Đường Lâm ở Hà Tĩnh Và Giao Lộ Từ Biển Đông đến Mekong
Có thể bạn quan tâm
PGS.TS. Trần Trọng Dương
Viện nghiên cứu Hán Nôm
Lược thuật vấn đề
Đào Duy Anh trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời cho rằng Đường Lâm nằm ở châu Phúc Lộc (nam Nghệ Tĩnh), ý kiến này sau đó được Văn Tân ủng hộ (1966)[1]. Nhưng phần lớn học giới hiện nay đều cho là ở xã Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội). Xác định Đường Lâm nằm ở đâu là vấn đề học thuật quan trọng mà ở đây liên quan cụ thể đến hai ngành sử học và địa lý học lịch sử/ địa danh học lịch sử. Bởi Đường Lâm là đất hai vua: Phùng Hưng và Ngô Quyền. Thực ra, việc Đường Lâm/ Phúc Lộc tồn tại như một địa danh hành chính thời Đường không phải là chuyện mới đối với học giới quốc tế. H. Maspéro (1910, 1918) là người sử dụng Thái Bình hoàn vũ kí để viết về Đường Lâm- châu Phúc Lộc[2]. Sau đó ta còn thấy E. Schafer (1967) nhắc đến châu Phúc Lộc trong tương quan với Phong Châu, Trường Châu, Lục Châu, Ái Châu, Diễn Châu của Giao Châu thời này[3]. Dựa trên việc kiểm chứng hệ thống sử liệu gốc, chúng tôi nghiêng theo giả thuyết của giáo sư Đào, và đã công bố bài khảo cứu vào năm 2011 trên Xưa và Nay[4]. Năm 2019, có bài phản biện của PGS. Nguyễn Minh Tường.
Sử liệu quan trọng để các sử gia Việt Nam xác nhận Đường Lâm ở Sơn Tây là đoạn văn trong Đại Việt sử ký toàn thư (vt. Toàn thư). Nguyên văn như sau: “Tân Mùi [791],…, tháng 4, mùa hè, người Đường Lâm ở Giao Châu (Đường Lâm thuộc huyện Phúc Lộc) là Phùng Hưng dấy binh vây phủ. Chính Bình lo sợ mà chết.” (辛未,…, 夏四月,交州唐林人〈唐林在福祿縣〉馮興起兵圍府。政平以憂死)[5]. Quyền uy của bộ chính sử khiến phần lớn các sử gia Toàn thư đoạn này có chú Đường Lâm thuộc huyện Phúc Lộc, dịch giả chú là ở Cam Lâm, Sơn Tây. Nguyên ủy, Toàn thư ghi là “người Đường Lâm Giao Châu” (交州唐林人). Một soạn giả nào đó từ 1479 đến năm 1697 đã chú thêm rằng “Đường Lâm ở huyện Phúc Lộc”. Sau đó, Đại Nam nhất thống chí phần viết về tỉnh Sơn Tây (do quan lại của Sơn Tây biên soạn) đã đưa vào sách với sự chứng minh từ bia Cam Tuyền (1391, sic) ở di tích thờ Phùng Hưng- Ngô Quyền[6]. Phản biện lại sử liệu trên, Đào Duy Anh đã sử dụng cụm 3 bộ sử thời Đường Tống gồm: Cựu Đường thư, Giã Đam ký, Thái Bình hoàn vũ ký để xác định Đường Lâm thời Đường, với sự kiện Phùng Hưng, là ở huyện Đường Lâm châu Phúc Lộc thuộc về phía nam của tỉnh Hà Tĩnh ngày nay[7]. Năm 1966, Văn Tân đồng ý rằng có lẽ Toàn thư đã quy đổi lầm địa danh cổ thời Đường sang huyện Phúc Lộc tỉnh Sơn Tây. Với các cứ liệu bắc sử, ông cho rằng “Ngô Quyền là người huyện Đường Lâm thuộc Hoan Châu, nhứ không phải không phải là người huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây”. Ông cho rằng hàng loạt các thủ lĩnh thế kỷ VIII – X như Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền,… đều từ Hoan Ái tiến ra An Nam đô hộ phủ. Đường Lâm ở Nghệ Tĩnh thì mới phù hợp với tình hình xã hội khi đó. Ông khuyến nghị: dùng bộ Đại Việt sử ký toàn thư phải rất thận trọng.[8] Không đồng ý với quan điểm trên, Vũ Văn Tỉnh đã đưa ra tấm bia Phụng tự bi khắc năm 1390 tại đình xã Cam Lâm. Nội dung bia ghi rõ bản xã vốn là Đường Lâm, có hai vị Phùng Hưng và Ngô Quyền, là một ấp hai vua, danh thơm bất hủ. Tấm bia này tuy lập sau khi Ngô Quyền mất là 4 thế kỷ, nhưng lại có trước Đại Việt sử ký toàn thư đến hàng thế kỷ, nên nó tin cậy hơn các sách vở ghi chép vì không bị tam sao thất bản[9].
Sử liệu học về Đường Lâm
Tác giả Nguyễn Minh Tường đã viết bài “Trở lại vấn đề quê gốc Ngô Quyền” đăng trên Tạp chí Xưa và Nay 5/2019 (trang 13- 22). Ông phản biện quan điểm cho rằng Đường Lâm không phải ở Sơn Tây như giả thuyết của giáo sư Đào và chúng tôi. Ông chứng minh bằng 3 điểm như sau: 1/ Cựu Đường thư chỉ ghi “Đường Đỗ quận” không có “Đường Lâm quận”; 2/ Tên “Đường Lâm” tại Sơn Tây không phải có từ năm 1964 mà đã được chép từ sớm trong Việt Điện U Linh tập (1329), Lĩnh Nam chích quái (1370), Đại Nam nhất thống chí (1882); 3/ Bia Phụng tự bi không phải được ngụy tạo, mà chỉ là khắc lại vào đầu triều Nguyễn, nhưng khi khắc lại thì sử dụng địa danh hành chính của năm khắc đó (triều Nguyễn). Vấn đề bia Phụng tự bi không nhắc lại ở đây, vì tôi cho rằng dù văn bia này là ngụy tạo hay khắc lại thì nó không ảnh hưởng đến hệ thống sử liệu sớm thời Đường Tống, vì năm 1390 cách năm 791 đúng 600 năm, cách năm 938 là 453 năm[10]. Các sử liệu của Đại Việt, như Toàn thư, đã được biên tập trong suốt 300 – 400 năm từ thời Phan Phu Tiên đến năm 1697, bởi các học giả rất thông thuộc địa lý hành chính đương thời, nên độ bảo lưu địa danh cổ luôn bị ảnh hưởng. Có thể ban đầu ghi là “Phúc Lộc Đường Lâm nhân”, nhưng người đời sau (1479, sau gần 700 năm) không biết đến châu Phúc Lộc nên quy đổi thành “huyện Phúc Lộc”. Xét, huyện Phúc Lộc là địa danh thời Lê sơ, đến thời Tây Sơn đổi là Phú Lộc, đến năm 1802 lại cải thành Phúc Lộc, sau đổi thành Phúc Thọ[11]. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra như Đào Duy Anh và Văn Tân đã nhận định.
Trở lại với quan điểm về chữ “Đường Đỗ” trong Cựu Đường thư của tác giả Nguyễn Minh Tường. Việc sai lầm “lỗ ngư – tác tộ” là chuyện hàng ngày của những người làm sử liệu Hán Nôm. Vì vậy việc xác định chữ nào đúng (Đường Lâm 唐林 hay Đường Đỗ 唐杜) là vấn đề then chốt. Thực ra, Đường Đỗ chỉ là 1 lỗi chính tả của văn bản. Ngay trong sách này, cùng miêu tả về châu Phúc Lộc, Cựu Đường thư cũng ghi chính xác là “Đường Lâm”. Nhưng sử liệu không thể nói bằng âm thanh, hay gõ máy lại chữ Hán, vì khi làm như thế rất sẽ gây sai lầm. Quý vị có thể kiểm tra ảnh chụp nguyên bản Cựu Đường thư (quyển 41, trang 4b, dòng 1 chữ lớn thứ 5-6) được in trong sách Việt Nam thế kỷ X- những mảnh vỡ lịch sử (2019, trang 378). Hoặc như ảnh dưới trong sách Tân Đường thư[12].

