| |  | | Dự án chim mỏ sừng |  | |  |  | Loài chim mỏ sừng là loài chim vùng nhiệt đới đang có nguy cơ tuyệt chủng- sinh sống ở lục địa Châu Á và Châu Phi. Chúng là loài chim độc nhất có hai quả thận. Có trên 54 loài chim mỏ sừng và Thái Lan đã lưu giữ 13 loài trong số đó. Chim mỏ sừng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái như việc phân tán hạt trái cây chúng ăn và điều khiển những chủng loại vật làm mồi. Một số nhà khoa học dùng chim mỏ sừng như vật sinh thái điều hòa tình hình rừng khi rừng đua hoa kết trái, cây cối xanh um tùm là thời điểm chim mở sừng đẻ trứng và cần khoảng không gian rộng để ở trong thời gian ấp trứng. Nơi ở: Rừng mưa nhiệt đới là nới ở lý tưởng của chim mỏ sừng. Đối với chim mỏ sừng lớn và chim mỏ sừng Phương Đông thì lại thích rừng trong thời kỳ rụng lá hơn. Thức ăn: ăn trái cây, trái sung. Chúng cũng ăn khoảng hơn 60 loại hạt khác. Tuy nhiên, những loài chim mỏ sừng Nâu thức ăn chủ yếu là động vật như chuột, thằn lằn, rắn, tắc kè, và côn trùng giàu đạm và can-xi. Sinh sản: vào mùa mưa từ tháng Mười năm nay đến tháng Năm năm sau. Chúng dùng thân cây để làm tổ. Trong thời kỳ sinh sản, chúng bị thu hút lẫn nhau. Khi con đực bắt gặp đối tượng , anh ta sẽ cố gắng chinh phục bằng những mồi ngon như con vật nhỏ, trái cây chúng tìm được. Con cái kiểm tra bằng cách ném các món ăn ấy đi. Con đực sẽ tiếp tục chứng minh và tìm nơi phù hợp để con cái đẻ và ấp trứng. Khi con cái chấp nhận con đực, thì nó sẽ làm tổ và bảo vệ con cái. Nếu thấy an toàn, con cái sẽ giao phối trong vài ngày.Con cái ở trong tổ ấp trứng cho đến ngày chim con chào đời. Thỉnh thoảng con cái giúp con đực tìm thức ăn cho chim con. Con cái ở mãi trong tổ và chỉ đi ra ngoài khi chim có thể bay được. Tình trạng: Nhân tố làm hạn chế số lượng chim mỏ sừng là không có nơi phù hợp và an toàn để làm tổ. Nguyên nhân là do con người đã sử dụng rừng mưa nhiệt đới làm vùng nông nghiệp, nơi ở thậm chí là việc săn bắn trái pháp luật. Hiện nay, IUCN đang ở tình trạng đáng báo động.CITES đã phân loại theo như phụ lục 1 |  |  |  | Khả năng sinh sản: Được ghi nhận đầu tiên ở Vườn Bách thú Mở Khao kheow(KKOZ), Tỉnh Chonburi, Thái lan. Vườn bách thú KK là mộng trong năm vườn bách thú năm nằm trong Tổ chức vườn bách thú. Đây là tổ chức dưới sự quản lý có Bộ quản lý cây xanh và động vật hoang dã, và Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường. |  |  | Mục đích của dự án là can thiệp vào những yếu tố giới hạn để phát triển thành những yếu tố có thể. “ Cách nào” và “ Tại sao” chim mỏ sừng lại chọn những hốc làm tổ. Kết quả của cuộc nghiên cứu này như lời đề nghị về xây dựng cấu trúc tổ. Các nhà khoa học tiếp tục “ Chương trình xây dựng tổ nhân tạo” cho loài chim mỏ sừng và sử dụng thông tin từ kết quả nghiên cứu để thiết kế những tổ chim nhân tạo độc đáo và phù hợp. Tác giả hy vọng đóng góp những thông tin bổ ích này trong việc duy trì hoạt động sinh sản và bảo tồn các loài động vật đang bị đe dọa nghiêm trọng ở vùng hoang sơ cũng như trong vườn bách thú. Mục đích: 1. Sự lựa chọn tổ chim đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản của chim mỏ sừng, vì nó phản ánh được kết quả của chương trình sinh sản động