Gen CREBBP - Ihope

  • Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to footer
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Sàng lọc thai NIPT
  • Chẩn đoán ung thư
  • Sàng lọc gen lặn
  • Chẩn đoán di truyền
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Zalo
  • Facetime
  • Viber
  • Web chat
  • Gọi
  • Zalo
  • Dịch vụ
  • Địa chỉ
  • Đặt hẹn

Gen CREBBP nằm trên nhiễm sắc thể 16, cung cấp hướng dẫn tạo ra protein liên kết CREB với chức năng điều chỉnh hoạt động của nhiều gen trong các mô khắp cơ thể. Protein này nắm vai trò thiết yếu trong quá trình kiểm soát sự phát triển và phân chia tế bào, thúc đẩy tế bào trưởng thành để đảm nhận chức năng chuyên biệt (biệt hóa). Protein liên kết CREB dường như rất quan trọng với giai đoạn phát triển trước và sau khi sinh. Nghiên cứu cho thấy protein này liên quan đến sự phát triển của não và có thể tham gia hình thành ký ức dài hạn.

Chức năng chính

Protein liên kết CREB thực hiện các chức năng của nó bằng cách kích hoạt phiên mã—bước đầu tiên trong quá trình sản xuất protein từ các thông tin được lưu trữ trong ADN. Protein liên kết CREB đảm bảo ADN sẵn sàng cho quá trình phiên mã bằng cách gắn một nhóm acetyl vào protein histone (quá trình acetyl hóa). Histone là protein cấu trúc có chức năng liên kết ADN và tạo cho nhiễm sắc thể hình dạng. Quá trình acetyl hóa histone khiến nhiễm sắc thể thay đổi hình dạng nhằm chuẩn bị sẵn sàng để các gen phiên mã. Trên cơ sở của chức năng này, protein liên kết CREB được gọi là histone acetyltransferase.

Ngoài ra, protein liên kết CREB kết nối các protein có chức năng khởi động quá trình phiên mã (được gọi là các yếu tố phiên mã) với nhóm protein thực hiện phiên mã. Trên cơ sở của chức năng này, protein liên kết CREB được gọi là đồng kích hoạt phiên mã (transcriptional coactivator).

Đột biến gây bệnh

Hội chứng Rubinstein-Taybi

Các đột biến gen CREBBP gây ra hội chứng Rubinstein-Taybi. Người bệnh có biểu hiện đặc trưng gồm tầm vóc thấp, thiểu năng trí tuệ từ trung bình đến nặng, khuôn mặt dị biệt, ngón tay cái và ngón chân cái rộng. Hơn 300 đột biến đã được xác định, bao gồm xóa đoạn hoặc chèn đoạn và thay đổi nucleotide.

Bởi vì một bản sao của gen CREBBP bị thay đổi trên những người mắc hội chứng Rubinstein-Taybi, các tế bào của họ chỉ tạo ra một nửa lượng protein liên kết CREB. Mặc dù người ta chưa rõ làm thế nào số lượng protein giảm dẫn đến các đặc điểm của hội chứng Rubinstein-Taybi, rõ ràng là các biến thể gen CREBBP ảnh hưởng quá trình phát triển bình thường trước và sau khi sinh. Não phát triển bất thường được cho là nguyên nhân dẫn đến thiểu năng trí tuệ. Các biểu hiện khác có thể do sự phát triển bất thường của các cơ quan khác.

Xóa đoạn trên nhánh ngắn (p) của nhiễm sắc thể 16 có thể gây ra hội chứng Rubinstein-Taybi nghiêm trọng, em bé có biểu hiện không phát triển hoặc tăng cân trong giai đoạn sơ sinh, nhiễm trùng nghiêm trọng và bất thường của một số cơ quan như tim hoặc lá lách bên cạnh các triệu chứng cổ điển của bệnh. Nhiều gen bao gồm cả gen CREBBP bị mất do xóa đoạn. Người ta tin rằng mất nhiều gen trong vùng này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng liên quan đến hội chứng Rubinstein-Taybi nặng. Một số nghiên cứu cho thấy những trường hợp này là một bệnh lý riêng biệt được gọi là hội chứng mất đoạn nhiễm sắc thể 16p13.3. Tuy nhiên, vài nghiên cứu cho thấy mất đoạn lớn trên nhánh p của nhiễm sắc thể 16 không phải lúc nào cũng gây ra các dấu hiệu và triệu chứng nghiêm trọng, vì vậy người ta chưa rõ liệu các bệnh lý này có tách biệt hay không.