Đường Lâm (5 lần), Tân Đường thư, Q.43 thượng, tr.23a, 23b
Song vấn đề không phải chỉ ở chỗ chép sai tự dạng, vấn đề ở thao tác luận. Khi xử lý văn bản gốc, sử liệu gốc, các văn hiến học cổ điển và nhà sử liệu học thường phải hiệu khám văn tự, so sánh dị bản, đối chiếu các truyền bản khác nhau để đính chính văn tự, phê phán sử liệu. Chính vì thế khi công bố quan điểm về “Đường Lâm là Đường Lâm nào?”, chúng tôi đã sử dụng một hệ thống sử liệu (TTD nhấn mạnh), đặt các sử liệu đó song song với nhau và tiến hành khảo dị. Trong số 11 lượt sử liệu sớm được biên soạn thời Đường- Tống – Minh thì 10 lượt ghi Đường Lâm (唐林), 1 lượt ghi “Đường Đỗ” (唐杜). Như vậy có thể đính chính cho sử liệu, rằng Đường Đỗ chép nhầm từ Đường Lâm, giống như Hùng Vương 雄王là sai chính tả từ Lạc Vương 雒王(với hệ thống tương xứng: Lạc tướng, Lạc hầu, Lạc dân, Lạc điền, của nước Âu Lạc). Khi phản biện, tác giả Nguyễn Minh Tường đã bỏ qua tính hệ thống của sử liệu, và chỉ tập trung vào một (01) vị trí mà ông cho là viết sai.
Ngoài tính hệ thống, thì vấn đề quan trọng thứ hai của sử liệu học là tính quan phương và niên đại học của nguồn sử liệu. Nghiên cứu về địa danh Đường Lâm của thời nhà Đường thì đương nhiên nguồn tư liệu được soạn thời Đường thời Tống là quan trọng nhất, vì nó được biên soạn gần với thời gian sự kiện diễn ra, thậm chí là của chủ thể quản lý. Huyện Đường Lâm (hoặc có lúc là châu Đường Lâm) với tính chất là một đơn vị hành chính chịu sự quản lý của nhà Đường, thì những phần viết về Địa lý chí của Đường thư là đáng lưu tâm nhất. Vì đó là sự ghi chép có chủ đích, thể hiện quyền lợi (dân số, thuế má,…) và quyền lực chính trị của người chép sử[13]. Chúng tôi đã khảo sát hệ thống sử liệu nguyên cấp có niên đại từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII, và đặt nó trong tổng thể sử liệu hiện còn ghi chép về Đường Lâm. Trong khi các tư liệu sớm đều thống nhất ghi chép về sự tồn tại của huyện Đường Lâm/ châu Đường Lâm) ở châu Phúc Lộc (tương đương với Hà Tĩnh). Càng tư liệu càng muộn thì càng ghi một cách rõ ràng hơn về Đường Lâm ở Cam Lâm- Phúc Lộc/ Phúc Thọ (Sơn Tây) Có thể biểu diễn thành biểu đồ sử liệu như sau.
| Năm soạn | Sử liệu | Sự kiện | Năm sự kiện |
| 801 | Thông điển, q.184 | huyện Đường Lâm tại châu Phúc Lộc | 663, 669, 742, 758 |
| 945 | Cựu Đường thư, q.41 | h. Đường Lâm [Đỗ] tại châu Phúc Lộc | 758 |
| 945 | Cựu Đường thư, q.41 | h. Đường Lâm tại châu Phúc Lộc | 945 |
| 983 | Thái Bình hoàn vũ kí | h. Đường Lâm tại châu Phúc Lộc | 662, 670, 757, 758 |
| 983 | Thái Bình hoàn vũ kí | cải làm quận Đường Lâm– Phúc Lộc | 757 |
| 1060 | Tân Đường thư, q.43 thượng | quận Đường Lâm của châu Phúc Lộc | 669, 701,757, 758 |
| 1060 | Tân Đường thư, q.43 thượng | đầu thời Đường lấy hai huyện Đường Lâm, An Viễn đặt ra châu Đường Lâm | x |
| 1060 | Tân Đường thư, q.43 hạ | từ Hoan Châu đi 2 ngày đến h. An Viễn của châu Đường Lâm, từ đó đi 2 ngày đến Hoàn Vương (Champa) | x |
| 1117 | Dư địa quảng kí q.38 | đổi quận Đường Lâm thành quận Phúc Lộc và ngược lại | 663, 669, 757, 758 |
| 1181 | Đại sự ký q.12 | châu Phúc Lộc, Trường Châu, Phong Châu, Lục Châu, Giao Châu | x |
| 1329 | Việt Điện u linh | Phùng Hưng (? – 791) đời đời làm di trưởng châu Đường Lâm Đỗ Anh Hàn người Đường Lâm | 791 <802 |
| 1370 | Lĩnh Nam trích quái | Phùng Hưng người Đường Lâm- Giao Châu | 791 |
| 1335 | An Nam chí lược q.1 | các châu cổ: Phong Châu (đời Ngô là Tân Xương), Trường Châu, Vũ Nga châu, Đường Lâm châu. | x |
| 1479/1697 | Toàn thư | Ngô Nhật Khánh chiếm Đường Lâm | 965 |
| 1479/1697 | Toàn thư | người ở Đường Lâm thuộc Giao Châu (Đường Lâm thuộc huyện Phúc Lộc) là Phùng Hưng dấy binh vây phủ. | 791 |
| 1479/1697 | Toàn thư | [Ngô Quyền (898-944)] người Đường Lâm, đời đời là nhà quý tộc. Cha là Mân làm chức châu mục ở bản châu. | thế kỷ 10 |
| 1392 (?) | Phụng tự bi | Phùng Hưng ở Cam Lâm, | thế kỷ 8 |
| 1473 (?) | Phụng tự bi | Hai vua ở xã Cam Giá, huyện Phú Lộc | thế kỷ 8 |
| 1514 | Lê Tung- Toàn thư | Phùng Bố Cái đem anh hào Đường Lâm đánh Chính Bình Hà khắc | 791 |
| 17 tk | Thiên Nam ngữ lục | Quyền cũng Đường Lâm con dòng/ Đường Lâm sinh có anh hùng | 938 |
| 1820 | Lịch triều hiến chương loại chí | Đường Lâm nay là đất huyện Hoài An, huyện Mỹ Lương. | x |
| 1872 | Đại việt địa dư toàn biên | Nay xã Cam Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ (xã Cam Lâm trước là xã Cam Tuyền) có hai đền thờ Bố Cái Đại Vương và Tiền Ngô Vương | x |
| 1882 | Đại Nam nhất thống chí | Đường Lâm tại huyện Phúc Thọ, phủ Quảng Oai | x |
| 1910 | Việt sử cương mục tiết yếu | Phùng Hưng ở Đường Lâm, Phong Châu (Đường Lâm là tên xã; nay là xã Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, không phải là huyện Đường Lâm, châu Phúc Lộc | x |
Bảng niên đại học về sử liệu Đường Lâm[14].
Chú thích: (?) tư liệu có vấn đề về văn bản. Dấu x: chỉ việc tư liệu không đề cập đến niên điểm sự kiện.
Như vậy, khi đọc sử liệu, ta luôn phải để ý đến hai khái niệm: “niên đại thành thư” (tạm gọi là N1), và “niên đại sự kiện diễn ra” (N2). Khi N1= N2 khi đó ta có sử liệu nguyên cấp/ hiện vật gốc, nghĩa là thời điểm tạo tác niên đại trùng với sự kiện, là bản thân sự kiện, hoặc một phần của sự kiện đó. Ví dụ: văn bản tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1945) là bản gốc, hoặc hệ thống châu bản triều Nguyễn. Nhưng khi N1 càng xa N2 thì khả năng khúc xạ hay phản ảnh sự kiện càng thiếu xác tín, thậm chí sai lạc. Lúc này ta có thể tạm đặt khái niệm “quãng khúc xạ” (QK). Ví dụ 1: Thông điển soạn năm 801 (do quan nhà Đường soạn) về sự kiện châu Phúc Lộc có huyện Đường Lâm thành lập năm 758. QK = N1 – N2 = (801 – 758) = 43 năm. Ví dụ 2: Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng thành thư muộn nhất vào năm 1910, phản ảnh về sự kiện Phùng Hưng 791. Vậy quãng khúc xạ sử liệu sẽ là 1119 năm (1910 trừ 791). Chính vì thế, tôi đã từng viết rằng, bia Phụng tự bi dù có là bia giả hay không, thì điều đó không làm ảnh hưởng đến tính chất sử liệu trong các bộ Bắc sử – một truyền thống sử chí thuộc hàng mạnh nhất vào thời cổ trung đại. Các bộ sử này xác nhận, mô tả khá chi tiết các niên điểm, cơ cấu hành chính, vị trí địa lý và đường xá đi lại giữa các đơn vị hành chính, cụ thể là huyện Đường Lâm và châu Đường Lâm.
Lộ trình từ Hoan Châu đến Đường Lâm
Một điểm quan trọng nữa của các sử liệu thời Đường đó là mô tả tuyến đường giao thông nhằm phục vụ công tác quản lý và hoạt động quân sự. Nếu một số là mô tả địa danh hành chính thì Tân Đường thư có mô tả một đoạn quan trọng như sau: “Đạo Lĩnh Nam: Một đường từ phía đông Hoan Châu đi hai ngày, đến huyện An Viễn của châu Đường Lâm, đi về phía nam qua sông Cổ La, đi hai ngày đến sông Đàn Động của nước Hoàn Vương. Lại đi bốn ngày đến Chu Nhai. Lại đi qua Đan Bổ Trấn, đi hai ngày đến thành đô nước Hoàn Vương, thời Hán xưa gọi là đất quận Nhật Nam vậy.” (岭南道: 一路、自驩州東,二日行至唐林州、安遠縣,南行經古羅江,二日行至環王國之檀洞江。又四日至硃崖,又經单补鎮,二日至環王國城,故漢日南郡地也。)[15]. Hoan Châu đời Đường là ở vào vị trí nam Nghệ An bắc Hà Tĩnh, lấy Hồng Lĩnh- Lam Sơn làm trung tâm (tức thành phố Vinh ngày nay). Sông Cổ La tức là sông Kỳ La (sông Lạc Giang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Từ Kỳ La qua Cửa Khẩu (Vũng Áng) mất một ngày, từ Cửa Khẩu đi thêm một ngày nữa đến được sông Đàn Động nước Hoàn Vương (Champa), thì suy ra sông Đàn Động chính là sông Gianh[16] với Cửa Ròn trên đất Quảng Bình nay.
Vậy châu Đường Lâm/ châu Phúc Lộc của nhà Đường bao gồm các huyện ở phía nam Hà Tĩnh gồm: Hương Khê, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh. 7000 bộ lạc Man Lão mà các sử liệu hay nói đến là ở vùng núi Hương Khê và các phần đất thuộc Lào. Còn huyện Đường Lâm thuộc châu Phúc Lộc nhà Đường nằm ở đâu? Theo tôi, trung tâm của nó nằm ở huyện Can Lộc- nơi có dòng họ Ngô nổi tiếng và lâu đời trong lịch sử. Khác với ở Sơn Tây nay, không có họ Phùng họ Ngô nào ở đó (điền dã 2011). Từ thị trấn Nghèn xuôi sông Nghèn ra đến sông Hạ Vàng (cửa biển Nam Giới- chính là nơi Ngô Nhật Khánh lên thuyền vào Chiêm Thành cầu viện binh).

Đường Lâm- biên giới cực nam của nhà Đường. Nguồn: Yan (2009)

Bản đồ chồng lớp Đường Lâm- Phúc Lộc châu- Đường Châu.
Nguồn: Yan Gengwang, 2009, Geography Institute of Academia Sinica[17].
Giao lộ đông tây từ Biển Đông đến Mekong
Việc xác định được vị trí của Đường Lâm và châu Phúc Lộc có một vai trò rất quan trọng trong việc tái nhận thức lịch sử thế kỷ VI-X, thậm chí soi sáng thêm nhiều góc khuất về lịch sử giao thông, lịch sử đối đầu- và giao thương giữa Đường và Khmer, quá trình hình thành và đi lên của Đại Cồ Việt/ Đại Việt trong thế kỷ X-XII-XV khi “tứ bề thọ địch”.
Nhưng trước tiên, ta cần xác định rõ hơn con đường từ Hoan Châu đi Đường Lâm- Phúc Lộc đã diễn ra như thế nào. Bởi tôi hình dung, bờ biển Hoan Châu- Phúc Lộc châu là một chuỗi các thương cảng ven bờ, nối với nhau bằng hệ thống thủy lộ duyên hải, và đường bộ duyên hải, cũng như đường bộ ngược xuôi (đông tây). Giã Đam ký ghi: từ Hoan Châu đi hai ngày đến huyện Nhu Viễn châu Đường Lâm. Đào Duy Anh cho rằng vị trí của huyện Nhu Viễn và châu Đường Lâm phải ở miền Hoành Sơn, như thế châu Phúc Lộc ở miền thượng du phía Tây của tỉnh Hà Tĩnh. Thái Bình hoàn vũ ký ghi: từ Hoan Châu đi hai ngày dọc theo bờ biển dài 102 dặm (51km) là đến châu Phúc Lộc[18]. Với sử liệu này, Đào Duy Anh nhận định rằng: châu Phúc Lộc gồm cả miền Nam Hà Tĩnh và miền Quy Hợp và Ngọc Ma ở phía tây của dãy núi Hoành Sơn[19]. Các tư liệu trong Tân Đường thư và Cựu đường thư đều ghi chuyện Tạ Pháp Thành thu phục 7000 bộ lạc[20] ở phía rừng núi của châu Phúc Lộc. Một số lượng lớn như vậy chắc hẳn không chỉ có phần đất của phía tây Hà Tĩnh mà còn cả vùng đất của Lào. Đại Nam nhất thống chí ghi: huyện Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) đời Đường là châu Lộc Phúc[21]. Lộc Phúc chắc nhầm từ Phúc Lộc, mà ngay ở dưới ghi việc năm 1868 vẫn còn bảo lưu tổng Phúc Lộc, cùng các tổng Hương Khê, Quy Hợp, Châu Lễ, Phương Điền. Huyện Hương Sơn có núi Giăng Màn được mô tả là nhiều người Man Lạo. Nếu thế có thể nghĩ đến chuyện Hương Sơn xưa chính là huyện Nhu Viễn- huyện lị của châu Phúc Lộc. Tính từ thương cảng cửa Hội, đi Hồng Lĩnh, qua Đức Thọ, lên Phố Châu là 35km, đến Ngàn Phố là trên 40 km. Thời xưa đi 2 ngày là cũng có lý. Còn nếu theo đường dọc biển (dù là đi thuyền hay đi bộ), từ cửa Hội xuôi về cửa Nam Giới (sông Hạ Vàng, thành phố Hà Tĩnh nay) thì là 30 km. Như vậy, Nhu Viễn (Hương Sơn) là huyện lị của châu Phúc Lộc, còn Đường Lâm là huyện duyên hải gồm phần đất của bốn huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh ngày nay. Giới hạn của huyện Nhu Viễn đến đâu? Nếu tính theo ranh giới hiện nay thì là gồm 3 huyện: Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn và phần đất của Lào.
Muốn hiểu thêm địa giới của Nhu Viễn đến đâu trên đất Lào ngày nay thì ta phải khảo thêm về giao thông ở khu vực này. Về lịch sử giao thông, ta thử khảo xem, con đường xuyên rừng vượt núi từ Đường Lâm- Hoan Châu sang sông Mekong – Chân Lạp như thế nào. Từ Hoan Nghệ sang Lào có 3 đường: 1/ Diễn Châu/ hoặc Vinh – Đô Lương- lên Mường Xén (Kỳ Sơn) đây là tuyến lớn nhất, đi từ Nghệ An; 2/ tuyến Hồng Lĩnh/ Can Lộc- Hương Sơn- Ngàn Phố- đèo Keo Nưa; 3/ tuyến Kỳ Anh hoặc Quảng Trạch (Quảng Bình) đi Tuyên Hóa sang Thakhek (Lào). Hai tuyến sau từ bờ biển Đông đến bờ sông Mekong chỉ trên 100 km. Cứ tạm coi như là các đường này kế thừa từ những con đường cổ xưa. Ta thử khảo xem sự thật như thế nào. Đại Nam nhất thống chí ghi: về tỉnh Nghệ Tĩnh “phía tây thông sang Ai Lao, phía nam đến bể, … Thượng du thì có thì có các đồn Hà Trai, Hà Tân, Quy Hợp ngăn được bọn Man Lạo. Phòng giữ mặt bể thì có Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng”[22]. Cửa Sót là cửa Nam Giới thế kỷ X. Cửa Nhượng là cửa biển Cổ La- Kỳ La từ thế kỷ VII- XI. Sách này ghi: “cửa ải Quy Hợp ở phía tây huyện Hương Khê 60 dặm (30 km), đầu đời Lê có đặt đồn ải. Triều ta (Nguyễn) để như trước. Sau đổi thành cửa tấn, đặt quân canh phòng. Có đường thông với phủ Trấn Tĩnh”[23].
Tuyến đường xuyên lục địa: biên giới giữa Đường và Chân Lạp
Đây có thể là những dấu hiệu cho thấy một mô hình trao đổi thượng hạ nguồn ở vùng Thanh Nghệ. Như K.R. Hall đã rất tinh ý khi cho rằng, các cảng vùng Nghệ – Tĩnh là nối liền tuyến buôn bán “xuyên lục địa” thông qua vùng Nam Lào và Chân Lạp. Từ thế kỷ X, thương nhân từ Nghệ An, đã qua ải Hà Trại ở dãy Khai Trướng (Khai Môn, cửa khẩu Cầu Treo?) theo đường sông Mekong xuống Băn Thăt để đi vào kinh đô Angkor của Chân Lạp.[24] Nhưng với các sử liệu thời Đường, ta đang có một hình dung sớm hơn về con đường “trầm hương” (香道) thượng hạ nguồn. Khi đó, Đại Đường đã đặt các thương cảng Diễn-Hoan- Phúc Lộc vào mút cuối quan trọng của đế chế thương mại ở phương Nam, và khi bị chặn lại bởi Hoành Sơn, cùng một Lâm Ấp chấn giữ kín bờ biển, có thể nhà Đường đã tìm đường lên nguồn tìm lối ra Mekong để xuôi xuống Angkor. Tìm hệ thống bản đồ về thời Đường, ta thấy chính ở chỗ Đường Lâm- Phúc Lộc này, bản đồ đế chế phình ra, trải từ bờ biển Phúc Lộc cho đến bờ sông Mekong. Ai cũng có thể nghĩ đến Đường Lâm- Phúc Lộc- Hoan Châu ở đây đang chiếm vai trò như một mắt xích tiền tiêu trong hệ thống thương mại liên bang quốc, nối liền các bờ biển của nhà Đường ở Giao Châu với hệ thống thương cảng duyên hải khắp nơi ở Đông Á- Đông Nam Á, và trên đất liền từ Mekong đi xuống Angkor của đế chế Khmer hùng mạnh[25]. Điều này phù hợp với việc Tân Đường thư (1060) ghi rằng, nhà Đường có 7 lối lớn đi khắp nơi, trong đó An Nam chiếm 2 lối, một lối thông từ An Nam sang Thiên Trúc, một lối từ Quảng Châu đi sang các biển man di[26]. Sở dĩ Đường chỉ có lối này là đường bộ qua Tây Trúc vì khi đó, phía tây Đường bị cách bởi Thổ Phồn và Nam Chiếu. Lối đi này được mô tả kĩ hơn như sau: “từ Hoan Châu đi về phía tây nam mất 3 ngày, đi qua đỉnh Vụ Ôn/ Vụ Thấp [núi Giăng Màn, núi Vụ Quang, cửa khẩu quốc tế Cầu Treo: 18o25’23’N 105o14’52E][27], lại đi 3 ngày nữa đến huyện Nhật Lạc [Ban Lakxao][28] của Đường Châu, lại đi qua sông La Luân [?, 18o05’13’N-105o02’33E][29] và núi Thạch Mật [?, 17o59’30’’N- 104o45’00’E] của động Cổ Lãng [thuộc Đường Châu][30], 3 ngày thì đến huyện Văn Dương của Đường Châu [Nakai, 17o33’41’N-105o08’49E][31]. Lại đi qua khe Ly Ly [?, 17o33’06’N – 105o09’03E]*[32], 4 ngày thì đến huyện Toán Đài [Thakhek][33] của nước Văn Đan, lại đi 3 ngày nữa đến ngoại thành Văn Đan [Kaeng Krabao], lại 1 ngày thì đến nội thành [Mukdahan- Savannakhet, vị trí: 16o31’52’N – 104o44’14’E][34], [nước ấy] có chỗ còn gọi là Lục Chân Lạp, phía nam là Thủy Chân Lạp[35]. Lại phía nam đến Tiểu Hải [Biển Hồ- Tonlesap], phía nam là nước La Việt, lại về nam nữa thì đến biển lớn”[36]. Từ Hoan Châu đến đô thành của Lục Chân Lạp là mất 17 ngày đường bộ[37].

Tượng Phật nhập niết bàn, núi Thạch Mật, vị trí: 17o58’36’N-105o01’32E. Nằm trên tuyến đường từ Hoan Châu đến Văn Đan. Ảnh: Sinica.
Tư liệu mới này cho thấy một châu mới trong bản đồ hành chính nhà Đường, chưa từng được biết đến. Đó là Đường Châu (棠州), nằm ở phía tây và tây nam của Hoan Châu và Phúc Lộc Châu. Như sử liệu thì Đường Châu có 2 huyện trực thuộc là huyện Nhật Lạc và huyện Văn Dương, số lượng bằng châu Phúc Lộc. Có lẽ nhà Đường coi đây là châu ki mi. Cung đường mà từ Hoan Châu (Cửa Hội) đi Lục Chân Lạp là phải xuyên qua núi Khai Màn (đồn Quy Hợp), tức qua huyện Nhu Viễn châu Phúc Lộc, nếu đi từ Đường Lâm lên (từ thành phố Hà Tĩnh nay) thì đường đi chênh nhau 10-15 km. Nếu tính đơn giản, thì ranh giới của châu Phúc Lộc (đi từ sông Lạc, huyện Đường Lâm/ thành phố Hà Tĩnh nay) qua Khai Màn (Hương Sơn) đến huyện Nhật Lạc của Đường Châu là mất khoảng 6 ngày đường. Sử liệu không nói là đi đến ranh giới Đường Châu hay là trung tâm huyện lị Nhật Lạc, ta có thể trừ đi một quãng thời gian/ không gian còn khoảng 4,5 ngày đến 6 ngày đường. Nếu tính mỗi ngày đi được 15 km hoặc 20km (đường núi) thì ranh giới dao động trong khoảng 67.5 km – 90km, và 90km- 120 km. Trong khi đường đo trên không ảnh hiện tại, thì khoảng cách hơn 130 km[38], còn chiếu thẳng từ thành phố Hà Tỉnh sang đến bờ sông Mekong là 105 km đường chim bay.

Bản đồ mạng lưới thương mại đế chế Khmer, K. Hall (1985, p. 188).
Chú thích: Bổ sung thêm cứ liệu từ 3 tuyến giao thương thượng hạ nguồn tại Phúc Lộc – Hoan Châu – Đường Châu nối liền với dòng Mekong theo trục Đông- Tây, chiều dài đường 2 tuyến từ Đường Lâm dài khoảng 100 km, và tuyến Thị Nại qua thượng nguồn sông Côn sang bên Khmer.

Tuyến Vinh – Kỳ Sơn sang đến bờ Mekong hay Luang Phrabang đều dài trên 300 km.
Nguồn ảnh: https://satellites.pro/Laos_map#18.450952,104.545898,8, hạ tải ngày 30/07/2021. So sánh với hai tuyến từ Hà Tĩnh sang Lào ở dưới.
Điểm nóng giữa các đế chế: sự trỗi dậy của vùng Hoan – Ái
Sự tồn tại của Đường Châu cho thấy cụ thể hơn biên giới cực nam của nhà Đường. Đây chắc chắn cũng đã là một điểm nóng, bởi chính chỗ này là giáp ranh giữa hai thế giới và hai mô hình nhà nước. Theo Đường thư, năm 706, Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp đã thành hình[39]. Năm 713, Mai Huyền Thành khởi nghĩa ở Hoan Châu, liên minh với Lâm Ấp, Chân Lạp đánh chiếm An Nam đô hộ phủ[40]. Năm 717 đã có một đoàn sứ bộ của Chân Lạp để giúp một thủ lĩnh bản xứ chống lại người nhà Đường[41]. Năm 722, quy mô có vẻ lớn hơn, lần này là một đội quân được gửi đến[42]. Toàn thư ghi tổng số lượng quân của họ Mai lên đến 300.000 người (sic)[43]. Sau đó quân nhà Đường là Dương Tư Húc đã đánh bại[44]. Năm 767, người Côn Lôn, Chà Và đến cướp châu thành, vào đến tận Chu Diên [đồng bằng sông Hồng], Kinh lược sứ Cao Chính Bình xin viện binh từ Cao Chính Bình châu Vũ Định mới đánh hạ được. Bắc sử nói chung thường gọi gộp người da đen nam đảo (gồm cả Chân Lạp, Java, etc) làm người Côn Lôn. Từ năm 767 đến năm 780 khi Giao Châu loạn lạc, Phùng Hưng và Phùng Hãi – người ở Đường Lâm đã chuẩn bị lực lượng riêng, bằng cách buôn bán và liên minh với nhóm người khác Hán. Năm 791, Phùng Hưng馮興đánh đô hộ phủ, Cao Chính Bình chết.[45] Năm 819 có khởi nghĩa của Dương Thanh- ông này gia tộc tù trưởng man- mấy đời làm Thứ sử Hoan Châu. Khi đó Thanh làm nha tướng cho Lý Tượng Cổ, Cổ sai Thanh đi đánh Man Hoàng Động. Quân Đường đánh Dương Thanh chạy vào Man Lạo, sau đó viện binh Man Lạo lại quay ra đánh phủ thành. Phần lớn những những bất ổn chính trị đều đến từ phía Hoan Châu với sự hậu thuẫn của Chân Lạp, Chiêm Thành[46]. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan là một liên minh ba nhóm quyền lực để chống lại sự bành trướng của nhà Đường. Cho đến Dương Thanh đánh úp Tượng cổ thì cả Man Hoàng Động lẫn Hoàn Vương đều dẫn quân vào. Sử chép các sự kiện rời rạc, nhưng có lẽ đằng sau đó là một truyền thống liên minh của phương nam chống lại sự càn lướt của người Hán. Những liên minh chính trị quân sự này vừa có thể hỗ trợ nhau về buôn bán, tài trợ kinh tế, nhưng cũng có khi sai quân lực đồn trú tham chiến. Và như nhiều cuộc chiến khác, Hoan Ái vẫn là vùng bàn đạp (có hậu phương) để các lực lượng bản địa tràn lấn khi người Hán yếu thế. Tình thế ấy đã trở thành hiện thực vào thế kỷ X, khi nhà Đường sụp đổ, các nhân vật Dương Đình Nghệ- Ngô Quyền- Đinh Công Trứ và Đinh Bộ Lĩnh đã tạo nên một thế kỷ bản lề cho tự chủ của mảnh đất phương nam.
Nhiều người đến đây có lẽ vẫn chưa tin lắm vào sự hình thành của tuyến đường xuyên từ biển Hoan Nghệ sang đất Lào cách nay hơn 1300 năm. Nhưng 6 tư liệu thời Đường Tống ghi chép về các sự kiện Đường Lâm liên tục vào các năm từ 663- 791 là những bằng chứng không thể ngó lơ. Thêm nữa, tư liệu bi ký tại Phum Mien năm 987, xác nhận trong thế kỷ X, người Việt đã có những nỗ lực duy trì con đường thượng đạo này[47]. Tôi ngờ rằng, khi đó, bản đồ của Đại Cồ Việt không thể tràn sang đến tận bờ Mekong, mà có lẽ đã hẹp hơn trước. Không ai có thể chứng minh những ranh giới luôn biến động trong lịch sử. Nhưng dù những cột mốc bị xô đổ khi đế chế tàn lụi, thì những dòng người vẫn tiếp nối những tuyến cổ đạo phục vụ cho buôn bán, và đôi khi cả chiến tranh, cướp bóc. Đầu năm 1128, khi vua Lý Nhân Tông vừa băng hà, 20.000 người Chân Lạp vào cướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An[48], tức bến Tam Soa (nơi hợp lưu của sông Ngàn Phố và Ngàn Sâu đổ vào sông La, sông La xuôi 7- 8km rồi hợp lưu vào sông Lam ngay ở Phù Thạch- cảng bến lớn nhất của Nghệ An trong lịch sử). Triều đình phải sai Nhập nội Thái phó Lý Công Bình đem quân đánh dẹp, một tháng sau mới chém được tướng giặc[49]. Tháng 8 năm 1128, người Chân Lạp vào cướp hương Đỗ Gia ở châu Nghệ An, có đến hơn 700 chiếc thuyền. Năm 1137, Phá Tô Lặc người Chân Lạp lại cướp châu [ở vùng Hà Trại][50], Lý Công Bình lại đi đánh dẹp.[51] Năm 1335, Thượng hoàng Trần Minh Tông đem sáu quân tuần thú Ai Lao, thế tử các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, nước Xiêm La cùng các thổ tù Đạo Khuông, Quỳ Cầm, Xa Lặc, các man tù ở Bôi Bồn là Đạo Thanh, Xa Man cùng đến hành tại yết kiến. Chỉ có Vông Chấp Tóc sợ tội nên trốn[52]. Năm 1479, vua Lê Thánh Tông trong bài chiếu đánh Ai Lao có ghi: “Thuận Bình, Sa Bôi do vậy rối ren; Lâm An, Quy Hợp bị chúng giày xéo.” Quy Hợp là đồn ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), lối đông tây thứ hai đã nêu ở trên. Như vậy, ít nhất từ thế kỷ XV về trước, các con đường cổ từ biển vào đến đất Lào vẫn thường được sử dụng. Bình thường, có thể đó là con đường được sử dụng cho hoạt động buôn bán (muối, thực phẩm, hương liệu,…), khi cần có thể phục vụ việc ngoại giao: Ai Lao thường vào chầu cống Đại Việt qua ải Quy Hợp[53]. Đặc biệt, các con đường đông tây này có vị trí địa quân sự, có vai trò rất lớn trong việc phòng thủ hoặc tấn công. Điều này làm ta hiểu rõ hơn về vai trò của Đường Lâm- Phúc Lộc trong lịch sử Giao Châu thời nhà Đường. Và những nhân vật lịch sử Phùng Hưng, Dương Thanh, cho đến Ngô Quyền, Đinh Công Trứ, Đinh Bộ Lĩnh,… cũng từ đất này mà làm nên lịch sử.



Đường Lâm châu và Đường Châu trong lộ trình 17 ngày đi từ Hoan Châu đến kinh đô Văn Đan quốc (Chân Lạp). Tái lập: Trần Trọng Dương, 2021. Bản đồ: AS.
Tiểu kết
Như vậy, đến đây, tôi đã hoàn thiện thêm công việc của hơn 10 năm trước: đi tìm Đường Lâm là Đường Lâm nào. Khi dò dẫm trong khu rừng sử liệu, rối trí vì hàng trăm ngàn chi tiết, và đôi khi bị lạc đường, hoặc đúng hướng nhưng đi chưa tới hết cung đường. Chúng tôi từng cho rằng Đường Lâm ở nam Thanh Hóa bắc Nghệ An. Nhưng với cách giải đọc sử liệu mới này, tôi củng cố thêm quan điểm ấy, rằng: Đường Lâm (“đất hai vua” vào thời Đường) không phải ở Phúc Thọ (Sơn Tây, Hà Nội nay). Có thể xác định chính xác hơn, huyện Đường Lâm của châu Phúc Lộc thời Đường có thể nằm ở tỉnh Hà Tĩnh (tương ứng với huyện Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh, huyện Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh ngày nay), đúng như GS Đào Duy Anh nhận định. Và huyện Nhu Viễn của châu Phúc Lộc (châu Đường Lâm), tương ứng với các huyện miền núi phía tây bắc tỉnh Hà Tĩnh gồm: Hương Khê- Vũ Quang- Hương Sơn và một phần phía tây của Lào. Bài này quan trọng hơn, đã tái lập một tuyến đường đông tây từ biển Đông đến Mekong, băng qua những rặng núi, để hòa nhập vào mạng lưới tra đổi khu vực. Nó bổ sung một mảng sử quan trọng cho lịch sử chính trị cũng như lịch sử kinh tế- văn hóa Đông Nam Á lục địa mà Kenneth Hall, Nguyễn Văn Kim, Trần Kỳ Phương[54], đã từng vạch ra.