vật trong chuồng. Chúng ta cần hiểu chúng chọn tổ “ như thế nào” và “ tại sao” chỉ chọn tổ đặc biệt đấy. |  |  | 2. Cuộc nghiên cứu về điều kiện chọn tổ sinh sản cho điều kiện nơi hoang dã và trong chuồng : chế độ dinh dưỡng, kích thước, đọ dày của tổ, chất liệu làm tổ và độ cao từ sàn đến tổ. Dự án cũng cho thấy rằng chim mỏ sừng sống thành cặp. 3. Những yếu tố cần thiết xây dựng tổ : không gian, kích thước, hình dạng , chất liệu và độ cao nơi đặt tổ. Những yếu tố này và những hành vi hiện hữu quyết định về cách chọn, sở thích chọn không gian , thay đổi nhiệt độ, tính an toàn và những dấu tích trước đây cho thấy chúng thích những nơi có nhiệt độ thấp. 4. Mục đích kết quả áp dụng kết quả nghiên cứu trong thiết kế xây dựng và lắp đặt các tổ chim nhân tạo. 5. Kết quả nghiên cứu giúp ích nhiều cho chương trình xây dựng tổ chim nhân tạo cho loài chim mỏ sừng hoang dã ở những khu vực được định sẵn, khi một số nơi đang đối diện với sự hạn chế về nơi ở cho chúng trong thời gian sinh sản. Kết quả Tổng thể 1. Sau hai mùa nghiên cứu(2000-2001) , chúng tôi thu được 10 chim con: 9 con loài chim mỏ sừng Phương Đông và 1 con loài chim mỏ sừng lớn. |  |  | 2. Tỉ lệ sinh thành công 50% : 7 trong 14 cặp kết đôi. 2 của năm đầu và 5 của năm thứ hai. Trong đó 2 cặp của năm đầu cũng đưa thực hiện mang lại thành công trong năm thứ hai. Vị trí 1. Tóm lại, tỉ lệ sinh thành công thấy ở những cặp chim mỏ sừng có tổ nằm ở vị trí cao. | | 2.Chú ý: Loài chim mỏ sừng thường ở những tổ hình hộp là loài Chim mỏ sừng lớn và Chim mỏ sừng Wreath. Kích thước cũng đóng góp vào hoạt động này. Sex and the observation 1. Từ 16 tổ hình hộp được quan sát thấy: 50% tổ có cả con đực và con cái, 50% tổ chỉ có con cái 2. Trong 8 tổ có lẫn con cái và con đực: thì con đực luôn ở vị trí dễ quan sát để bảo vệ cho tổ . |  | 3. Tất cả những tổ thành công phụ thuộc nhiều vào sự chọn lựa của con cái. Dù con đực có người đứng trước để quan sát và che chở tổ, con cái vẫn dõi theo mọi hành động ấy. chất liệu 1. 7 kết quả quan sát thấy trong thời kỳ ấp trứng, 1 tổ từ cây thông làm tổ(chiếm tỉ lệ 14.29%), 3 ống bê tông (chiếm tỉ lệ 42.87%) 3 thùng kim loại(chiếm tỉ lệ 42.87%) |  | 2. 16 kết quả quan sát thấy trong thời kỳ sinh sản: 25 % - dùng loại tổ từ thân cây thông., 18.75% - tổ dạng ống bê tong, 18.75 % - tổ dạng thùng kim loại, 37.5% - tổ từ gỗ 3. Từ 206 kết quả : 70.39% tổ từ thân cây thông Tổ từ ống bê tông chiếm 1.46%, Tổ từ thùng kim loại chỉ chiếm 9.22%, Và tổ dạng gỗ :18.39% Tổ từ thân cây thông tạo sự thu hút đáng kể , nhưng tổ từ ống bê-tông và thùng kim loại lại mang lại hiệu quả cao hơn. Nhiệt 1. Nhiệt độ xung quanh khác nhau( nhiệt độ thấp) phụ thuộc nhiều vào chất liệu. Tổ từ thân gỗ có nhiệt độ khác nhau. Ống bê tông, thùng kim loại có nhiệt độ thấp và thay đổi liên tục 2. Sự thay đổi nhiệt độ trong ngày cũng làm cho tổ bằng gỗ, ống bê tông và các thùng kim loại cũng thấp hơn liên tục. kết luận và thảo luận những yếu tố tiên quyết Mối quan hệ : Chim mỏ sừng sống thành từng cặp. Đây là yếu tố tiên quyết cho cuộc nghiên cứu. Cuộc nghiên cứu loại trừ những những cặp đôi không có cử chỉ thân mật với nhau. Những cử chỉ thân mật được ghi nhận và phân loại