Mục lục • Tác giả kể chuyện xoay quanh việc viết tác phẩm "Đường xưa mây trắng" • Chương 1. Đi để mà đi • Chương 2. Nghệ thuật chăn trâu. • Chương 3. Mớ cỏ Kusa. • Chương 4. Chim thiên nga trúng tên. • Chương 5. Bát sữa cứu mạng. • Chương 6. Bóng mát cây hồng táo. • Chương 7. Giải thưởng voi trắng • Chương 8. Chuỗi ngọc • Chương 9. Con đường tâm linh và con đường xã hội • Chương 10. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài • Chương 11. TIẾNG SÁO CANH KHUYA • Chương 12. CON NGỰA KANTHAKA • Chương 13 ĐẠO TRÀNG ĐẦU TIÊN • Chương 14 VƯỢT SÔNG HẰNG • Chương 15 KHỔ HẠNH LÂM • Chương 16 THÌ RA LỆNH BÀ GIẢ NGỦ • Chương 17 CHIẾC LÁ PIPPALA • Chương 18 SAO MAI ĐÃ MỌC • Chương 19 TRÁI QUÍT CỦA CHÁNH NIỆM • Chương 20 NAI NGỌC • Chương 21 HỒ SEN • Chương 22 CHUYỂN PHÁP LUÂN KINH • Chương 23 NHỮNG GIỌT NƯỚC CAM LỘ • Chương 24 HÃY ĐI NHƯ NHỮNG CON NGƯỜI TỰ DO • Chương 25 ĐỈNH CAO CỦA NGHỆ THUẬT • Chương 26 NƯỚC CŨNG ĐI LÊN NHƯ LỬA • Chương 27 VẠN PHÁP ĐANG BỐC CHÁY • Chương 28 RỪNG KÈ • Chương 29 MUÔN VẬT TỪ DUYÊN MÀ SINH LẠI TỪ DUYÊN MÀ DIỆT • Chương 30 VENUVANA • Chương 31 SANG XUÂN TA SẼ TRỞ VỀ • Chương 32 NGÓN TAY CHỈ MẶT TRĂNG • Chương 33 CÁI ĐẸP KHÔNG TÀN HOẠI • Chương 34 MÙA XUÂN ĐOÀN TỤ • Chương 35 RA NHÌN TIA NẮNG SỚM • Chương 36 BÔNG SEN DUYÊN KIẾP • Chương 37 MỘT NIỀM TIN MỚI • Chương 38 ÔI! HẠNH PHÚC! • Chương 39 BA LẦN THỨC DẬY TRỜI VẪN CHƯA SÁNG • Chương 40 BAO NHIÊU TẤC ĐẤT BẤY NHIÊU TẤC VÀNG • Chương 41 AI CÓ THẤY MẸ TÔI Ở ĐÂU KHÔNG? • Chương 42 KHÔNG HIỂU BIẾT THÌ KHÔNG THỂ THƯƠNG YÊU • Chương 43 MÁU AI CŨNG ĐỎ, NƯỚC MẮT AI CŨNG MẶN • Chương 44 TỨ ĐẠI TAN RÃ RỒI TỨ ĐẠI LẠI KẾT HỢP • Chương 45 CÁNH CỬA PHƯƠNG TIỆN • Chương 46 NẮM LÁ SIMSAPA • Chương 47 CỨ THEO CHÁNH PHÁP MÀ HÀNH TRÌ • Chương 48 RƠM PHỦ LÊN BÙN • Chương 49 CON HÃY HỌC HẠNH CỦA ĐẤT • Chương 50 MỘT VÓC CÁM RANG • Chương 51 KHO TÀNG CỦA CÁI THẤY • Chương 52 PHƯỚC ĐIỀN Y • Chương 53 AN TRÚ TRONG HIỆN TẠI • Chương 54 THẢN NHIÊN TRƯỚC CUỘC THỊNH SUY • Chương 55 ÁNH MAI VỪA TỎ RẠNG • Chương 56 TRÙNG SINH ÂN NẶNG • Chương 57 CHIẾC BÈ ĐƯA NGƯỜI • Chương 58 CON GÁI ĐẮT GIÁ HƠN CON TRAI • Chương 59 NHẢY CAO MẤY CŨNG RƠI LẠI VÀO TRONG LƯỚI • Chương 60 NGÀY NÀO ĐẦU TÓC CŨNG ƯỚT • Chương 61 TIẾNG GẦM CỦA SƯ TỬ LỚN • Chương 62 ĐỪNG VỘI TIN CŨNG ĐỪNG VỘI BÀI BÁC • Chương 63 ĐƯỜNG VỀ BIỂN CẢ • Chương 64 VÒNG SINH TỬ KHÔNG CÓ BẮT ĐẦU • Chương 65 KHÔNG ‘CÓ’ CŨNG KHÔNG ‘KHÔNG’ • Chương 66 BỐN NÚI BAO QUANH • Chương 67 NƯỚC BIỂN CHỈ CÓ VỊ MẶN • Chương 68 BA CÁNH CỬA NHIỆM MẦU • Chương 69 CHIM CỤT VÀ CHIM ƯNG • Chương 70 BỤT TỪ ĐÂU TỚI VÀ SẼ ĐI VỀ ĐÂU? • Chương 71 NGHỆ THUẬT LÊN DÂY ĐÀN • Chương 72 CHỐNG ĐỐI IM LẶNG • Chương 73 NHỮNG VẮT CƠM DẤU TRONG MÁI TÓC • Chương 74 TIẾNG RÚ CỦA CON VOI CHÚA • Chương 75 NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT SUNG SƯỚNG CỦA SUDATTA • Chương 76 HOA TRÁI CỦA NGÀY HÔM NAY • Chương 77 SINH TỬ LÀ HOA ĐỐM GIỮA HƯ KHÔNG • Chương 