Giáo Phận Qui Nhơn – Wikipedia Tiếng Việt

Giáo phận Qui NhơnDioecesis Quinhonensis
Vị trí
Quốc giaViệt Nam
Địa giớiĐông Gia Lai, đông Đắk Lắk, đông Quảng Ngãi
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
Thống kê
Khu vực16.194 km2 (6.253 dặm vuông Anh)
Dân số- Địa bàn- Giáo dân(tính đến 2017)3.730.14273.212
Giáo hạt7
Giáo xứ57
Thông tin
Giáo pháiCông giáo Rôma
Thành lập9 tháng 9 năm 1659(366 năm, 3 tháng, 3 tuần và 4 ngày)
Nhà thờ chính tòaNhà thờ chính tòa Đức Mẹ Lên Trời
Toà giám mục116 Trần Hưng Đạo, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai
Linh mục đoàn119 (2017)
Linh mục triều102
Linh mục dòng17
Lãnh đạo hiện tại
Giáo hoàngLeo XIV
Trưởng giáo tỉnh Giuse Đặng Đức Ngân
Giám mục Mátthêu Nguyễn Văn Khôi
Trang mạng
https://gpquinhon.org/
Nhà thờ Quy Nhơn ngày cũ.
Nhà thờ Gò Thị - Là nơi đặt Tòa Giám mục Đông Đàng Trong từ 1839 đến 1861
Từ năm 1839, Gò Thị được Đức cha Stêphanô Cuénot Thể chọn làm nơi đặt Toà Giám mục và ngài thường xuyên ở đó đến năm 1861.

Giáo phận Qui Nhơn (tiếng Latin: Dioecesis Quinhonensis[1]) là một giáo phận Công giáo Rôma ở Việt Nam, là một trong hai giáo phận có lịch sử hoạt động lâu đời nhất Việt Nam. Địa giới gồm phần phía đông của 3 tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, có diện tích 16.194 km², với tòa Giám mục đặt tại Quy Nhơn.

Tính đến cuối năm 2017, Giáo phận Qui Nhơn có 73.212 giáo dân (chiếm 1,96% dân số) trên tổng số dân cư 3.730.142 người, linh mục đoàn gồm 102 linh mục triều và 17 linh mục dòng quản lý 57 giáo xứ chia làm 7 giáo hạt.[2]

Đương kim Giám mục cai quản giáo phận là Mátthêu Nguyễn Văn Khôi (từ năm 2012).

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo phận Qui Nhơn có thể được xem là một trong hai giáo phận có lịch sử hoạt động lâu đời nhất Việt Nam. Ngày 9 tháng 9 năm 1659, Tòa Thánh đã chia tách Giáo phận Ma Cao để thành lập hai hạt Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài và Đàng Trong trên phần lãnh thổ tương ứng với 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia ngày nay. Hạt Đại diện Tông tòa Đàng Trong tương ứng vùng đất Đàng Trong và Cao Miên bấy giờ, được giao cho Giám mục hiệu tòa Berytus Lambert de la Motte làm Đại diện Tông tòa, lấy Quy Nhơn làm trung tâm truyền giáo ở Đàng Trong.

Địa giới giáo phận ổn định trong gần 200 năm, đến năm 1844 thì được chia thành Hạt Đại diện Tông tòa Đông Đàng Trong (tương ứng từ Quảng Bình đến Bình Thuận ngày nay) và Hạt Đại diện Tông tòa Tây Đàng Trong (tương ứng với Nam Bộ Việt Nam và Campuchia). Năm 1850, Hạt Đại diện Tông tòa Đông Đàng Trong một lần nữa được chia thành Hạt Đại diện Tông tòa Đông Đàng Trong (từ Quảng Nam đến Bình Thuận) và Hạt Đại diện Tông tòa Bắc Đàng Trong (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế). Năm 1907, tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai Thượng (Di Linh) và cao nguyên Lang Biang (Đà Lạt) được chuyển giao cho Hạt Đại diện Tông tòa Tây Đàng Trong quản lý.[3] Năm 1924, Hạt Đại diện Tông tòa Đông Đàng Trong được đổi thành Hạt Đại diện Tông Tòa Qui Nhơn, theo tên địa phương đặt Tông tòa Giám mục. Năm 1931, Tòa Giám mục được chuyển từ Làng Sông về thành phố Qui Nhơn.

Năm 1932, Tòa Thánh tách xứ truyền giáo Kontum (tương ứng Tây Nguyên ngày nay) khỏi Hạt Đại diện Tông tòa Qui Nhơn để thành lập Hạt Đại diện Tông tòa Kontum. Đến năm 1957, hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận thuộc địa phận cũng được tách ra, hợp với hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy (thuộc Hạt Đại diện Tông tòa Sài Gòn) để thành lập Hạt Đại diện Tông tòa Nha Trang.

