Greenland – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| GreenlandKalaallit Nunaat (tiếng Greenland) Grønland (tiếng Đan Mạch) | |
|---|---|
| Lãnh thổ tự trị thuộc Vương quốc Đan Mạch | |
| | |
| Bài ca: "Nunarput utoqqarsuanngoravit" (tiếng Greenland)"Vort ældgamle land" (tiếng Đan Mạch)"Vùng đất cổ kính của chúng ta" | |
| 'Bài ca người Kalaallit': "Nuna asiilasooq" (tiếng Greenland)"Vùng đất rất dài"[a] Hoàng ca:Der er et yndigt land (tiếng Đan Mạch)(tiếng Việt: "Có một đất nước đẹp tươi")Kong Christian stod ved højen mast (tiếng Đan Mạch)(tiếng Việt: "Vua Christian đứng bên cạnh cột chính") | |
ở Vương quốc Đan Mạch (xanh nhạt) | |
| Quốc gia | |
| Người Paleo-Inuit định cư | k. 2500 TCN |
| Người Norse định cư | 986 CN |
| Người Norse Greenland liên hiệp với Na Uy | 1262 |
| Đan Mạch–Na Uy tái định cư và xâm chiếm | 1721 |
| Hợp nhất với Đan Mạch | 14 tháng 1 năm 1814 |
| Tự trị địa phương | 1 tháng 5 năm 1979 |
| Tăng cường quyền tự trị | 21 tháng 6 năm 2009[2][3] |
| Thủ phủ | Nuuk64°10′B 51°44′T / 64,167°B 51,733°T |
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Greenland[b] |
| Ngôn ngữ được công nhận | Tiếng Đan Mạch, tiếng Anh và những ngôn ngữ khác trong trường hợp cần thiết[b] |
| Sắc tộc (2020) | 89,51% người Inuit Greenland 7,5% người Đan Mạch 1,1% người Bắc Âu khác 1,9% dân tộc khác[5] |
| Tôn giáo (2010)[6] |
|
| Tên dân cư | Người Greenland |
| Chính phủ | Chính phủ đại nghị được phân quyền thuộc một chế độ quân chủ lập hiến đơn nhất |
| • Quân chủ | Frederik X |
| • Thủ tướng Đan Mạch | Mette Frederiksen |
| • Cao ủy Greenland | Julie Præst Wilche |
| • Thủ tướng Greenland | Jens-Frederik Nielsen |
| • Chủ tịch Nghị viện | Kim Kielsen |
| Lập pháp | Quốc hội Đan Mạch Nghị viện Greenland |
| Cơ quan đại diện quốc gia | |
| • Quốc hội Đan Mạch(2 nghị sĩ) |
|
| Diện tích | |
| • Tổng cộng | 2.166.086 km2 (836.330 dặm vuông Anh) |
| • Mặt nước (%) | 0[c] |
| Độ cao cao nhất | 3,700 m (12,139 ft) |
| Dân số | |
| • Ước lượng 2025 | |
| • Mật độ | 0,028/km2 (0,1/sq mi) |
| GDP (PPP) | Ước lượng 2023 |
| • Tổng số | |
| • Bình quân đầu người | |
| GDP (danh nghĩa) | Ước lượng 2023 |
| • Tổng số | |
| • Bình quân đầu người | |
| Gini (2023) | |
| HDI (2023) | |
| Tiền tệ | Krone Đan Mạch (DKK) |
| Múi giờ | UTC±00:00 đến UTC-04:00 |
| Cách ghi ngày tháng | dd-mm-yyyy |
| Giao thông bên | phải |
| Mã điện thoại | +299 |
| Postal codes | 39xx |
| Mã ISO 3166 | GL |
| Tên miền Internet | .gl |
Greenland[d] là một lãnh thổ tự trị thuộc Vương quốc Đan Mạch[15][16] và là lãnh thổ cấu thành lớn nhất của Vương quốc Đan Mạch. Công dân Greenland là công dân Đan Mạch và có quốc tịch Liên minh châu Âu, tuy Greenland không phải là một phần của Liên minh châu Âu. Greenland là đảo lớn nhất trên thế giới,[e] nằm giữa Bắc Băng Dương và Đại Tây Dương, về phía đông của Quần đảo Bắc Cực thuộc Canada. Greenland có biên giới 1,2 kilômét (0,75 mi) với Canada trên Đảo Hans. Thủ phủ và thành phố lớn nhất của Greenland là Nuuk.[18] Đảo Kaffeklubben ngoài khơi bờ biển phía bắc của Greenland là điểm đất cực bắc nhất trên thế giới.[f]
Khoảng 80% diện tích bề mặt Greenland bị băng bao phủ, được gọi là mũi băng Greenland, trọng lượng của băng đã nén vùng đất trung tâm lục địa hình thành nên một lòng chảo nằm thấp hơn 300 m dưới mực nước biển. Hầu như tất cả người dân Greenland đều sống dọc theo các vịnh hẹp (fjords) ở phía tây nam đảo chính, nơi có khí hậu ôn hoà hơn. Đa phần người dân Greenland là hậu duệ của cả người Kalaallit (Inuit) và Scandinavia và sử dụng tiếng Greenland (hay Kalaallisut) làm ngôn ngữ chính. Tiếng Greenland được hơn 50.000 người sử dụng, lớn hơn toàn bộ ngữ hệ Eskimo-Aleut cộng lại. Một cộng đồng thiểu số Đan Mạch di cư tới đây nói tiếng Đan Mạch. Cả hai đều là ngôn ngữ chính thức, trong khi đó phương ngữ Greenland phía tây là hình thức chính thức của tiếng Greenland.
Hiện đang có cuộc tranh cãi ngoại giao về chủ quyền giữa Canada và Greenland về hòn đảo nhỏ Hans.
Greenland trở thành thuộc địa của Đế quốc Na Uy từ năm 1261. Tuy nhiên, từ sau năm 1397, khi có Liên minh Kalmar, thì quyền kiểm soát Greenland trên thực tế dần dần rơi vào tay Vương quốc Đan Mạch và tới năm 1814 khi có Hòa ước Kiel thì Greenland hoàn toàn trở thành thuộc địa của Đan Mạch.
Tới ngày 5 tháng 6 năm 1953, khi Đan Mạch sửa đổi Luật cơ bản (cũng gọi là Luật hiến pháp) thì Greenland được sáp nhập thành một amt (tương đương tỉnh hạt) của Đan Mạch. Sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1978, Greenland được Quốc hội Đan Mạch trao cho quyền tự trị. Luật bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1979. Quân chủ Đan Mạch vẫn là nguyên thủ quốc gia của Greenland. Các cử tri Greenland đã lựa chọn tách khỏi Cộng đồng Kinh tế châu Âu ngay sau khi được trao quyền tự trị.
Sau gần 300 năm dưới sự cai trị của Đan Mạch, Greenland tiến một bước dài trong việc độc lập với Đan Mạch. Cuộc trưng cầu dân ý năm 2008 nhằm đề nghị nhiều quyền hạn hơn từ phía Copenhagen được công nhận và có hiệu lực từ ngày 21 tháng 6 năm 2009. Đan Mạch vẫn giữ lại quyền kiểm soát tài chính, đối ngoại, quốc phòng nhưng sẽ giảm dần trợ cấp hàng năm và từ bỏ quyền kiểm soát tài nguyên thiên nhiên trên đảo. Người Greenland với hầu hết là người bản địa Inuit sẽ được đối xử như người riêng biệt theo luật quốc tế.[19] Tuy nhiên thời gian gần đây, Greenland đang phải đối mặt với nguy cơ bị Hoa Kỳ sáp nhập.
Tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Những người Norsemen đầu tiên định cư trên hòn đảo đặt tên nó là Greenland. Theo Sử thi người Iceland, nhà thám hiểm người Viking Erik Đỏ và cha ông là Thorvald bị lưu đày khỏi Iceland sau khi Thorvald phạm tội ngộ sát. Erik Đỏ, đại gia đình ông và các nô lệ chèo thuyền đến khám phá một hòn đảo băng giá về phía tây bắc của Iceland. Sau khi tìm được một vùng đất có thể sinh sống trên hòn đảo, ông đặt tên nó là Grœnland (nghĩa là "Vùng đất xanh") nhằm thu hút người khác đến ở.[20][21][22] Trong Sử thi Erik Đỏ có viết rằng: "Vào mùa hè, Erik đến định cư ở vùng đất mà ông đã tìm ra. Ông gọi nó là Greenland, một cái tên đẹp để thu hút người khác."[23] Tên gọi của lãnh thổ trong tiếng Greenland là Kalaallit Nunaat (nghĩa là "Vùng đất của người Kalaallit"),[24] người Kalaallit là nhóm người Inuit Greenland chính sinh sống tại khu vực phía tây của lãnh thổ. Từ Nunaat trong tiếng Greenland không bao hàm băng và nước.[25]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử GreenlandDân cư nguyên thủy của Greenland xuất xứ từ vùng Trung Á, nơi các bộ tộc Eskimo tức người Inuit di chuyển bằng đường bộ qua eo biển Bering, qua Alaska rồi đi tiếp tới các đảo ở phía bắc Canada. Từ đó họ đã đi bộ qua eo biển hẹp tới vùng Thule khoảng năm 2.500 trước Công nguyên (vùng mà nhà thám hiểm Hy Lạp Pytheas đặt tên cho một hòn đảo mà ông ta đã đặt chân lên khoảng năm 330-320 TCN, không biết đích xác nơi nào, dường như là Iceland hay quần đảo Faroe hay Greenland hay Hålogaland (miền bắc Na Uy). Những người nhập cư đầu tiên này được xem là thuộc nền văn hóa Independence I, theo tên địa điểm mà các di tích khảo cổ đã được tìm thấy.
Tới khoảng năm 1.600 TCN, có một đợt dân nhập cư tới cư ngụ ở dọc theo bờ biển phía tây, thuộc nền văn hóa Saqqaq. Họ sống tại đây trong khoảng 1.000 năm, sau đó dường như họ không chịu nổi sự biến đổi khí hậu nữa.
Sau đó tới nhóm người thuộc nền văn hoá Dorset (văn hoá Paleo-Eskimo) ở thời tiền sử nhập cư vào khu bờ biển phía đông và phía tây, và nền văn hoá này đã biến mất vào khoảng năm 200. Ngày nay còn nhiều di tích khảo cổ tại các nhà bảo tàng địa phương ở Greenland. Từ đó về sau, dường như không hề có người sinh sống trên hòn đảo này trong 8 thế kỷ.
Những nông dân Iceland dưới sự lãnh đạo của Erik Đỏ (Eirik Raude) tới Greenland vào khoảng năm 982. Họ đã lập ra ba khu định cư ở Brattahlid gần mũi cực tây nam hòn đảo, và chính họ đã đặt tên cho đảo là Grønland (Greenland). những nơi này đã phát triển nhanh chóng trong vài thế kỷ sau đó, và đã biến mất sau hơn 450 năm có người sinh sống.
Đợt dân nhập cư cuối cùng xảy ra khoảng năm 1.200 và những di dân này là tổ tiên của dân cư Greenland hiện nay.
Thời ấy, các vịnh hẹp (fjords) ở phần phía nam hòn đảo có hệ động thực vật phát triển và khí hậu ấm hơn, có lẽ vì thế nó được gọi là Giai đoạn ấm Trung Cổ. Các cộng đồng xa xôi đó đã phát triển, và sinh sống bằng việc đồng áng, săn bắn cũng như buôn bán với mẫu quốc. Dường như những người tới định cư sống khá hoà thuận với người Inuit, họ đã di cư về phía nam từ các đảo Bắc Cực của Bắc Mỹ từ khoảng năm 1200. Năm 1261, Greenland trở thành thuộc địa của Vương quốc Na Uy. Tới lượt mình Na Uy lại tham gia vào Liên minh Kalmar năm 1397 và sau này là Liên minh Đan Mạch-Na Uy.
Sau gần năm trăm năm, những người định cư Scandinavia đã biến mất, có lẽ vì nạn đói trong thế kỷ 15 ở thời Băng hà nhỏ, khi các điều kiện khí hậu trở nên khắc nghiệt hơn, và tiếp xúc với Châu Âu bị gián đoạn. Xương cốt thời kỳ này được tìm thấy ngày nay cho thấy những bằng chứng ủng hộ điều đó. Một số người tin rằng những người định cư đã biến mất vì bệnh dịch hạch hay bị người Inuit tiêu diệt. Các nhà sử học đã chỉ ra rằng những tên cướp biển người Basque hay người Anh hay những kẻ buôn bán nô lệ từ Bờ biển Barbary đã góp phần vào sự biến mất của những cộng đồng tại Greenland.
Năm 1721, mục sư người Na Uy gốc Đan Mạch Hans Egede, được vua Frederik IV của Đan Mạch phái tới Greenland để tìm các cư dân Bắc Âu, nhưng không thấy, mà chỉ gặp dân Inuit, ông ta bắt đầu truyền giáo, khiến họ cải sang Kitô giáo. Hans Egede đặt nền móng cho thành phố Nuuk, vừa truyền giáo vừa buôn bán nhân danh vua Đan Mạch.
Đan Mạch-Na Uy tái xác nhận tuyên bố chủ quyền của họ với thuộc địa này năm 1721. Các mối quan hệ của hòn đảo với Na Uy trở nên xấu đi sau Hòa ước Kiel năm 1814, theo đó Thuỵ Điển giành được quyền kiểm soát toàn bộ nước Na Uy trong khi Đan Mạch giữ lại toàn bộ quyền sở hữu những vùng bên ngoài (thời ấy gồm các lãnh thổ nhỏ tại Ấn Độ, Tây Phi và Tây Ấn, cũng như Quần đảo Faroe, Iceland và Greenland.
Na Uy chiếm và tuyên bố chủ quyền nhiều phần (khi ấy không có người ở) ở phía Đông Greenland còn gọi là Erik the Red's Land vào tháng 7 năm 1931, cho rằng đó là lãnh thổ vô chủ. Na Uy và Đan Mạch đã đồng ý giải quyết vấn đề tại Toà án luật pháp quốc tế năm 1933, toà xử Na Uy thua cuộc.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Greenland là một trạm trung chuyển hàng không quan trọng của phe Đồng Minh, để chở hàng tiếp liệu từ Hoa Kỳ sang Anh. Các nguồn tiếp liệu từ Đan Mạch bị cắt đứt từ ngày 9 tháng 4 năm 1940 khi Đan Mạch bị Đức chiếm đóng, và Greenland tự quản lý các công việc của mình. Nhờ có cryolite khai thác ở mỏ Ivigtut, Greenland có khả năng chi trả cho những mặt hàng mua từ Hoa Kỳ và Canada. Trong chiến tranh hệ thống chính phủ đã thay đổi. Eske Brun là thủ hiến và người cai trị hòn đảo thông qua một điều luật năm 1925 liên quan tới việc quản lý hòn đảo khi, dưới những trường hợp đặc biệt, các vị thủ hiến không thể nắm quyền kiểm soát. Vị thủ hiến khác, Aksel Svane, được phái tới Hoa Kỳ với tư cách lãnh đạo uỷ ban cung cấp Greenland. Đơn vị tuần tra Sirius Patrol, canh gác các bờ biển phía đông bắc Greenland sử dụng các xe chó kéo, đã phát hiện và phá huỷ nhiều trạm dự báo thời tiết của Đức, khiến Đan Mạch có được một vị trí tốt hơn trong giai đoạn hỗn loạn thời hậu chiến.
Tới tận năm 1940, Greenland vẫn là một xã hội được bảo vệ và vì vậy cũng là một xã hội biệt lập. Chính phủ Đan Mạch, cai quản thuộc địa Greenland, tin rằng xã hội này sẽ phải đối mặt với sự khai thác từ thế giới bên ngoài, thậm chí là bị diệt chủng nếu được mở cửa. Dù trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ở Greenland đã phát triển một tinh thần tự cường trong giai đoạn tự quản lý và thông tin độc lập với thế giới bên ngoài.
Tuy nhiên, năm 1946 một uỷ ban (với sự tham gia của hội đồng cấp cao nhất của Greenland) đề xuất sự kiên nhẫn và không đưa ra những sửa đổi quá triệt để với hệ thống này. Hai năm sau, bước đầu tiên nhằm tiến tới một chính phủ ở Greenland được khởi động khi một uỷ ban quan trọng được thành lập. Năm 1950 bản báo cáo (G-50) được đệ trình. Greenland muốn trở thành một xã hội hiện đại và thịnh vượng với Đan Mạch vừa là hình mẫu, vừa là nước đỡ đầu. Năm 1953 Greenland trở thành một lãnh thổ bình đẳng bên trong Cộng đồng Vương quốc Đan Mạch (Rigsfælleskab).
Năm 1979, Greenland được trao quyền tự trị. Sau ba thế kỷ là một phần lãnh thổ của Đan Mạch, ngày 21 tháng 6 năm 2009, Greenland chính thức tiếp quản quyền điều hành lực lượng cảnh sát và tòa án của hòn đảo cùng với việc tiếp quản này, chính quyền đảo Greenland sẽ được thu phần lớn hơn trong việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại đảo và được luật pháp quốc tế đối xử như một thực thể độc lập với ngôn ngữ chính thức là tiếng Kalaallisut chứ không còn là tiếng Đan Mạch.[26]
Dưới nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump, Hoa Kỳ đã xúc tiến chiến dịch thôn tính Greenland, đồng thời đe dọa tiến hành xâm lược quân sự.[27] Động thái này diễn ra sau nỗ lực mua lại Greenland bất thành của Trump trong nhiệm kỳ đầu tiên, vốn đã bị Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen thẳng thừng bác bỏ.[27] Những lời đe dọa của Trump nhắm vào Greenland được mô tả là một thách thức mới, tiềm ẩn những nguy cơ chưa từng có tiền lệ đối với NATO.[28]
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Địa lý Greenland
Greenland nằm trải dài trên 24 vĩ độ, từ mũi Uummannarssuaq (tiếng Đan Mạch: Kap Farvel, tiếng Anh: Cap Farewell) cực nam ở 59°46' độ vĩ bắc (ngang Oslo) tới đảo Inuit Qeqertaat (tiếng Đan Mạch: Kaffeklubben) ở 83°40' độ vĩ bắc. Đảo có chiều dài 2.650 km và rộng khoảng 1.000 km, nằm cách Bắc cực 710 km, là lãnh thổ cực bắc của Trái Đất.
Greenland có biên giới phía nam là Đại Tây Dương, phía bắc là biển Lincoln và biển Wandels (cả hai biển này đều nằm trong Bắc Băng Dương), phía tây là eo biển Davis và vịnh Baffin, phía tây bắc là eo biển Smith và eo biển Nares, phía đông là biển Greenland và eo biển Đan Mạch, cách Iceland 240 km.

Tổng diện tích Greenland là 2.166.086 km² (836.109 dặm vuông), trong đó Phiến băng Greenland bao phủ 1.755.637 km² (677.676 dặm vuông) (81%), chỉ có 410.449 km² diện tích là không có băng bao phủ (19%). Điểm cao nhất là núi Gunnbjørn ở phía đông, cao 3.693 mét. Đường bờ biển Greenland dài 44.087 km, khoảng bằng chiều dài chu vi xích đạo Trái Đất.
Trọng lượng to lớn của phiến băng Greenland với chiều cao 3.000 mét đã nén vùng đất trung tâm, hình thành nên một lòng chảo nằm thấp hơn 300 m [1.000 feet] dưới mực nước biển,[29] đồng thời cũng ép các khối băng dư thừa ra biển thành những núi băng trôi lớn hay nhỏ. Năm 1912, tàu Titanic đã đụng phải một trong các núi băng này.
Toàn bộ thị trấn và khu định cư ở Greenland nằm dọc theo bờ biển không bị băng bao phủ, dân số tập trung ở bờ biển phía tây. Vùng phía đông bắc Greenland, gồm các khu vực Bắc Greenland và Đông Greenland, không phải là một phần của bất cứ khu vực tự trị nào, đây là nơi có vườn quốc gia lớn nhất thế giới, Vườn quốc gia đông bắc Greenland. Xem Các vùng của Greenland.
Ít nhất có bốn trạm và trại thám hiểm khoa học ở phần trung tâm bị băng bao phủ của Greenland (được thể hiện bằng màu xanh nhạt trên bản đồ bên phải) là: Eismitte, Băng Bắc, Trại Bắc GRIP, Raven Skiway. Hiện nay, có một trạm thường trú cả năm là Summit Camp, được thành lập năm 1989. Đài phát thanh Jørgen Brøndlund Fjord cho tới tận năm 1950, là trạm xa nhất về phía cực bắc trên thế giới.

Vùng xa nhất phía bắc Greenland là Peary Land, nơi đây không bị băng bao phủ bởi vì không khí quá khô để tuyết, yếu tố chủ chốt để hình thành và duy trì các phiến băng, xuất hiện. Nếu phiến băng Greenland tan chảy hoàn toàn, mực nước biển sẽ tăng thêm hơn 7 m (23 feet)[30] và Greenland có lẽ sẽ trở thành một quần đảo.
Trong khoảng 1989 và 1993, các nhà nghiên cứu khí hậu Hoa Kỳ và châu Âu đã khoan vào đỉnh phiến băng Greenland, thu được hai lõi băng dài hai dặm (3.2 km). Phân tích các lớp và thành phần lõi băng cho thấy đã có một sự thay đổi khí hậu lớn ở Bắc Bán Cầu từ khoảng 100.000 năm trước chứng minh rằng thời tiết và khí hậu Trái Đất đã thay đổi nhanh chóng từ trạng thái có vẻ rất ổn định tới một trạng thái khác hẳn, gây ra những hậu quả trên khắp thế giới[cần dẫn nguồn]. Các băng hà Greenland cũng góp phần làm tăng mực nước biển nhanh chóng hơn so với điều chúng ta từng tin tưởng trước đây.[31]
Tháng 2 năm 2006 các nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng các băng hà ở Greenland đang tan ra với tốc độ nhanh gấp hai lần so với năm năm trước đây. Năm 2005, lượng băng tan hàng năm được ước tính khoảng 216 km³/năm (52 dặm khối mỗi năm), theo các tính toán hấp dẫn vệ tinh. Trong khoảng 1991 và 2006, việc kiểm tra thời tiết tại một địa điểm (Trại Thuỵ Sĩ) đã thấy rằng nhiệt độ trung bình mùa đông đã tăng gần 10 độ fahrenheit[cần dẫn nguồn].
Năm 2020, theo nghiên cứu mới nhất được NASA công bố thì ẩn mình dưới lớp băng dày ở Greenland có tới 56 hồ nước ngầm.[32]
Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]
Greenland thuộc khu vực khí hậu Bắc cực. Nhiệt độ trung bình của tháng nóng nhất trong năm không vượt quá +10 °C. Có sự cách biệt về khí hậu giữa miền Bắc và miền Nam, và giữa các vùng bờ biển với vùng sâu trong nội địa. Biển khơi cũng tác động tới khí hậu, làm cho không khí mùa hè mát hơn, trong khi mùa đông lại ấm hơn. Bởi vậy, ở dọc bờ biển phía Nam thì mùa đông ấm hơn và mùa hè mát hơn, trong khi ở dọc bờ biển phía Bắc thì mùa hè mát và mùa đông lạnh.
Nếu so sánh nhiệt độ ở Sisimiut nằm ở bờ biển, với nhiệt độ ở Kangerlussuaq nằm trong đất liền cách bờ biển 150 km, ở cùng một vĩ độ, thì có sự chênh lệch khá lớn. Vào tháng 1 năm 2003, nhiệt độ trung bình ở Sisimiut là -7,2 °C, ở Kangerlussuaq là -12,4 °C. Vào tháng 7 năm 2003, nhiệt độ trung bình ở Sisimiut là +7,1 °C, ở Kangerlussuaq là +11,4 °C.
Lượng nước mưa và tuyết rơi cũng rất khác biệt. Ở miền Nam, lượng mưa rơi hàng năm từ khoảng 800 mm tới 1.400 mm. Xa hơn về phía Bắc và sâu vào nội địa thì lượng mưa giảm đáng kể. Ở các vùng này, lượng mưa hàng năm dưới 200 mm, trong khi ở một vài nơi cá biệt như Peary Land thì lượng mưa không đáng kể, và khu vực đó có thể được gọi là sa mạc Bắc cực.
Độ dài của ngày cũng khác nhau trên nhiều địa phương, tùy theo mùa. Nanortalik ở miền Nam và Nuuk ở miền Trung, nằm ở phía nam của Vòng cực (polar circle), không có Ban ngày vùng cực (midnight sun) và Ban đêm vùng cực (polar night). Càng lên xa hơn về phía Bắc thì có 2 thời kỳ. Ở Ilulissat, phía bắc của Vòng Bắc Cực, có thời gian khoảng 2 tháng có Mặt trời nửa đêm, ở Upernavik có 3 tháng và ở Qaanaaq có Mặt Trời nửa đêm gần 4 tháng
Chính trị
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Chính trị GreenlandChính phủ Greenland là chính quyền tự trị địa phương của Greenland, gồm thủ tướng Greenland là người đứng đầu chính phủ và Nghị viện Greenland là cơ quan lập pháp đơn viện, gồm 31 nghị sĩ.[33]
Quân chủ Đan Mạch là nguyên thủ quốc gia của Greenland, hiện tại là Frederik X. Cao ủy Greenland là đại diện của quân chủ và Chính phủ Đan Mạch tại Greenland, do quân chủ bổ nhiệm. Cao ủy đương nhiệm là Julie Præst Wilchem. Greenland bầu hai nghị sĩ vào Quốc hội Đan Mạch. Hai nghị sĩ đương nhiệm là Aki-Matilda Høegh-Dam thuộc Đảng Naleraq và Aaja Chemnitz Larsen thuộc Đảng Cộng đồng Inuit.[34]
Năm 1985, Greenland rời khỏi Cộng đồng Kinh tế châu Âu. Greenland được phân loại là một lãnh thổ hải ngoại nên không được coi là một phần của Liên minh châu Âu,[35] nhưng Greenland được nhận hỗ trợ từ Quỹ Phát triển châu Âu, Khung Tài chính đa năm, Ngân hàng Đầu tư châu Âu và các chương trình của Liên minh châu Âu. Luật pháp Liên minh châu Âu phần lớn không được áp dụng tại Greenland, ngoại trừ trong lĩnh vực thương mại.[36]
Phân cấp hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]
Về mặt hành chính, Greenland được chia thành năm khu vực. Các khu vực này được tự trị ngay từ năm 1975, trước khi Greenland được tự trị, và hợp thành Hiệp hội kommune (tiếng Grenland: Kalaallit Nunaanni Kommuneqarfiit Katuffiat, viết tắt là KANUKOKA)
Các khu vực không chia thành kommune gồm có:
- Vườn quốc gia Greenland, rộng khoảng 972.000 km², bao gồm toàn bộ miền Đông Bắc
- Đảo Franklin, đảo ở giữa của 3 đảo nằm trong Kênh Kennedy, giữa Greenland và Đảo Ellesmere
- Đảo Crosier, đảo cực nam trong 3 đảo nằm trong Kênh Kennedy
- Đảo Inuit Qeqertaat (tiếng Đan Mạch: Kaffeklubben)
- Đất của Eirik Raude, nay là Đất của vua Christian X
- Căn cứ không quân Thule của Hoa Kỳ ở Pituffik
- Peary Land
- Ikerasassuaq, phía đông Cap Farewell
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Kinh tế GreenlandYếu tố quan trọng nhất trong nền kinh tế Greenland là viện trợ tài chính từ Đan Mạch, chủ yếu dưới hình thức bloktilskud (trợ cấp trọn gói). Vào năm 2024, khoản bloktilskud này trị giá 4,3 tỷ kr, chiếm một phần ba doanh thu công.[37] Ngoài ra, nhà nước Đan Mạch còn chi trả các khoản phí cho tư pháp và quốc phòng, tổng cộng ước tính lên tới hơn 1 tỷ kr.[38] Trong giai đoạn từ năm 2019 đến 2023, viện trợ tài chính của Đan Mạch cho Greenland trung bình đạt Bản mẫu:DKK (724 triệu €) mỗi năm, chiếm hơn 20% GDP của lãnh thổ này,[39] tăng so với mức 3,6 tỷ kr vào năm 2009.[40]
GDP của Greenland năm 2023 đạt 22,9 tỷ DKK, và GDP bình quân đầu người là 405.000 DKK, tương đương với các nền kinh tế trung bình tại châu Âu.[41] Nền kinh tế đã hoạt động tốt vào đầu những năm 2020, bất chấp đại dịch COVID-19, khủng hoảng năng lượng cũng như tình hình chiến tranh tại châu Âu. Những điều kiện kinh tế thuận lợi này là kết quả của môi trường tốt cho công nghiệp và sự đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng.[42]

Nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động đánh bắt cá. Ngành này chiếm hơn 90% kim ngạch xuất khẩu.[43] Công nghiệp chế biến tôm và cá là nguồn thu nhập lớn nhất.[44] Việc đánh bắt tôm được quản lý theo hạn ngạch dựa trên đánh giá của Viện Tài nguyên Thiên nhiên Greenland (Pinngortitaleriffik) về mức độ đánh bắt bền vững về mặt sinh học. Greenland rất dồi dào khoáng sản,[43] nhưng việc khai thác còn hạn chế. Một công ty nhà nước, Nunaoil, đã được thành lập để hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp hydrocacbon. Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 2021, Greenland đã cấm mọi hoạt động thăm dò dầu khí mới trên lãnh thổ sau khi các quan chức chính phủ cho rằng "cái giá môi trường của việc khai thác dầu khí là quá cao".[45]
Theo truyền thống, nguồn điện chủ yếu được cung cấp bởi các nhà máy chạy dầu hoặc diesel, bất chấp tiềm năng thủy điện tại đây là rất lớn. Đang có một chương trình xây dựng các nhà máy thủy điện. Nhà máy đầu tiên và lớn nhất là nhà máy thủy điện Buksefjord. Hiện có các kế hoạch xây dựng một lò luyện nhôm quy mô lớn, tận dụng nguồn thủy điện để sản xuất hàng xuất khẩu. Dự kiến phần lớn nhân lực phục vụ dự án này sẽ được huy động từ nước ngoài.[46]
Khu vực công, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước và chính quyền các địa phương, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Khoảng một nửa nguồn thu ngân sách bắt nguồn từ các khoản tài trợ của chính phủ Đan Mạch, đóng góp một phần quan trọng vào GDP Năm 2022, khu vực công Greenland ghi nhận mức chi 12,8 tỷ DKK, so với mức thu là 13,5 tỷ DKK.[41]
Greenland đã trải qua một đợt suy giảm kinh tế vào đầu những năm 1990. Từ năm 1993, nền kinh tế đã được cải thiện. Chính phủ Tự trị Greenland (GHRG) đã theo đuổi chính sách tài khóa thắt chặt từ cuối những năm 1980, giúp tạo ra thặng dư ngân sách công và mức lạm phát thấp. Kể từ năm 1990, Greenland đã ghi nhận thâm hụt thương mại nước ngoài sau khi mỏ chì và kẽm cuối cùng của hòn đảo đóng cửa vào năm đó.
Giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]Hầu như không thành phố và thôn làng nào có hệ thống đường sá nối với nhau, nên phương tiện chuyên chở duy nhất là máy bay, nhất là máy bay trực thăng, và tàu thủy. Ở một số khu vực là xe do chó kéo và xe scooter đi trên tuyết (tiếng Anh: snowmobile). Các tàu thủy hiện đại nối các thành phố phía Bắc với các thành phố phía Nam. Việc giao thông ở miền Đông chỉ thực hiện bằng máy bay và trực thăng.
Greenland có hải cảng ở 16 thành phố, cầu cập bến cho tàu và tàu đánh cá ở 60 thôn làng. Có 12 phi trường, 5 sân bay trực thăng và 42 trạm trực thăng..
Nhân khẩu
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2025, dân số của Greenland là 56.542 người,[47] trong đó 49.738 người sinh ra tại Greenland, 6.804 người sinh ra ở ngoài Greenland và 19.905 người sinh sống tại Nuuk. Gần như toàn bộ dân số Greenlanders sống dọc theo những fjord về phía tây nam của đảo chính với khí hậu tương đối ôn hòa, đặc biệt là ở vĩ độ cao của Greenland.[48] Hầu hết dân số sinh sống về phía bắc của 64°N với khí hậu ven biển lạnh, trong khi những khu vực có khí hậu ấm áp nhất của Greenland như vùng thực vật xung quanh Narsarsuaq thì thưa dân.
Phần lớn dân ở Greenland là người Inuit. Có một nhóm thiểu số là người châu Âu, khoảng 12%, phần lớn là người Đan Mạch, 90% các người này cư ngụ ở thủ phủ Nuuk và 10% ở các thành phố lớn phía tây khác. Cách đây 140 năm, có một đợt dân nhập cư từ Canada.
Nhiều tên họ Đức như Fleischer, Kleist, Kreutzmann v.v... xuất xứ từ các nhà truyền giáo thuộc giáo phái Moravia. Các người này thường kết hôn với các phụ nữ Inuit hoặc nhận các con nuôi là các trẻ em người Inuit mồ côi.
| 20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất tại Greenlandtính đến ngày 1 tháng 1 năm 2025[41] | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng | Municipality | Dân số | Hạng | Municipality | Dân số | ||||
| 1 | Nuuk | Sermersooq | 19,905 | 11 | Nanortalik | Kujalleq | 1,084 | ||
| 2 | Sisimiut | Qeqqata | 5,485 | 12 | Upernavik | Avannaata | 1,067 | ||
| 3 | Ilulissat | Avannaata | 5,087 | 13 | Qasigiannguit | Qeqertalik | 961 | ||
| 4 | Qaqortoq | Kujalleq | 3,069 | 14 | Qeqertarsuaq | Qeqertalik | 799 | ||
| 5 | Aasiaat | Qeqertalik | 2,992 | 15 | Qaanaaq | Avannaata | 599 | ||
| 6 | Maniitsoq | Qeqqata | 2,519 | 16 | Kangaatsiaq | Qeqertalik | 481 | ||
| 7 | Tasiilaq | Sermersooq | 1,758 | 17 | Kullorsuaq | Avannaata | 444 | ||
| 8 | Uummannaq | Avannaata | 1,401 | 18 | Kangerlussuaq | Qeqqata | 440 | ||
| 9 | Narsaq | Kujalleq | 1,258 | 19 | Ittoqqortoormiit | Sermersooq | 325 | ||
| 10 | Paamiut | Sermersooq | 1,169 | 20 | Kangaamiut | Qeqqata | 295 | ||
Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]Hiện nay Greenland có 86 trường folkeskole (từ lớp 1 tới hết lớp 9) với khoảng 9.000 học sinh theo học. Có 3 trường gymnasium (từ lớp 10 tới hết lớp 12), 1 trường sư phạm và 1 đại học. Cũng có một số sinh viên theo học tại các đại học và cao đẳng ở Đan Mạch.
Ngôn ngữ chính dùng để giảng dạy là tiếng Greenland. Nội các tự trị lãnh trách nhiệm về giáo dục từ năm 1980.
Tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn] Tôn giáo tại Greenland (2010):[49][50]- Tin Lành (95,5%)
- Công giáo (0,20%)
- Hệ phái Kitô giáo khác (0,40%)
- Tôn giáo Inuit (0,80%)
- Thuyết bất khả tri (2,30%)
- Vô thần (0,20%)
- Tôn giáo khác (0,60%)
96,6% người Greenland theo Tin Lành giáo hội Luther.[51] Từ năm 1993, Greenland có một giáo phận độc lập, do một Giám mục cai quản. Cũng có các cộng đoàn nhỏ các tôn giáo khác, như Công giáo, giáo phái Baptist, giáo phái Moravia, chứng nhân Jehova và đạo Bahai, chiếm khoảng 5% dân số.

Ngôn ngữ
[sửa | sửa mã nguồn]Tiếng Greenland là ngôn ngữ chính thức tại hòn đảo này, ngoài ra tiếng Đan Mạch và Tiếng Anh đều là các ngôn ngữ được người dân ở đây sử dụng nhưng chỉ chủ yếu tại các thành phố lớn và thủ đô Nuuk
Văn hoá
[sửa | sửa mã nguồn]
Thể thao
[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm: Đội tuyển bóng đá quốc gia GreenlandBóng đá là môn thể thao quốc gia ở Greenland, nhưng Greenland không phải là một thành viên của FIFA. Các quy định của FIFA bắt buộc rằng các nước thành viên tối thiểu phải có các sân bãi tiêu chuẩn cho các trận đấu quốc tế, sử dụng cỏ tự nhiên. Khí hậu của Greenland không thích hợp để có được mặt cỏ tự nhiên đạt yêu cầu của FIFA. Gần đây FIFA đã thông báo rằng họ sẽ cho phép các đội bóng chơi trên sân FieldTurf, đây có thể là một giải pháp giải quyết vấn đề sân đấu cho Greenland.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Ngôn ngữ Kalaallisut
- Thông tin ở Greenland
- Quá trình thuộc địa hoá của Đan Mạch ở châu Mỹ
- Quan hệ ngoại giao của Greenland
- Lịch sử Đan Mạch
- Danh sách các thị trấn và khu định cư ở Greenland
- Danh sách các ngọn núi ở Greenland
- Quân đội Greenland
- Vận tải ở Greenland
- Đại học Greenland
- Đan Mạch
- Bắc Băng Dương
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Nuna asiilasooq has equal status as a regional anthem but is generally used only in Greenland.[1]
- ^ a b Từ năm 2009.[2][4]
- ^ As of 2000: 410.449 km2 (158.475 dặm vuông Anh) ice-free (18.9%); 1.755.637 km2 (677.855 dặm vuông Anh) ice-covered (81.1%).Density: 0,14/km2 (0,36/sq mi)[chuyển đổi: số không hợp lệ] for ice-free areas.
- ^ tiếng Greenland: Kalaallit Nunaat, phát âm [kalaːɬːitnʉnaːt]; tiếng Đan Mạch: Grønland, phát âm [ˈkʁɶnˌlænˀ]
- ^ Afro-Eurasia, the Americas, Australia, and Antarctica are all larger than Greenland, but they are generally considered continents, not islands.[17]
- ^ Stray Dog West is considered the most northerly competitor claim, although it is generally sunken at high tide.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "03EM/01.25.01-50 Spørgsmål til Landsstyret: Hvornår fremsætter Landsstyret beslutning om Grønlands" [03EM/01.25.01-50 Questions to the Home Rule Government: When does the Home Rule Government make a decision on Greenland]. Government of Greenland. ngày 7 tháng 10 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014.
- ^ a b "Grønland går over til selvstyre" (bằng tiếng danish). TV 2. ngày 21 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
- ^ "Self-rule introduced in Greenland". BBC News. ngày 21 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2010.
- ^ (bằng tiếng Đan Mạch) Lars Løkke Rasmussen (ngày 3 tháng 6 năm 2009). "Lov om Grønlands Selvstyre" (PDF). Christiansborg Slotsplads. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2026.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cia.gov
- ^ "Greenland, Religion and Social Profile | National Profiles | International Data". Thearda.com. ngày 21 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2016.
- ^ "Population increased by 96 in second quarter of 2025". stat.gl. Statistics Greenland. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Greenland in Figures 2025" (PDF). stat.gl. Statistics Greenland. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Population of Greenland". Greenlandic Population as of 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2022.
- ^ Greenland in Figures 2013 (PDF). Statistics Greenland. ISBN 978-87-986787-7-9. ISSN 1602-5709. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013.
- ^ "Greenland | Data". data.worldbank.org. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2021.
- ^ "GDP per capita (Current US$) - Greenland | Data". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2025.
- ^ Hasell, Joe; Arriagada, Pablo; Ortiz-Ospina, Esteban; Roser, Max (2023). "Income inequality: Gini coefficient (before tax)". Economic Inequality. Our World in Data. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2025.
- ^ Insightorium. "Greenland Human Development Reports" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026.
- ^ "Greenland: The world's largest island". Denmark.dk. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2024.
- ^ * Dallen J. Timothy (ngày 6 tháng 11 năm 2020). Tourism in European Microstates and Dependencies: Geopolitics, Scale and Resource Limitations. CABI. tr. 94–. ISBN 978-1-78924-310-9. OCLC 1162434605. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2022. This ....This change in governance also resulted in Greenland becoming an autonomous 'constituent country' in the Danish realm...
- Benedikter, Thomas (ngày 19 tháng 6 năm 2006). "The working autonomies in Europe". Society for Threatened Peoples. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2019. Denmark has established very specific territorial autonomies with its two island territories
- Ackrén, Maria (tháng 11 năm 2017). "Greenland". Autonomy Arrangements in the World. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2019. Faroese and Greenlandic are seen as official regional languages in the self-governing territories belonging to Denmark.
- "Greenland". International Cooperation and Development (bằng tiếng Anh). European Commission. ngày 3 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2019. Greenland [...] is an autonomous territory within the Kingdom of Denmark
- ^ "Joshua Calder's World Island Information". Worldislandinfo.com. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010.
- ^ "Greenland". The World Factbook. CIA. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
- ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/europe/8111292.stm
- ^ Eirik the Red's Saga. Gutenberg.org. ngày 8 tháng 3 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010.
- ^ "How Greenland got its name" Lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012 tại Wayback Machine. The Ancient Standard. 17 December 2010.
- ^ Grove, Jonathan (2009). "The place of Greenland in medieval Icelandic saga narrative". Journal of the North Atlantic. 2: 30–51. doi:10.3721/037.002.s206. S2CID 163032041. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2012.
- ^ Evans, Andrew. "Is Iceland Really Green and Greenland Really Icy?" Lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2017 tại Wayback Machine, National Geographic (30 June 2016).
- ^ Stern, p. 89
- ^ "Maps of Inuit Nunangat (Inuit Regions of Canada)". Inuit Tapiriit Kanatami. ngày 5 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019.
- ^ Thanh Tuấn (ngày 22 tháng 6 năm 2009). "Dân Greenland tiếp quản quyền điều hành". Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010.
- ^ a b Bryant, Miranda (ngày 6 tháng 1 năm 2026). "Why is Donald Trump renewing calls for takeover of Greenland?". The Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2026.
- ^ "Trump threats against Greenland pose new, potentially unprecedented challenge to NATO". The Washington Post. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2026.
- ^ DK Atlas, 2001.
- ^ Lovgren, Stefan (ngày 8 tháng 4 năm 2004). "Greenland Melt May Swamp LA, Other Cities, Study Says". National Geographic News. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010.
- ^ Roach, John (ngày 16 tháng 2 năm 2006). "Greenland Glaciers Losing Ice Much Faster, