Erik Erikson – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Tham khảo
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Wikimedia Commons
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Erik Erikson
SinhErik Salomonsen(1902-06-15)15 tháng 6 năm 1902Frankfurt, Hesse, Đức[1]
Mất12 tháng 5 năm 1994(1994-05-12) (91 tuổi)Harwich, Massachusetts, Hoa Kỳ[1]
Tư cách công dân
  • Hoa Kỳ
  • Đức
Phối ngẫuJoan Serson Erikson (cưới 1930)
Con cái
  • Kai T. Erikson
  • Jon Erikson
  • Sue Erikson Bloland
  • Neil
Giải thưởng
  • Pulitzer Prize (1970)
  • National Book Award (1970)
Trình độ học vấn
Ảnh hưởng bởi
  • Ruth Benedict[2]
  • Anna Freud[3]
  • Sigmund Freud[4]
  • Margaret Mead[2]
Sự nghiệp học thuật
NgànhTâm lý học
Ngành phụ
  • Developmental psychology
  • psychoanalysis
Nơi công tác
  • Đại học Yale
  • Đại học California tại Berkeley
  • Đại học Pittsburgh
  • Đại học Harvard
Sinh viên nổi bậtRichard Sennett
Công trình tiêu biểu
  • Childhood and Society (1950)
  • Young Man Luther (1958)
  • Gandhi's Truth (1969)
  • The Life Cycle Completed (1987)
Ý tưởng tiêu biểuTheory on psychological development
Ảnh hưởng tới
  • Eric Berne[5]
  • Robert Coles[6]
  • Howard Gardner[7]
  • James Marcia

Erik Homburger Erikson (sinh Erik Salomonsen; 15 tháng 6 năm 1902 - 12 tháng 5 năm 1994) là một nhà tâm lý học và nhà phân tâm học người Mỹ gốc Đức nổi tiếng với lý thuyết về sự phát triển tâm lý của con người. Ông có thể nổi tiếng nhất vì đặt ra cụm từ khủng hoảng danh tính (identity crisis). Con trai của ông, Kai T. Erikson, là một nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ.

Mặc dù thiếu bằng cử nhân, Erikson từng là giáo sư tại các tổ chức nổi tiếng, bao gồm Harvard, Đại học California, Berkeley,[8] và Yale. Review of General Psychology, xuất bản năm 2002, đã xếp Erikson là nhà tâm lý học được trích dẫn nhiều thứ 12 trong thế kỷ 20.[9]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b "Erik Erikson, 91, Psychoanalyst Who Reshaped Views of Human Growth, Dies". The New York Times. ngày 13 tháng 3 năm 1994. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017.
  2. ^ a b Burston 2007, tr. 93.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBurston2007 (trợ giúp)
  3. ^ Stevens 2008, tr. 109.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFStevens2008 (trợ giúp)
  4. ^ McLeod, Saul (2017) [2008]. "Erik Erikson". Simply Psychology. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017.
  5. ^ Heathcoate 2010, tr. 257.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHeathcoate2010 (trợ giúp)
  6. ^ Eckenfels 2008, tr. vii.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFEckenfels2008 (trợ giúp)
  7. ^ Ireland, Corydon (ngày 17 tháng 10 năm 2013). "Howard Gardner: 'A Blessing of Influences'". Harvard Gazette. Cambridge, Massachusetts: Harvard University. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017.
  8. ^ "Erik Erikson". Encyclopedia. 2018.
  9. ^ Haggbloom et al. 2002.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHaggbloom_et_al.2002 (trợ giúp)
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Erik_Erikson&oldid=74637398” Thể loại:
  • Nhà văn Mỹ thế kỷ 20
  • Tín hữu Kitô giáo Mỹ
  • Người Frankfurt
  • Người Mỹ gốc Đan Mạch
  • Nam nhà văn Mỹ thế kỷ 20
  • Mất năm 1994
  • Sinh năm 1902
  • Công dân nhập tịch Hoa Kỳ
Thể loại ẩn:
  • Lỗi không có mục tiêu Harv và Sfn
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Erik Erikson 62 ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Thuyết Erikson