Cuối cùng, với vị trí địa quân sự- địa kinh tế- địa văn hóa, vùng Đường Lâm (Phúc Lộc châu), rộng hơn là Hoan Châu- Ái Châu, đã trở thành điểm nóng của khu vực, là nơi va đập quyền lực giữa các đế chế (Đường- Chân Lạp- Hoàn Vương- Nam Chiếu), là nơi chà đi xát lại của các tập đoàn người (Hoa Hán từ bắc, Champa từ phía nam, Tày Thái từ phía tây và tây bắc, Khmer từ phía tây nam,…). Từ vị trí “thập diện mai phục”, người Hoan Ái đã có một cuộc trỗi dậy liên tục trong nhiều thế kỷ. Vừa buôn bán với kẻ thù, vừa chiến đấu với đồng minh, vừa tự cường bằng năng lực vốn có, vừa mượn thế và lực của văn minh nhà Đường, vừa đà đao theo sự trỗi dậy của Hoàn Vương – Chân Lạp, những thủ lĩnh hào trưởng Hoan Ái (họ Phùng- họ Dương- họ Ngô- họ Lê- họ Đinh… ) đã tạo nên những xung lực mạnh mẽ để thoát khỏi sự kìm kẹp của các đế chế, và tạo nên sự độc lập của mảnh đất phương Nam. Từ những chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền cho đến công cuộc phạt Bắc bình Chiêm của Lê Hoàn, một bang quốc đã dần hình thành với mô hình nhà nước Nho giáo thực thụ mang tên Đại Cồ Việt, để sau đó Đại Việt nhà Lý nhà Trần trỗi dậy trở thành một cường quốc của khu vực, làm nền tảng cho giai đoạn ngàn năm độc lập tự chủ.
T.T.D.
Mùa Covid, hè 2021
Thượng nguồn Nhuệ Giang, Từ Liêm cố huyện.
Chú thích
[1] Văn Tân, Vài sai lầm về tài liệu của bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Nghiên cứu Lịch sử, số 93, 12/1966.
[2] Henri Maspéro, “Le Protectorat d’Annam sous les Tang. Essai de géographie historique”, BEFEO, 1910, p.550; Henri Maspéro, “La Frontière de l’Annam et du Cambodge du VIIIe au XIVe siècle”, BEFEO 18, 3 (1918), p.447
[3] Schafer, Edward H., 1967, The Vermilion Bird- T’ang Images of the South, University of California Press, Berkeley and Los Angeles. p.19.
[4] Trần Trọng Dương, Nguyễn Tô Lan, Đường Lâm Sơn Tây: một chặng huyền sử thế kỷ XX. TC Xưa và Nay, số 391, tháng 11/2011. và Trần Ngọc Vương, Trần Trọng Dương, Nguyễn Tô Lan, Đường Lâm là Đường Lâm nào? Tạp chí Xưa và Nay, số 400 (3/ 2012) và số 401, tháng 4/ 2012.
[5] Đại Việt sử ký toàn thư, Nội Các quan bản, khắc in 1697, bản dịch, Nxb KHXH. Hà Nội, 1998. trang 191.
[6] Đại Nam nhất thống chí 2012, sđd, trang 1427-1428.
[7] Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Khoa học, Hà Nội, 1964, trang 79. 陶維英,<越南历代疆域-越南历史地理研究>,钟民岩譯,岳胜校,商务印书館,北京,1973, trang. 132-133.
[8] Văn Tân, “Vài sai lầm về tài liệu của bộ Đại Việt sử ký toàn thư”, Nghiên cứu Lịch sử, số 93, 12/1966, trang 31-32.
[9] Vũ Văn Tỉnh, “Ngô Quyền là người Hà Tĩnh hay người Sơn Tây?” Nghiên cứu Lịch sử, số 97, 4/1967, trang 63.
[10] Trần Trọng Dương (2019, trang 55-59) giám định văn bản học, cho bia này là bia thời Nguyễn. Việc giám định văn bản này là kế thừa từ luận điểm của [Vũ Duy Mền, “Tấm bia Quang Thái (1390) đời Trần tại đình Phùng Hưng, làng Cam Lâm, xã Đường Lâm”, Thông báo Hán Nôm năm 2004, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005, tr.339 – 342.] Ý kiến này sau đó được Phạm Lê Huy phản biện, ông cho rằng huyện Phúc Lộc đã có từ thời Lê sơ và văn bia có thể được khắc từ 1466- 1473. Như vậy, bia được khắc lại chứ không phải bia ngụy tạo. [xem Phạm Lê Huy, “Hệ thống tư liệu về khởi nghĩa Phùng Hưng”, Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2016.]
[11] Geng Hui Ling耿慧玲 , 2004,《越南史論——金石資料之歷史文化比較》台北:新文豐出版公司, trang 202.
[12] Âu Dương Tu 歐陽修 và Tống Kì 宋祁, 1060, Tân Đường thư <新唐書>, 底本:北宋嘉祐十四行本, 楊家駱主編, 台北:鼎文, 1979.
[13] Ở đây có điểm tế nhị, các bộ như Đường thư được biên soạn bởi các triều đại ngay sau đó như nhà Tống. Các sử gia đã dựa trên các nguồn tư liệu đáng án, thư tịch, kiến văn đương thời để soạn các bộ sử này với mục đích bao biếm, nêu gương. Duy chỉ có bộ Thông điển là được soạn ngay trong thời nhà Đường. Nhưng thực ra, như Anderson có viết, việc kẻ chiến thắng thường kế thừa lại toàn bộ hệ thống hành chính, hệ thống địa lý và cả lớp công chức của bên thất bại.
[14] Chúng tôi đã chú nguồn cho từng nguồn sử liệu, gõ máy và ảnh ấn trang nguyên gốc trong bản công bố năm 2011, và tái bản 2019, nên không dẫn lại ở đây. Xin tham khảo [Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan, Trần Trọng Dương. 2011, “Đường Lâm là Đường Lâm nào (Tìm về quê hương Đại Sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu)”. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Huế. 02-2011.Tr.115-137.; Trần Trọng Dương, 2019, Việt Nam thế kỷ X – Những mảnh vỡ lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, trang 72 đến 82, và ảnh ấn nguyên văn sử liệu từ trang 367 đến 378]. Trên Xưa và Nay không có ảnh nguyên bản in kèm.
[15] Âu Dương Tu 歐陽修,Tống Kì 宋祁, 1060, Tân Đường thư <新唐書>,Quyển 43 thượng, trang 23.
[16] Về phương hướng, các tài liệu địa chí thời Đường miêu tả theo bản đồ nằm ngang so với ngày nay, ví dụ có thể lấy Đại Nam nhất thống toàn đồ triều Nguyễn để hình dung. Cách vẽ bản đồ là lấy biển Đông ở phía dưới, gọi đó là hướng nam, ngược với hướng nam là bắc (dãy Trường Sơn hoặc Hoàng Liên Sơn là hướng bắc, sông Hồng từ phía bắc chảy xuống). Từ Giao Châu đi về Hoan- Ái và Chiêm Thành thì là đi về hướng Tây, nên Lê Thánh Tông mới có cuốn Chinh Tây kỷ hành (là ghi chép về trận đánh Chiêm Thành năm 1470-1471) ông còn gọi biển Chiêm Thành là Tây Hải (biển tây), từ Giao Châu đi sang Trung Quốc thì là hướng đông. Cho nên ở đây, văn tả từ Hoan Châu đi về hướng tây 2 ngày thì đến huyện Nhu Viễn của châu Phúc Lộc, nghĩa là đi về hướng nam theo phương vị ngày nay. Văn liệu: “Giao Châu Đô Hộ chế ngự các man. Biển của Giao Châu nằm ở phía nam của đất nước, đại để Giao Châu từ phía nam cho đến tây nam, [các vùng đất] đều nằm các bãi cù lao trên biển lớn.” (交州 都護制諸蠻。其海南諸國,大抵在交州 南及西南,居大海中洲上) [Lưu Hú劉 昫, 945, Cựu Đường thư <舊唐書>, 底本:清懼盈齋刻本,楊家駱主編, 台北:鼎文,1979, trang 1749]
[17] Yan Gengwang嚴耕望,《唐代交通圖考》,台北:中央研究院歷史語言研究所,1985, 上海: 上海古籍出版社, repr.2007. Vol.4, p.1303- 1333. 嚴耕望,〈唐代盛時與西南鄰國之疆界〉,收入《嚴耕望史學論文集》,中卷,上海:上海古籍出版社,2009, p.957-975。
[18] Nhạc Sử樂史, 983, Thái Bình hoàn vũ ký <太平寰宇記> , Bản nền: Tứ Khố toàn thư, Văn Uyên Các, q.171, trang 6b.
[19] Đào Duy Anh, 2017, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, trang 171.
[20] Con số 7000 bộ lạc là rất lớn, e là có nhầm lẫn. Giả thuyết 1: có bản ghi là 7000 hộ. Kể cả khi 7000 hộ cũng là con số khá lớn, so sánh cùng thời thì Phong Châu: 5.444 hộ, 6.435 khẩu. Giả thuyết 2: “thất thiên” có thể nhầm từ “thất thập” (70 bộ lạc/ hoặc thôn xóm của toàn bộ vùng bắc Chân Lạp (trung lưu Lào). Dẫu sao cả 2 số này đều hơi lớn. Nếu 70 lạc nghĩa là 70 thôn lạc/ thôn xóm, thì có lẽ phù hợp hơn chăng? Giả thuyết cuối: con số 7000 bộ lạc là tính tất cả dân số của cả Đường Lâm- Lộc Châu và phần bên đất Lào.
[21] Quốc sử quán triều Nguyễn, 1882, Đại Nam nhất thống chí, 2012, sđd, trang 709.
[22] Đại Nam nhất thống chí, 2012, sđd, trang 710.
[23] Đại Nam nhất thống chí, 2012, sđd, trang 733.
[24] Nguyên văn: “Vietnamese traders such as the Yvan of KaṃvaṅTadiṅ mentioned in a PhumMīen inscription (987) likely used a Mekong River route to enter Cambodia, coming from Nghê-an through the Ha-trai pass and down the Mekong.” [Kenneth R. Hall: Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, University of Hawaii Press, Honolulu, 1985, p.188; Nguyễn Văn Kim. 2013. Các thương cảng vùng Nghệ – Tĩnh và giao thương khu vực thế kỉ XI-XIV, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12 (440), 2012, tr.1-18 & số 1 (441), 2013, tr.16-25.]
[25] Christopher Goscha, Vietnam, a New History, New York, Basic Books, 2016, p.111-112.
[26] “其入四夷之路與關戍走集最要者七:一曰營州入安東道,二曰登州海行入高麗渤海道,三曰夏州塞外通大同雲中道,四曰中受降城入回鶻道,五曰安西入西域道,六曰安南通天竺道,七曰廣州通海夷道。” [Âu Dương Tu 歐陽修 và Tống Kì 宋祁, 1060, Tân Đường thư <新唐書>, 底本:北宋嘉祐十四行本, 楊家駱主編, 台北:鼎文, 1979, trang 1146].
[27] Đỉnh Vụ Ôn: Yan (2009, tr.970) quy đổi núi núi mang tên của Lào: Keo Neua, E105o10’-N18o23’.
[28] Huyện Nhật Lạc [Ban Lakxao]: Yan (2009, tr.970) không quy đổi được địa danh này. Về cơ bản, Yan cho rằng thủ đô của Văn Đan là Viên Chăn. Nhưng Viên Chăn thành lập muộn hơn rất nhiều so với thời điểm thế kỷ VII-VIII.
[29] Sông La Luân: Yan (2009, tr.970) quy đổi là sông Nam Cading. Tôi cắm trên bản đồ là vị trí 18o13’53’’N 104o39’39’’E. Tức là ông theo đường đi hơi chếch tây bắc. Ban đầu tôi cũng hơi lạc theo hướng này (vì nó là hướng ra sông Mekong gần nhất). Hướng tây bắc này sang thủ đô Vientiane là gần. Có thể giai đoạn từ thế kỷ XV về sau được dùng làm đường triều cống của Ai Lao.Nhưng đây không phải là hướng chếch tây nam như sử liệu ghi để đi về Chân Lạp.
[30] Núi Thạch Mật của động Cổ Lãng: Yan (2009, tr.970) không quy đổi hai địa danh này. Núi Thạch Mật chưa rõ tên, nhưng xác định trên bản đồ thì đây là một dãy núi chạy song song với dãy Giăng Màn và biên giới Việt Lào, hai rặng núi này kẹp giữa là một đồng bằng rộng có sông Cổ Luân. Vùng đồng bằng này có lẽ là động Cổ Lãng tương ứng với trung tâm của tỉnh Bolikhamxai của Lào.
[31] Huyện Văn Dương của Đường Châu: Yan (2009, tr.970) không quy đổi địa danh này.
[32] Khe Ly Ly: Yan (2009, tr.970) không quy đổi địa danh này.
[33] Huyện Toán Đài của nước Văn Đan: Yan (2009, tr.970) không quy đổi địa danh này. Thực ra đến Muang Khamouan mới là đến sông Mekong. Yan
[34] Kinh thành Văn Đan: được quy đổi thành Mukdahan bờ phải của Mekong thuộc Thái Lan và bờ trái là Savannakhet của Lào. Mukdahan (sử triều Nguyễn phiến là Mục Đa Hán) là một thành phố cổ, có di chỉ khảo cổ học, đây có lẽ là một điểm gút quan trọng của lịch sử, khi nó chiếm diện tích cả hai bên bờ sông, để kiểm soát dòng người và hàng hóa ở cả 2 tuyến đò dọc và đò ngang. Hiện cây cầu Hữu Nghị Thái – Lào đã nối đôi bờ, và đồng thời giữ chức năng cửa khẩu giao thông quan trọng giữa hai nước. Đây cũng là con đường ngắn nhất từ Quảng Trị đi Thái Lan. Cảm ơn chú Nguyễn Bá Dũng về đề xuất về Mukdahan – thành phố đôi bờ”, và Vũ Đức Liêm đã giúp đỡ tư liệu. Về lịch sử văn hóa của Mundahan xem [Wichian Intasi, 2013, “Mukdahan – Suvannakhet Sister Cities: the Studies of Cultural Factors that Affect the Appropriateness of the Sister City relationship-building Policy between Border Towns in the Mekong sub-Region”, The International Journal of East Asian Studies, Vol.17, No.2, p.50-66]
[35] Tính trung bình mỗi ngày đi được 30km, đi mất 17 ngày, tổng lộ trình là trên 500 km. Lưu ý, nói kinh đô của nước Văn Đan hay Thủy Chân Lạp (sic?) có thể chỉ là một tiểu quốc trong đế chế Khmer theo mô hình mandala. Nếu Đường thư chép đúng thì kinh đô của Văn Đan nằm ở trên địa bàn của Savanakhet (có chiều dài từ 86-150 km tính từ Thakhek).
[36] Nguyên văn: (自驩州西南三日行,度霧溫嶺,又二日行至棠州日落縣,又經羅倫江及古朗洞之石蜜山,三日行至棠州文陽縣。又經漦漦澗,四日行至文單國之算臺縣,又三日行至文單外城,又一日行至內城,一曰陸真臘,其南水真臘。又南至小海,其南羅越國,又南至大海。) [Âu Dương Tu 歐陽修 và Tống Kì 宋祁, 1060, Tân Đường thư <新唐書>, 底本:北宋嘉祐十四行本, 楊家駱主編, 台北:鼎文, 1979, trang 1153-1154.]