bởi cùng tác giả. Sức khỏe:đo tiêu chuẩn sức khỏe của chim mỏ sừng thông qua cân nặng và cơ bắp của chúng. Dựa vào những thông sô “Bảng kê điều kiện thể trạng” ( David,1945), mà đoán bệnh qua đo xương cơ ngực và mức độ phát triển của cơ xương. Chỉ số điều kiện thể trạng phân cấp theo 5 mức độ: mức độ 1 đối với những con nhỏ và mức độ 5 là những con có cơ bắp mập mạp hơn. Trong phạm vi khảo sát này, hầu như chim mỏ sừng đều có kích thước cỡ trung trở lên(trên mức độ 2) Tuổi thọ: đoán tuổi chim mỏ sừng thông qua cỡ mỏ chim và màu sắc mắt. Trong bài nghiên cứu này, chim mỏ sừng đều ở giai đoạn trưởng thành. Chế độ dinh dưỡng – Chim mỏ sừng Phương Đông: thức ăn hàng ngày chuối, đu đủ, nho và những loại hạt khô. Với những chim mỏ sừng khổng lồ lại thêm vào khẩu phần ăn gồm cơm và trứng luộc. Phần thức ăn này được nắm lại nhỏ vừa ăn, có kích thước như trái banh 1-2cm. Chất dinh dưỡng hằng ngày gồm vỏ sò được tán đều trong các món ăn để cung cấp chất can-xi. Hai loại thức ăn chính:thực vật gồm ổi cắt thành hạt lựu, cam, bí ngô , cà-rốt luộc, mận đen, và động vật có chuột con, thịt heo nguội, thằn lằn và tắc kè. Mỗi khẩu phần ăn hàng ngày đều phải được định lượng. Trung bình khẩu phần ăn đảm bảo cung cấp 12.18% chất đạm, 3.73 chất béo , 0.71 chất can-xi và 0.49 chất phot-pho. Chuồng: kích thước tiêu chuẩn (theo như nghiên cứu) rộng 4m x dài 8m x cao 3m. Vị trí đặt: thí nghiệm 8 tổ : 4 tổ đặt cao 2m và 4 tổ đặt cao 0.3m với những chất liệu sau: cây thông, thùng kim loại, ống bê-tông và gỗ dạng sọc dạng hình trụ cao cửa : trung bình 7-10 cm từ phía đáy tổ Kích thước cửa: đối với loài lớn hơn như chim mỏ sừng Great và Rhinoceros cửa khoảng 15cm( thấp hơn 20cm), những loài nhỏ như dòng Phương Đông thì khoảng 10cm(thấp hơn 16cm). Cửa dạng e-lip hoặc hình ô-van được ưa chuộng hơn vì tiện lợi cho chúng khi ra vào. |  | Chất liệu phụ thêm làm tổ: sỏi, mạt gỗ, gỗ mục trong rừng phía trong tổ có thêm độ cao khoảng 5cm. Một số con lại không thích dùng thêm chất liệu phụ thêm. Những nhân tố khác: Vị trí đặt tổ: Càng cao càng tốt. Hình dáng và kích thước: đối với loài chim mỏ sừng nhỏ, thì tổ làm từ thân cây sẽ thoáng và nhiều không gian để ở hơn, nhưng chúng lại chỉ chọn tổ từ ống cô-tông và thùng kim loại. Ngược lại , những loài lớn hơn thì lại thích tổ thân gỗ. Và tổ dạng thân cây sọc thì lại không được chuộng vì thường tạo ra những cơn gió mạnh. Nhiệt độ: Chất liệu giữ thấp nhiệt độ tốt nhất là từ thân cây dạng sọc. Nhưng theo quan sát thấy, ở giai đoạn ấp trứng thì chim mỏ sừng lại không chọn để làm tổ . Sự thật chứng minh rằng, chim mỏ sросừng thích làm tổ ở những thân cây còn sống. Chất liệu: Ống cô-tông và thùng kim loại được chúng thích hơn. Tuy những chất liệu này bền và an toàn nhưng lại không giữ được nhiệt độ, kích thước lại nhỏ. Điều đó có thể kết luận rằng, chúng vẫn cần sự an toàn nhiều hơn cần không gian để ở. Một số tham khảo 1. Chim mỏ sừng cỡ nhỏ thích ở tổ làm từ ống cô-tông, thùng kim loại và đặt ở vị trí cao. Những thùng kim loại thường nhẹ nên dễ lắp đặt hơn. 2. Chim mỏ sừng cỡ lớn lại thích những tổ từ thân cây và đặt ở vị trí cao hơn. Vì ở ví trí này, thoáng và gần với thiên nhiên hơn. | | | |  | | | | |