậy. Nguyên Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh từng tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Phùng Hạp Khanh có vợ họ Sử một lần sanh ba mà riêng Phùng Hưng sức khỏe và khí phách đặc biệt, ông này cũng từng đánh hổ nổi tiếng khắp vùng.
Năm 791 Phùng Hưng chiếm Thành Tống Bình, Thái Thú là Cao Chính Bình đem 4 vạn (40.000) quân nghênh chiến, sau bẩy (7) ngày đêm Phùng Hưng chiếm được thành, dân chúng tôn làm Vua chinh là Bố Cái Đại Vương. Nhưng bẩy năm sau thì mất, con là Phùng An nối nghiệp được hai (2) năm thì bị Vua Đường sai Đại Tướng Triệu Xương mang quân Tầu sang đánh bại. Quan lại nhà Đường rất tham tàn độc ác. Lại thêm quân Nam Chiếu sang đánh, đến năm 864 Vua Đường sai Cao Biền sang đánh Nam Chiếu lấy lại đất đai lãnh thổ. Sau đó Cao Biền được phong làm Tiết Độ Sứ cho đắp lại Thành Đại La (Hà Nội) ngay bên bờ sông Tô Lịch.
Năm Đinh Mão (907) nhà Đường mất ngôi, tiếp theo là các Nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh nhau làm Vua mỗi nhà chỉ được mấy năm gọi là thời ngũ quý. Lúc đó ở Giao Châu có Khúc Thừa Dụ quê ở Cục Bố bây giờ là Hải Hưng lãnh đạo dân chúng nổi lên chiếm thành Hà Nội, đánh đuổi giặc về nước rồi tự sưng làm Tiết Độ Sứ buộc nhà Đường phải công nhận Khúc Thừa Dụ đứng đầu nước Việt: về hình thức vẫn giữ nguyên chinh quyền đô hộ nhưng thực chất là nước ta có chinh quyền tự chủ.
Năm 917 Khúc Hạo mất truyền ngôi cho con là Khúc Thừa Mỹ nhận chức Tiết Độ Sứ của nhà Lương mà không thần phục nhà Nam Hán. Năm 931 có Dương Diên Nghệ là một tướng của Khúc Hạo mộ quân đánh chiếm thành Đại La, sau đó Kiều Công Tiễn là hào trưởng đất Phong Châu giết hại để đoạt chức Tiết Độ Sứ. Tiếp nối là Ngô Quyền, một bộ tướng của Dương Diên Nghệ đánh trận Bạch Đằng đuổi quân Nam Hán. Tiếp nối là thời Thập Nhị Xứ Quân mà sau cùng thì Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước lập nên nhà Đinh, với dòng lịch sử Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê.
Lại kể chuyện bên Tầu có một nhân vật nổi tiếng kim cổ là Tư Mã Thiên. Ông là người rất đặc biệt trong số các Sử Gia của Tầu khi xếp hai người thường dân không hề có một tấc đất phong vào lịch sử: đó là Khổng Tử và Trần Thiệp, vì Thiệp là một anh chàng nông dân cầm đầu cuộc khởi nghĩa cho dân tộc Hán, do Tư Mã Thiên có một con mắt khác thường.
Chính ông tự định nghĩa mình là một con người “bất cơ” tức là không chịu trói buộc mình vào một tập tục lề thói. Năm hai mươi tuổi lúc cha còn sống mà viễn du (đi du lịch) khắp Trung Hoa. Chức Sử Quan của nhà Vua là ghi chép các việc làm của Vua Chúa, nhưng Tư Mã Thiên có mộng lớn là muốn nối nghiệp Khổng Tử soi sáng cho đời hay “bất cơ”.
Tư Mã Thiên quan niệm làm quan với sự nghiệp chỉ là một “anh hề” qua ngày đoạn tháng như Đông Phương Sóc, nên ông chọn con đường khác: đi nhận xét quan sát trong khoảng trời đất (không gian) và thời gian, thấu đáo sự biến đổi từ xưa tới nay, làm thành lời nói của “một nhà” tức muốn làm giống một Khổng Tử thứ hai. Ông làm cái công việc phi thường ghi nhận các học thuyết của bách gia.
Ông nói phải viết Sử cho những “người của nó” tức là viết về dân tộc Trung Hoa vĩ đại và bất tử: từ người nông dân nghèo khổ cho tới bọn phong kiến giầu có phè phỡn, những nhận xét của ông thực trác việt. Người ta bảo tâm sự Tư Mã Thiên hiện ra như một cung đàn , rất rền trong một bản hợp tấu lịch sử vĩ đại kêu vang, làm người đọc say mê và giáo dục họ rất nhiều, ngoài ra còn có giá trị văn học không thể chối cãi.
Bây giờ là thời văn minh kỹ thuật tân tiến và toàn cầu hóa xin kể về một nhân vật phương Tây rất nổi tiếng: đó là Alfred Bernhard Nobel ông sanh ngày 10 tháng 12 năm 1896 tại Stockholm Thụy Điển, nổi tiếng là một nhà hóa học, là một kỹ sư và là một kỹ nghệ gia. Chính ông đã phát minh ra dynamite và nhiều chất nổ khủng khiếp khác, và cũng là người lập nên các Giải Nobel trên toàn thế giới.
Ông được hưởng theo truyền thống gia đình: mẹ là giòng dõi của nhà tự nhiên học Thụy Điển Olof Rubeck, chính ông này là người đã phát hiện ra hệ tuần hoàn bạch huyết ở động vật năm 1653. Bố tên Immanuel Nobel đã dậy cho Alfred những điều căn bản về ngành kỹ sư, cũng như ông đã hướng dẫn con trở thành một nhân tài phát minh.
