Giá Trị Thặng Dư Và Vấn đề Bóc Lột ở Việt Nam - .vn

GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG “KINH TẾ TƯ BẢN” QUA MỘT VÍ DỤ

Giả sử ông A có 1.000 triệu Đ, ông có thể có những phương án (PA) sử dụng như sau:

+ Tự thực hiện việc kinh doanh: X;

+ Mua cổ phiếu của một công ty cổ phần: Y;

+ Gởi tiền vào ngân hàng (NH) hay mua trái phiếu: Z;

+ Để tiền ở Nhà hoặc đem gởi NH ở nước ngoài: O (PA không)

Trước hết chúng ta xét PA X. Để kinh doanh, ngoài 1.000 triệu Đ vốn có, ông A vay thêm NH 1.000 triệu Đ nữa (các doanh nghiệp thường có cấu trúc vốn như vậy) với lãi suất là 10% năm. Giả sử việc kinh doanh chỉ xảy ra trong 1 năm. Ông A mua “máy móc thiết bị” (MMTB) giá 500 triệu Đ và cuối năm thiết bị cũng hao mòn hết, mua nguyên vật liệu (NVL) giá 1.200 triệu Đ và mua “sức lao động” (SLĐ - trả lương, phúc lợi,... cho công nhân cũng như tiền công để thuê người quản lý điều hành hoặc tiền công trả cho việc tự điều hành) là 300 triệu Đ. Cuối năm ông A bán các sản phẩm hàng hóa làm ra (giả sử không có chi phí lưu thông) được 2.300 triệu Đ.

C. Mác gọi giá trị của hao mòn MMTB và NVL là “tư bản bất biến” và ký hiệu bằng c, đựợc người công nhân chuyển vào sản phẩm mới mà không làm giá trị tăng lên hay giảm đi. C. Mác cũng gọi: Giá trị mua SLĐ là “tư bản khả biến” và ký hiệu bằng v; Tổng giá trị k = c + v gọi là “chi phí sản xuất” và chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và k gọi là “giá trị thặng dư”, ký hiệu là m. Đó là “giá trị mới do lao động của người công nhân tạo ra ngoài giá trị sứclao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho Nhà tư bản”(1)

Theo đó, trong việc kinh doanh X của ông A:

c = 1.700 triệu Đ = 500 triệu Đ MMTB + 1.200 triệu Đ NVL, là tư bản bất biến;

v = 300 triệu Đ, mua SLĐ, là tư bản khả biến;

k = 2.000 triệu Đ = 1.700 triệu Đ + 300 triệu Đ, là chi phí sản xuất;

m = 300 triệu Đ = 2.300 triệu Đ – 2.000 triệu Đ, là giá trị thặng dư.

C. Mác cũng dùng “tỷ suất giá trị thặng dư” là m’ = m/v (%) để phản ánh mức độ bóc lột của Nhà tư bản đối với công nhân. Và nếu hàng hóa bán ra đúng giá trị của nó thì “lợi nhuận” p = m và “tỷ suất lợi nhuận” p’ = p/k (%) = m/k (%). Trong trường hợp của ông A:

+ Mức độ bóc lột: m’ = m/v = 300 triệu Đ/ 300 triệu Đ = 100%;

+ Tỷ suất lợi nhuận: p’ = p/k = m/k = 300 triệu Đ / 2.000 triệu Đ = 15% (cho toàn bộ việc kinh doanh).

Trong việc tự kinh doanh này, ông A còn sử dụng “tư bản cho vay“ 1.000 triệu Đ của NH. Cuối năm, ông A phải trả “lợi tức” là 10% x 1000 triệu Đ = 100 triệu Đ. Lợi tức đó chính là chi phí để được quyền tạm thời sử dụng khoản tư bản cho vay, là giá sử dụng tư bản cho vay. Theo C. Mác, lợi tức là “một hìnhthức biến tướng của giá trị thặng dư”. “Tư bản cho vay trở nên thần bí và được sùng bái nhất vì nó tạo nên bề ngoài là lợi tức do bản thân tiền tệ đẻ ra, tiền đẻ ra tiền”1), (2) Giáo trình kinh tế học Chính trị Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc gia,Hà Nội, 2000, T.162, 2832). Do vậy, lợi tứccũnglà giá trị thặng dư bị bóc lột.

Nội dung trên là nét chủ yếu nhất của Quy luật giá trị thặng dư, quy luậtkinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản (CNTB). Nó phản ánh quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư qua quá trình vận động Tiền – Hàng – Tiền và quá trình người bóc lột người với nhiều hình thái khác nhau (nông nghiệp, thương nghiệp, cho vay, v.v...)

T – H – T’, trong đó T’ = T + m

Từ khóa » Bóc Lột Giá Trị Thặng Dư Hiện Nay