78 HAI NGÀN CHIẾC ÁO VÀNG TRÊN NÚI THỨU • hương 79 NẤM CHIÊN ĐÀN • Chương 80 HÃY TINH TIẾN LÊN ĐỂ ĐẠT GIẢI THOÁT! • Chương 81 ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG Chương 67 NƯỚC BIỂN CHỈ CÓ VỊ MẶN Mùa an cư nămấy hoàn mãn, nhiều vị đại đức lên từ giã Bụt để đi hoàng hóa ở các địaphương. Đại đức Punna, vốn là một trong những vị giảng sư nổi tiếng củagiáo đoàn khất sĩ, trình với Bụt là đại đức có ý về quê để hành đạo. Sinhquán của đại đức là đảo Sunaparanta, ở ngoài khơi biển Đông, Bụt hỏi: - Tôi nghenói vùng đó là một vùng chưa được khai hóa, những giống dân cư trú tại đótính tình hung dữ và các vụ bạo động thưòng xảy ra luôn, không biết làthầy về đó hành đạo có tiện hay không. Đại đức Punnabạch: - Lạy Bụt,chính vì họ chưa được khai hóa cho nên chúng ta phải tới để giúp họ. Chínhvì họ hung dữ và bạo động nên chúng ta phải đem đạo từ bi và phép hành xửbất bạo động đến. Con nghĩ là con có thể thành công ở đó được. - Punna, nếuthầy đang thuyết pháp mà họ cứ tới la ó và chửi mắng vào mặt thầy thì thầytính sao? - Lạy Bụt,con nghĩ la ó và chửi mắng cũng chưa lấy gì làm dữ lắm. Họ cũng còn chưaliệng đá và đồ dơ vào con. - Nhưng nếuhọ liệng đá và đồ dơ vào thầy? - Lạy Bụt,liệng đá và dồ dơ cũng chưa lấy gì làm dữ lắm. Họ cũng còn chưa lấy gậyđánh vào con. - Nhưng nếuhọ lỡ họ lấy gậy đánh vào thầy? Đại đức Punnacười: - Lạy Bụt,như vậy họ cũng còn hiền lắm. Họ vẫn chưa giết con. - Nhưng họ lỡhọ giết thầy? - Điều nàykhông xảy ra đâu, bạch đức Thế Tôn, mà dù nó có xảy ra đi nữa thì chết vìđạo lý từ bi và bất bạo động vẫn là một cái chết có ý nghĩa, có thể giáodục người ta được. Lạy Bụt, người ta sống trên đời ai cũng phải có một lầnchết, nếu cần chết vì lý tưởng từ bi và bất động, con sẽ không từ nan. Bụt khen: - Hay lắmPunna! Thầy có dư sức đi hành hóa tại xứ Sunaparanta. Tôi hỏi để các thầykhác cũng được nghe mà thôi, chứ riêng tôi, tôi không ngi ngờ gì về khảnăng và lập trường bất bạo động của thầy hết. Đại đức Punnangày xưa vốn là thương gia. Hồi ấy Punna thương cùng với người em rễ đibuôn, bỏ hàng từ Savatthi đem về Sunaparanta và chở những sản phẩm địaphương tại quê nhà đem bán ở lục địa. Họ dùng ghe thuyền và xe bò đểchuyên chở hàng hóa. Một hôm chở hàng tới Savatthi, Punna được trông thấymột đoàn khất sĩ đang trang nghiêm đi khất thực. Do đó Punna đã tìm tớiđược tu viện Jeatvana và đã được nghe Bụt thuyết pháp. Nghe xong bàithuyết pháp, Punna không muốn đi muốn nữa. Ông muốn theo Bụt để làm khấtsĩ. Ông giao hết tất cả hàng hóa tiền bạc cho người em rễ và tới chùa xinBụt cho phép xuất gia. Đại đức Punna rất thông minh, đại đức tu học rấttinh tiến và đã trở nên một vị giảng sư xuất sắc. Đại đức đã từng đi hànhhóa nhiều nơi trong các vương quốc Kosala và Magadha. Ai cũng nghĩ rằngkinh nghiệm và đạo hạnh của đại đức đủ bảo đảm cho sự thành công của đạiđức tại quê nhà. Mùa Xuân nămsau, trong chuyến đi về miền Đông, Bụt đã ghé thăm Vesali, Campa, và theodòng sông đi ra tới miền biển để giáo hóa. Bụt và các vị khất sĩ đã cónhững dịp ra ngồi rất lâu trên bờ biển. Một lần kia, đại đức Ananda nóivới Bụt: - Bạch ThếTôn, nghe tiếng sóng vỗ, nhìn các đợt sóng, chấm dứt mọi suy tư, theo dõihơi thở và an trú trong hiện tại, con thấy thân tâm thật thoải mái, và đạidương như giúp con đổi mới trong từng giây từng phút. Bụt gật đầu. Có một hôm nọđứng nói chuyện với ngư dân ven biển, đại đức Ananda hỏi các ngư dân nàynghĩ gì về biển cả. Một người đàn ông cao lớn, nước da xạm nắng, dángngười rất đẹp nói với thầy: - Biển cónhững đặc tính rất lớn và tôi ưa biển vì những đặc tính ấy. Đặc tính thứnhất là biển có những bãi cát thoai thoải đưa ta đi từ từ xuống nước,khiến cho việc thả thuyền và kéo lưới trở nên rất dễ dàng. Đặc điểm thứhai là biển luôn luôn ở tại chỗ, biển không bao giờ dời chỗ. Mình muốn rabiển thì mình biết hướng mà tìm đi. Đặc điểm thứ ba là biển không chấpnhận thây chết. Khi có thây chết, biển luôn luôn đẩy nó lên bãi. Đặc điểmthứ tư là biển chấp nhận nước của tất cả các dòng sông, dù đó là sôngGanga, sông Yamuna, sông Aciravati, sông Sarabhu hay sông Mahi. Sông nàora tới biển thì cũng bỏ tên riêng của mình để mang tên biển cả. Đặc điểmthứ năm là tuy ngày đêm muôn sông liên tiếp đổ nước về biển, biển củngkhông vì vậy mà có khi vơi khi đầy. Đặc điểm thứ sáu là nước biển ở đâucũng mặn. Đặc điểm thứ bảy là trong lòng biển có biết bao nhiêu thứ sanhô, xà cừ và ngọc quý. Đặc điểm thứ tám là biển làm chỗ dung thân cho hàngtriệu loài sinh vật, trong đó có những loài rất lớn dài hàng trăm do tuần,và những loài nhỏ bé như cây kim hoặc hạt bụi. Thưa các thầy, tôi chỉ nóicó chừng đó, các thầy cũng thấy tôi yêu biển đến chừng nào. Ananda nhìnkỹ bác ngư dân. Bác này làm nghề chài lưới mà nói năng như là một thi sĩ.Thầy hướng về phía Bụt: - Thế Tôn,bác ngư dân này ca tụng biển rất hay. Thế Tôn, bác ngư dân yêu biển thếnào thì con cũng yêu đạo pháp giác ngộ như thế, con thấy đạo pháp của ThếTôn có rất nhiều đặc tính tuyệt vời, đạo pháp này cũng bao la như biển cả,mong Thế Tôn dạy cho chúng con. Bụt mỉm cười,đưa tay chỉ ghềnh đá: - Chúng tahãy tới ngồi trên những tảng đá kia. Tôi sẽ nói cho các vị nghe về nhữngđặc tính của đạo pháp giác ngộ. Mọi ngườitheo Bụt leo lên ngồi trên ghềnh đá. Các bác ngư dân cũng được mời theo.Khi mọi người đã an tọa quanh Bụt, Bụt cất tiếng: - Này quý vị,bác ngư dân vừa nói tới tám điều đáng yêu của biển. Tôi cũng sẽ nói tớitám điều đáng yêu của chánh pháp. Thứ nhất, nếubiển có những bờ cát thoai thoải có thể đưa ta đi từ từ xuống nước, khiếncho việc thả thuyền và kéo lưới trở nên dễ dàng, thì chánh pháp cũng vậy.Trong đạo pháp này, mọi người có thể đi từ dễ tới khó, từ thấp tới cao, từcạn tới sâu. Chánh pháp mỏ rộng cho tất cả mọi người thuộc đủ loại căntính: ai cũng có thể đi vào chánh pháp được cả. Dù là em bé, người già,giác ngộ trí thức, kẻ thiếu học ... tất cả đều tìm thấy pháp môn tu họcthích hợp với mình trong đạo pháp này. Thứ hai, nếubiển luôn luôn ở tại chỗ mà không dời đi nơi khác, không cuốn phăng đi xómlàng và thành thị, thì chánh pháp cũng thế, những nguyên tắc của chánhpháp luôn luôn không thay đổi, và giới luật của người thọ trì chánh phápđã được quy định rõ ràng, Ở đâu có sự học hỏi và thực hành đúng theo nhữngnguyên tắc ấy và những giới luật ấy là ở đó có chánh pháp, không thể nàosai chạy được. Thứ ba, nếubiển không bao giờ dung túng một thây chết trong lòng nó thì chánh phápcũng vậy. Chánh pháp không dung túng được vô minh, biếng lười và hành độngphạm giới. Một người không tu trong một đại chúng có tu không thể nào cưtrú lâu dài được. Ngưòi đó sớm muộn gì cũng phải bị đẩy ra khỏi đoàn thểvà giáo pháp. Thứ tư, nếubiển chấp nhận nước của tất cả các dòng sông không phân biệt kỳ thị thìchánh pháp cũng thế. Từ giai cấp nào trong bốn giai cấp xã hội, người tacũng được đón tiếp một cách bình đẳng vào trong đạo pháp này. Cũng như khinước các dòng sông chảy ra biển, chúng bỏ lại sau lưng mình tên của dòngsông và bắt đầu lấy tên biển cả, những người đi vào trong đạo pháp của tôikhông còn mang theo giai cấp, dòng dõi và địa vị xã hội của họ: tất cả đềuđược gọi chung là người khất sĩ. Thứ năm, nếubiển không vơi đi cũng không đầy thêm dù đêm ngày muôn sông vẫn tiếp tụcchảy về, thì chánh pháp cũng vậy. Chánh pháp là chánh pháp, không phải vìcó nhiều người đi theo mà mới là chánh pháp, không phải là vì ít người đitheo mà đạo pháp không phải là chánh pháp. Sự thịnh suy không đánh giáđược chân lý của đạo pháp này. Thứ sáu, nếunước biển ở đâu cũng chỉ có một vị là vị mặn, thì chánh pháp cũng thế. Dùgiáo pháp được trình bày ra nhiều cách, dù có hàng ngàn hàng vạn pháp môn,thì chánh pháp cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát. Không có công nănggiải thoát thì đó không phải là chánh pháp. Thứ bảy, nếutrong lòng biển có vô số các loại san hô, xà cừ và ngọc quý thì chánh phápcũng thế. Trong đạo pháp ta có nhiều pháp môn vi diệu và quý báu như tứdiệu đế, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lục, thất bồ đề và bátchánh đạo. Thứ tám, nếubiển là chỗ dung thân thoải mái cho hàng triệu loài sinh vật trong đó cónhững loài vật nhỏ như hạt cát và dài lớn đến hàng trăm do tuần, thì chánhpháp cũng thế. Trong đạo pháp ta, một em bé hay một người ít học vẫn cóthể cơ hội tu học thoải mái. Trong đạo pháp ta, những bậc đại nhân có kíchthước lớn như những vị bồ tát có thể có cơ hội tu học và hoằng hóa trongmột môi trường thênh thang. Trong đạo pháp ta cũng có vô số các vị đãchứng đạt quả vị Nhập lưu, Nhất hoàn, Bất hoàn và A la hán. Này quý vị,biển cả là một nguồn cảm hứng, là một kho tàng vô tận. Chánh pháp là mộtnguồn cảm hứng, là một kho tàng vô tận. Đại đứcAnanda chắp tay nhìn Bụt: - Thế Tôn,người là một vị đạo sư, nhưng người cũng là một thi sĩ nữa. |