Gia đình Nobel rời Stockhom năm 1842 với người cha đến St Petersburg (Leningrad). Tại đây ông được học phần lớn là do các thầy kèm tại tư gia, cậu bé Nobel có khiếu học về Hóa Học ngay từ năm 16 tuổi và rồi cũng biết dùng thông thạo năm thứ tiếng là Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Đức Ngữ, Nga Ngữ và dĩ nhiên Thụy Điển Ngữ.
Ông rời nước Nga năm 1850 để sang Paris học chuyên Hóa Học một năm rồi sang Mỹ làm việc bốn năm dưới sự chỉ bảo của John Ericsson là một kiến trúc sư chuyên về kim loại để đóng tầu chiến Monitor. Khi trở về St Petersburg thì Nobel làm việc trong cơ xưởng của Cha cho tới năm 1858 thì nơi này bị phá sản (Bankrupt).
Trở về Thụy Điển Nobel khởi sự lại từ đầu trong một cơ xưởng khác làm chất lỏng nổ là nitroglycerine. Chẳng bao lâu vào khoảng năm 1864 toàn bộ nơi này bị nổ tung và cùng tai nạn đó làm người em út tên Emil Nobel chết thảm với bốn nhân công khác nữa.
Phải đợi khi chinh phủ và dân chúng Thụy Điển quên dần đi vụ này thì Nobel đã gây dựng trở lại cơ xưởng để nghiên cứu và sản xuất. Rồi từ đây ông mang danh là một “khoa học gia Điên” (mad Scientist) khi tất cả hoàn thành ở ngoài một hồ nước rộng cách xa hẳn khu dân cư, và ông đã biết cách giảm thiểu tối đa nguy hiểm khi dùng nitroglycerine.
Có thể nói may mắn đã mỉm cười với ông khi tình cờ biết được rằng nitroglycerine thấm vào một chất rắn khô có nguồn gốc từ động thực vật (material organic), và đã cho phép người ta có thể mang di chuyển chất nổ này một cách thật an toàn khi đi đây đó hoặc nơi này sang nơi khác.
Đây là một phát minh được ghi bằng sáng chế tại Anh dưới tên Dynamite năm 1867, rồi tại Mỹ năm 1868. Cũng phải ghi nhận thêm là sau đó ông còn sáng chế ra một loại Dynamite khác với chất gelatin vào năm 1876 rất tiện dụng và dễ dàng di chuyển. Thập niên sau ông làm ra chất ballistite là một loại bột nitroglycerine không có khói khi nổ. Khi đăng ký bắng phát minh chất ballistite thì bị Tòa Án Tối Cao bác bỏ.
Tất cả các loại chất nổ mà ông sáng chế ra đã được dùng tại các mỏ tìm kiếm dầu hỏa ở Nga nhất là vùng Baku, sự việc này mang lại cho ông rất nhiều tiền hay một gia tài khổng lồ, vì vậy ông đã phải đi du lịch gần như bất tận, cho đến nỗi chán chê.
Cuối cùng Nobel nghĩ chinh các phát minh của ông về một chất nổ đã tàn phá nhân loại, vì vậy ông muốn mang lại Hòa Bình cho toàn thể loài người trên địa cầu trong cái nhìn yếm thế (pessimistic). Ông mang cả gia tài của mình ra đặt các Giải Thưởng về văn chương, khởi đầu cho các thi sĩ Anh (poetry of English). Sau đó với bản tính hào phóng và nhân bản, ông đặt thêm các Giải Thưởng về Khoa Học và đầu tư gia tài cho tất cả các Giải Thưởng Quốc Tế Hòa Bình, Văn Chương, Vật Lý, Hóa Học và Sinh Học (Physiology) cùng Y Khoa (Medecine) từ năm 1901, khi đó mỗi Giải Thưởng trị giá 31.000 Euro Thụy Điển tương đương 72.000 USD.
Không phải các Lãnh Đạo các Quốc Gia làm nên Lịch Sử nhưng ta phải thấy rõ chinh lòng Hào Hiệp và Nhân Bản của Nhân Loại mới đáng ghi nhận để làm kim chỉ nam cho nhân loại đông tây kim cổ.
Tác Giả Bài Văn Bùi Trọng Căn
Từ khóa » Dân Việt đông Tây Kim Cổ
-
Đông Tây - Kim Cổ | Dân Việt
-
Danh Nhân Lịch Sử - Dân Việt
-
Cùng Dân Việt điểm Qua 3 Thương Vụ... - Đông Tây - Kim Cổ
-
Đông Tây - Kim Cổ - Posts | Facebook
-
Đông Tây - Kim Cổ
-
Đông Tây Kim Cổ - Tuổi Trẻ Và Pháp Luật
-
Đông Tây - Kim Cổ | Dân Việt - Thể Thao
-
Đông Tây Kim Cổ.pdf (.docx) | Tải Miễn Phí Với 1 Click
-
Tản Mạn Chuyện Đông Tây Kim Cổ | Trần Văn Chánh
-
Kỳ Án Đông Tây Kim Cổ - 74 Tập - VieON
-
Bí Thuật Dân Gian Đông Tây Kim Cổ.pdf (.docx) | Tải Miễn Phí
-
Ra Mắt Kỳ án Đông Tây Kim Cổ - Báo Tuổi Trẻ