[37] Cựu Đường thư ghi là 16 ngày. “真臘國,在林邑西北,本扶南之屬國,「崑崙」之類。在京師南二萬七百里,北至愛州六十日行” [Lưu Hú劉 昫, 945, Cựu Đường thư <舊唐書>, 底本:清懼盈齋刻本,楊家駱主編, 台北:鼎文,1979, trang 5271]
[38] Đo tương đối trên bản đồ được hơn 120 km, đường núi ngoằn ngoèo lên xuống có thể tính xa lên thành 130 hoặc hơn nữa. Nhưng khoảng cách thì không sai dịch là bao nhiêu.
[39] Nguyên văn: “自神龍以後,真臘分為二:半以南近海多陂澤處,謂之水真臘;半以北多山阜,謂之陸真臘 ,亦謂之文單國。” [Lưu Hú劉 昫, 945, Cựu Đường thư <舊唐書>, 底本:清懼盈齋刻本,楊家駱主編, 台北:鼎文,1979]. Nhưng theo quan điểm của L. Kelley, việc phân chia này là từ góc nhìn của người Đường về phương nam, chứ Chân Lạp vẫn nhất thể và tồn tại song song với Tam Phật Tề với kinh đô Angkor.
[40] Vấn đề này có nhiều tư liệu ghi khác nhau, đặc biệt là còn đang tranh cãi về thời gian. Tôi nghiêng về giả thuyết của Phan Huy Lê cho rằng thời gian của khởi nghĩa Mai Thúc Loan từ năm 713 đến năm 722 thì thất bại. Bắc sử thì đẩy gọn thành 1 sự kiện trong năm 713, trong khi Toàn thư lại ghi gọn vào 1 năm 722. “開元初,安南首領梅玄成叛,自稱「黑帝」,與林邑、真臘國通謀,陷安南府,詔思勗將兵討之。” [Lưu Hú劉 昫, 945, Cựu Đường thư <舊唐書>, 底本:清懼盈齋刻本,楊家駱主編, 台北:鼎文,1979, trang 4756]. Xem bài, Phạm Lê Huy, 2013, “Một số vấn đề về phương pháp luận sử học và vấn đề thời điểm bùng nổ của khởi nghĩa Mai Thúc Loan”, Nghiên cứu Lịch sử, số 4/2013.]
[41] P. Pelliot, (Année 1904). “Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du VIIIe siècle”. BEFEO, Vol.4, pp. 131-413, trang 212.
[42] Henri Maspéro, “La Frontière de l’Annam et du Cambodge du VIIIe au XIVe siècle”, BEFEO 18, 3 (1918), p.29.
[43] Đây là con số thổi phồng của Đường thư, có lẽ để ghi chiến công của người đã dẹp loạn. Kể cả 30.000 cũng là một con số cực lớn vào thời đó, khi Giao Châu (đồng bằng sông Hồng) có dân số chỉ khoảng 70.000 dân.
[44] Nguyên văn: “壬戌唐玄宗隆基開元十年賊帥梅叔鸞㨿州稱黑帝外結林邑真臘人等眾號三十萬唐帝遣内侍左監門衛將軍楊思朂都護元楚客討平之” [Toàn thư 1998, trang 190]. Đọc thêm hệ thống sử liệu về Mai Thúc Loan: Phan Huy Lê, Di sản văn hóa Việt Nam góc nhìn lịch sử, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, trang 760- 801.
[45] Geng Hui Ling耿慧玲 ,《越南史論——金石資料之歷史文化比較》台北:新文豐出版公司,2004年,649頁
[46] Toàn thư 1998, trang 192. Về khởi nghĩa Dương Thanh đọc thêm [Phạm Lê Huy, Khảo cứu khởi nghĩa Dương Thanh (819-820) qua nguồn tư liệu mộ chí thời Đường, Đề tài cấp cơ sở, USSH, Hà Nội, 2014].
[47] Henri Maspéro, “La Frontière de l’Annam et du Cambodge du VIIIe au XIVe siècle”, BEFEO 18, 3 (1918), p.447; Coedès, George, Inscription du Cambodge 6 (Hanoi-Paris, 1942–66), pp. 183–86. Kenneth R. Hall: Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, University of Hawaii Press, Honolulu, 1985, p.188.
[48] Maspéro (1918, 33) cho rằng Ba Đầu bộ là Phố giang trên địa bàn của huyện Hương Sơn.
[49] Nguyên văn: “甲寅真臘二萬餘人入㓂乂安州波頭步詔入内太傅李公平将官職都及乂安州人討之. 二月,… 癸亥李公平敗真臘人于波頭步擒其主將及士卒” [Toàn thư 1998, sđd, trang 299]. Toàn thư ghi: “波頭步” (ba đầu bộ) là sai về ngữ văn, phải là “Ba Đầu bộ đầu”, vì “bộ đầu” là “bến”, tức là bến Ngã Ba. Bến đó nay gọi là bến Tam Soa. Từ bến Tam Soa xuôi xuống phố chợ lớn nhất của Nghệ là Phù Thạch chỉ có 5-6 km, từ Phù Thạch xuôi về Vinh chỉ 6 km nữa. Chắc Chân Lạp đánh cướp dọc cả dọc cửa biển và thành trì, nhưng sử chỉ ghi 1 chỗ.
[50] Maspéro (1918) cho rằng Chân Lạp theo đường đèo Mụ Giạ vào Hà Trại. Mụ Giạ là đèo ở huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình.
[51] Nguyên văn: “丁巳五年[宋紹興一年]春正月乂安州驛奏真臘将破蘇棱㓂本州詔太尉李公平将兵擊之… 公平敗真臘人” [Toàn thư 1998, sđd, trang 309]
[52] Nguyễn Trung Ngạn, 1335, Ma nhai kỷ công văn, bia trên sườn núi Thành Nam, thôn Trầm Hương, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Thác bản: 13494 tại Viện NC Hán Nôm [Thích Đức Thiện- Đinh Khắc Thuân, Văn bia thời Trần, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr.123]. Toàn thư thì lại ghi trái ngược: “năm 1335, Đoàn Nhữ Hài đem quân nhà Trần đi đánh Ai Lao vì họ xâm lấn đất Nam Nhung là thuộc ấp của Nghệ An. Trận chiến diễn ra ở sông lớn Tiết La, định bụng thắng xong xuôi dòng đi qua Chân Lạp giễu võ dương oai. Nhưng kết cục đại bại, Hài chết cùng nửa số quân. [Toàn thư 1998 T2, trang 123]. Nay theo văn bia là tài liệu nguyên cấp. Ngờ rằng đoạn về Nhữ Hài là do sử gia đời sau chép nhầm từ một niên điểm trước hoặc sau sự kiện này.
[53] Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1993, tr.65.
[54] Xem thêm mạng lưới giao lưu kinh tế, và văn hóa bằng đường bộ trong vùng Đông Nam Á lục địa của Trần Kỳ Phương, “Thung lũng An Khê: một “không gian thiêng” của Vương quốc Chiêm Thành vào thế kỷ XV”, Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (153), 2019, trang 74-85.
Chia sẻ:
- X
- Thêm
Có liên quan
Từ khóa » đường Lâm ái Châu
-
Đường Lâm Là Đường Lâm Nào? - Tạp Chí Xưa Và Nay
-
Đường Lâm – Wikipedia Tiếng Việt
-
Đường Lâm Là Đường Lâm Nào? - Tran Trong Duong
-
Đường Lâm ở Hà Tĩnh Và Giao Lộ Đông Tây Từ Biển Đông đến ...
-
Đường Lâm Có Thực Sự Là "đất 2 Vua" Lừng Danh Trong Sử Việt?
-
Quê Của Phùng Hưng Và Ngô Quyền Thực Sự ở đâu? - Khoa Ngữ Văn
-
TÌM VỀ QUÊ HƯƠNG NGÔ CHÂN LƯU (kỳ 2) - Đông Tác
-
Làng Cổ Đường Lâm - Nhịp Sống Hà Nội - Hànộimới
-
Đường Lâm Là Đường Lâm Nào? - Văn Hóa Nghệ An
-
Làng Cổ Đường Lâm - Vùng đất Hai Vua - Quê Hương Của Bố Cái Đại ...
-
Phương Bắc Bó Tay Trước âm Mưu Trấn Yểm Đường Lâm
-
Bàn Về Quê Hương Của Ngô Quyền | Nghiên Cứu Lịch Sử
-
Dương Đình Nghệ đánh Tan Quân Nam Hán ở đâu:Tống Bình(Hà ...