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Hạt Đại diện Tông tòa Qui Nhơn được Tòa Thánh nâng lên thành Giáo phận chính tòa. Năm 1963, vùng Quảng Nam - Đà Nẵng được tách ra để thành lập Giáo phận Đà Nẵng. Từ đó, Giáo phận Qui Nhơn ổn định địa giới cho đến ngày nay.

Địa giới giáo phận: phía bắc giáp giáo phận Đà Nẵng, phía nam giáp giáo phận Nha Trang, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp giáo phận Kon Tum và giáo phận Ban Mê Thuột.

Các giáo hạt và giáo xứ trực thuộc

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hạt Bồng Sơn

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hạt Bồng Sơn gồm 7 giáo xứ nằm trên địa bàn các xã, phường phía đông bắc tỉnh Gia Lai, xếp theo ABC:

  1. Giáo xứ Cây Rỏi - Xã Hội Sơn, tỉnh Gia Lai
  2. Giáo xứ Đại An - Xã Xuân An, tỉnh Gia Lai
  3. Giáo xứ Đại Bình - Phường Bồng Sơn, tỉnh Gia Lai
  4. Giáo xứ Gia Chiểu - Xã Hoài Ân, tỉnh Gia Lai
  5. Giáo xứ Phù Cát - Xã Phù Cát, tỉnh Gia Lai
  6. Giáo xứ Phù Mỹ - Đường Hai Bà Trưng, xã Phù Mỹ, tỉnh Gia Lai
  7. Giáo xứ Thác Đá Hạ - Phường Bồng Sơn, tỉnh Gia Lai

Giáo hạt Gò Thị

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hạt Gò Thị gồm 9 giáo xứ nằm trên địa bàn các xã phía đông nam tỉnh Gia Lai, xếp theo ABC:

  1. Giáo xứ Công Chánh - 428 Nguyễn Huệ, xã Tuy Phước, tỉnh Gia Lai
  2. Giáo xứ Gò Dài - Xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai
  3. Giáo xứ Gò Thị[4] - Xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai
  4. Giáo xứ Lục Lễ - Xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai
  5. Giáo xứ Nam Bình - Xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai
  6. Giáo xứ Tân Dinh - Xã Tuy Phước, tỉnh Gia Lai
  7. Giáo xứ Tân Quán - Xã Tuy Phước, tỉnh Gia Lai
  8. Giáo xứ Vĩnh Thạnh[5] - Xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai
  9. Giáo xứ Vườn Vông - Xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai

Giáo hạt Kim Châu

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hạt Kim Châu gồm 8 giáo xứ nằm trên địa bàn các xã, phường phía nam tỉnh Gia Lai, xếp theo ABC:

  1. Giáo xứ Chánh Thạnh - Phường An Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai
  2. Giáo xứ Cù Lâm - Xã An Nhơn Tây, tỉnh Gia Lai
  3. Giáo xứ Huỳnh Kim - Phường An Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai
  4. Giáo xứ Kiên Ngãi - Xã Bình An, tỉnh Gia Lai
  5. Giáo xứ Kim Châu - 2 Lâm Văn Thạnh, phường Bình Định, tỉnh Gia Lai
  6. Giáo xứ Phú Hữu - Xã Bình Hiệp, tỉnh Gia Lai
  7. Giáo xứ Trường Cửu - Phường An Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai
  8. Giáo xứ Sông Cạn - Thôn Mỹ Thuận, xã Bình An, tỉnh Gia Lai

Giáo hạt Mằng Lăng

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hạt Mằng Lăng gồm 8 giáo xứ nằm trên địa bàn các xã, phường phía đông bắc tỉnh Đắk Lắk, xếp theo ABC:

  1. Giáo xứ Chợ Mới - Xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk
  2. Giáo xứ Đa Lộc - Xã Xuân Lãnh, tỉnh Đắk Lắk
  3. Giáo xứ Đồng Tre - Xã Xuân Phước, tỉnh Đắk Lắk
  4. Giáo xứ Đồng Cháy - Xã Ô Loan, tỉnh Đắk Lắk
  5. Giáo xứ Gò Duối - Xã Xuân Cảnh, tỉnh Đắk Lắk
  6. Giáo xứ Mằng Lăng - Xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk
  7. Giáo xứ Sông Cầu - Phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk
  8. Giáo xứ Trà Kê - Xã Tây Sơn, tỉnh Đắk Lắk

Giáo hạt Quảng Ngãi

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hạt Quảng Ngãi gồm 8 giáo xứ nằm trên toàn bộ phần phía đông tỉnh Quảng Ngãi, xếp theo ABC:

  1. Giáo xứ Bàu Gốc - Xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
  2. Giáo xứ Bình Hải - Xã Vạn Tường, tỉnh Quảng Ngãi
  3. Giáo xứ Châu Ổ - Xã Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
  4. Giáo xứ Châu Me - Xã Đình Cương, tỉnh Quảng Ngãi
  5. Giáo xứ Kỳ Tân - Xã Vệ Giang, tỉnh Quảng Ngãi
  6. Giáo xứ Lý Sơn - Đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
  7. Giáo xứ Phú Hòa - Phường Trương Quang Trọng, tỉnh Quảng Ngãi
  8. Giáo xứ Quảng Ngãi - 109 Đại lộ Hùng Vương, phường Cẩm Thành, tỉnh Quảng Ngãi

Giáo hạt Qui Nhơn

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hạt Qui Nhơn gồm 11 giáo xứ nằm trên địa bàn các xã, phường phía đông nam tỉnh Gia Lai, xếp theo ABC:

  1. Giáo xứ Chính Tòa - 122 Trần Hưng Đạo, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai
  2. Giáo xứ Đồng Tiến - 27 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai
  3. Giáo xứ Ghềnh Ráng - 21 Tây Sơn, phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai
  4. Giáo xứ Hòa Ninh - 128 Nguyễn Huệ, phường phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai
  5. Giáo xứ Hội Lộc - Phường Quy Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai
  6. Giáo xứ Ngọc Thạnh - Phường Quy Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai
  7. Giáo xứ Phú Thạnh - Phường Quy Nhơn Tây, tỉnh Gia Lai
  8. Giáo xứ Qui Đức - 946 Trần Hưng Đạo, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai
  9. Giáo xứ Qui Hiệp - 142 Ngô Mây, phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai
  10. Giáo xứ Qui Hòa - Phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai
  11. Giáo xứ Xuân Quang - 454 Quang Trung, phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai

Giáo hạt Tuy Hòa

[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hạt Tuy Hòa gồm 8 giáo xứ nằm trên địa bàn các xã, phường phía đông nam tỉnh Đắk Lắk, xếp theo ABC:

  1. Giáo xứ Đông Mỹ - Phường Đông Hòa, tỉnh Đắk Lắk
  2. Giáo xứ Hoa Châu - Xã Sơn Thành, tỉnh Đắk Lắk
  3. Giáo xứ Hóc Gáo - Xã Phú Hòa 2, tỉnh Đắk Lắk
  4. Giáo xứ Sơn Giang - Xã Đức Bình, tỉnh Đắk Lắk
  5. Giáo xứ Sơn Nguyên - Xã Sơn Hòa, tỉnh Đắk Lắk
  6. Giáo xứ Sông Hinh - Xã Sông Hinh, tỉnh Đắk Lắk
  7. Giáo xứ Tịnh Sơn - Xã Sơn Hòa, tỉnh Đắk Lắk
  8. Giáo xứ Tuy Hòa - 114 Lê Trung Kiên, phường Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk

Các danh địa giáo phận

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ chính tòa và Tòa Giám mục

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Nhà thờ chính tòa Qui Nhơn

Nhà thờ chính tòa Qui Nhơn còn gọi là Nhà thờ Nhọn nằm ở số 122 đường Trần Hưng Đạo, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai.

Tòa Giám mục giáo phận Qui Nhơn nằm ở số 116 đường Trần Hưng Đạo, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai.

Trung tâm hành hương

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Nước Mặn: điểm truyền giáo đầu tiên của Giáo phận
  2. Mằng Lăng: quê hương Chân phước Anrê Phú Yên
  3. Nhà thờ Gò Thị: ở thôn Xuân Phương, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, quê hương của Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, nơi Đức cha Stêphanô Cuénot Thể chọn đặt Tòa Giám mục Đàng Trong từ năm 1839 đến năm 1861.
  4. Đền Thánh Stêphanô Cuénot Thể: ở thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, được xây trên nền nhà bà Maria Mađalêna Huỳnh Thị Lưu, nơi Thánh Giám mục Stêphanô Thể dâng Thánh lễ cuối cùng trước khi bị bắt và tử đạo tại nhà giam Bình Định.
  5. Trung Tâm Thánh Thể và Thánh Mẫu Ghềnh Ráng tại chân núi Xuân Vân, phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn.

Các nhà thờ lớn, tu viện và chủng viện

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nhà thờ Mằng Lăng
  • Tiểu chủng viện Làng Sông: tái thiết năm 1891. Địa chỉ: thôn Quảng Vân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.[6]
  • Tiểu chủng viện Qui Nhơn: xây dựng năm 1968. Địa chỉ: 120 Trần Hưng Đạo, thành phố Quy Nhơn.[2]

Các đời Giám mục quản nhiệm

[sửa | sửa mã nguồn]
STT Tên Thời gian quản nhiệm Ghi chú
Hạt Đại diện Tông tòa Đàng Trong
1 † Pierre Lambert de la Motte 1659-1679
2 † Guillaume Mahot Mão 1680-1684
3 † François Perez 1687-1728
4 † Charles-Marin Labbé 1697-1723
5 † Alexandre de Alexandris 1725-1738
6 † Valerian Rist Hy 1735-1737
7 † Arnaud-François Lefèbvre 1741-1760
8 † Edmond Bennetat 1745-1758
9 † Guillaume Piguel 1762-1771
10 † Pierre Pigneau de Béhaine Lộc 1771-1799
11 † Jean Labartette Bình 1784-1823
12 † Jean-André Doussain 1798-1809
13 † Jean-Joseph Audemar 1818-1821
14 † Jean-Louis Taberd 1827-1840
15 † Etienne Cuénot Thể 1831-1844
Hạt Đại diện Tông tòa Đông Đàng Trong
Etienne Cuénot Thể 1844-1861
16 † François-Marie Pellerin Phan 1844-1850 Giáo phận Đông Đàng Trong
17 † Eugène-Étienne Charbonnier Trí 1864-1878
18 † Louis-Marie Galibert Lợi 1879-1883
19 † Désiré-François Van Camelbeke Hân 1884-1901
20 † Damien Grangeon Mẫn 1902-1924
Hạt Đại diện Tông tòa Qui Nhơn
Damien Grangeon Mẫn 1924-1929
21 † Constant Philomène Jeanningros Vị 1911-1921
22 † Augustin Tardieu Phú 1929-1942 Giáo phận Qui Nhơn
23 † Paul-Marcel Piquet Lợi 1943-1957
Giáo phận Qui Nhơn
24 † Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi 1960-1963
25 † Đa Minh Hoàng Văn Đoàn 1963-1974
26 † Phaolô Huỳnh Đông Các 1974-1999
27 † Giuse Phan Văn Hoa 1976-1987
28 † Phêrô Nguyễn Soạn 1999-2012
29 Mátthêu Nguyễn Văn Khôi 2009-2012 2012-nay

Ghi chú:

  • : Giám mục chính tòa
  • : Giám mục phó, phụ tá hoặc Giám quản tông tòa, Đại diện tông tòa

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Giáo phận Công giáo tại Việt Nam

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Cách viết chính thức là "Qui Nhơn" chứ không phải "Quy Nhơn" theo hành chính
  2. ^ a b "Giới thiệu Sơ lược về Giáo phận Qui Nhơn". Hội đồng Giám mục Việt Nam. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2021.
  3. ^ Bùi Đức Sinh,O.P,M.A. (2013). Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, Tập III. Canada: Veritas Edition Calgary. tr. 23, 34.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  4. ^ Nhà thờ giáo xứ Gò Thị là Đền chính của Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông
  5. ^ Nhà thờ giáo xứ Vĩnh Thạnh cũng chính là Đền Thánh Stêphanô Cuénot Thể
  6. ^ Nam Nguyễn (2020). "Tiểu chủng viện Làng Sông - kiến trúc Gothic tuyệt đẹp giữa đồng quê Việt Nam". toquoc.vn. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Giáo phận Qui Nhơn
  • x
  • t
  • s
Giáo phận Công giáo tại Việt Nam
Giáo tỉnh Hà Nội

Hà Nội · Bắc Ninh · Bùi Chu · Hà Tĩnh · Hải Phòng · Hưng Hóa · Lạng Sơn và Cao Bằng · Phát Diệm · Thái Bình · Thanh Hóa · Vinh

Giáo tỉnh Huế

Huế · Ban Mê Thuột · Đà Nẵng · Kon Tum · Nha Trang · Qui Nhơn

Giáo tỉnh Sài Gòn

Thành phố Hồ Chí Minh · Bà Rịa · Cần Thơ · Đà Lạt · Long Xuyên · Mỹ Tho · Phan Thiết · Phú Cường · Vĩnh Long · Xuân Lộc

Bài viết liên quan Công giáo tại Việt Nam · Các thánh tử đạo Việt Nam · Quan hệ Tòa Thánh – Việt Nam · Hội đồng Giám mục Việt Nam · Danh sách giám mục người Việt (còn sống · nghỉ hưu) · Danh sách giám mục ngoại quốc

Từ khóa » đức Số Quy Nhơn