Xem thêm Hội chứng Rubinstein-Taybi

Ung thư bàng quang

Xem thêm Ung thư bàng quang

Ung thư

Đột biến gen CREBBP có liên quan đến một số loại ung thư. Những đột biến này là đột biến soma, chúng phát sinh trong quá trình sống và chỉ hiện diện trong một số tế bào. Trong một số trường hợp, chuyển đoạn nhiễm sắc thể làm xáo trộn vùng chứa gen CREBBP của nhiễm sắc thể 16. Ví dụ, người ta đã tìm thấy chuyển vị giữa nhiễm sắc thể số 8 và nhiễm sắc thể 16 trên một số bệnh nhân ung thư tế bào tạo máu được gọi là bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML). Một chuyển đoạn khác liên quan đến nhiễm sắc thể 11 và 16 được tìm thấy trên một số người đã trải qua điều trị ung thư. Thay đổi nhiễm sắc thể này liên quan đến sự phát triển của AML và hai bệnh ung thư khác của các mô tạo máu (bệnh bạch cầu nguyên bào tủy mãn tính và hội chứng loạn sản tủy). Đôi khi chúng được mô tả là ung thư liên quan đến điều trị vì chuyển vị giữa nhiễm sắc thể 11 và 16 xảy ra sau khi hóa trị các dạng ung thư khác.

Các đột biến soma gen CREBBP cũng đã được tìm thấy trên những người mắc bệnh ung thư tế bào máu khác gọi là ung thư hạch bạch huyết không Hodgkin tế bào B (B-cell non-Hodgkin lymphoma). Nhiều đột biến này làm giảm số lượng protein liên kết CREB. Các đột biến khác làm suy giảm hoạt động histone acetyltransferase của protein. Protein liên kết CREB giảm hoạt động trong một số tế bào miễn dịch B nên nên tế bào có thể phát triển và phân chia tế bào rồi dẫn đến u lympho không Hodgkin tế bào B.

Các vấn đề khác

Các đột biến gen CREBBP có thể gây ra hội chứng Menke-Hennekam. Mặc dù có chung một số đặc điểm với hội chứng Rubinstein-Taybi như thiểu năng trí tuệ và chậm phát triển, người mắc hội chứng Menke-Hennekam không có khuôn mặt dị biệt cùng với các bất thường ngón tay cái và ngón chân đặc trưng của hội chứng Rubinstein-Taybi. Các biểu hiện khác của hội chứng Menke-Hennekam thay đổi và có thể bao gồm suy giảm thị lực hoặc thính giác, co giật tái phát (động kinh), nhiễm trùng đường thở thường xuyên và tự kỷ.

Các đột biến gen CREBBP gây ra hội chứng Menke-Hennekam xảy ra trong exon 30 hoặc exon 31. Chúng thay đổi các axit amin trong protein liên kết CREB. Người ta cho rằng những thay đổi này trang bị cho protein một chức năng mới, từ đó quá trình phát triển bị ảnh hưởng rồi các dấu hiệu của hội chứng Menke-Hennekam khởi phát.

Với một số người, vùng ADN trên nhiễm sắc thể 16 chứa gen CREBBP được sao chép rồi gây ra hội chứng lặp đoạn 16p13.3. Người bệnh có biểu hiện đặc trưng gồm thiểu năng trí tuệ, khuôn mặt dị biệt (khác với những biểu hiện của hội chứng Rubinstein-Taybi), ngón tay cái bất thường và khớp cứng (arthrogryposis). Một số người bệnh cũng có các bất thường về tim, bộ phận sinh dục, vòm miệng hoặc mắt.

Trong khi các gen khác có thể được bao gồm trong vùng nhân đôi tùy thuộc vào kích thước, nghiên cứu cho thấy gen CREBBP rất có thể chịu trách nhiệm về các dấu hiệu và triệu chứng đặc trưng của hội chứng lặp đoạn 16p13.3. Người ta nghi ngờ một bản sao bổ sung của gen CREBBP dẫn đến protein liên kết CREB được sản xuất dư thừa nên hoạt động của protein tăng lên. Do đó, xáo trộn trong quá trình phiên mã gen và sản xuất protein có thể làm thay đổi sự phát triển của nhiều cơ quan khác nhau, từ đó các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng lặp đoạn 16p13.3 biểu hiện.

Các tên gọi khác

  • CBP
  • CBP_HUMAN
  • CREB binding protein (Rubinstein-Taybi syndrome)

Tài liệu tham khảo

  1. Genetic Testing Information. CREBBP CREB binding protein [Homo sapiens (human)]. Retrieved August 28, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gene/1387/
  2. Catalog of Genes and Diseases from OMIM. CREB-BINDING PROTEIN; CREBBP. Retrieved August 28, 2024 from https://omim.org/entry/600140
  3. National Library of Medicine. CREBBP gene. Retrieved August 28, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/gene/crebbp/

Footer

  • Xét nghiệm

    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc sơ sinh
    • Sàng lọc gen lặn
    • Bệnh di truyền
  • Giới thiệu

    • Về chúng tôi
    • Công nghệ
    • Thư viện
    • Hợp tác
  • Hỗ trợ

    • Hỏi đáp
    • Bảo hành
    • Chính sách
  • Liên hệ

    • +84968911884
    • [email protected]
    • Địa chỉ

Từ khóa » Sự Acetyl Hóa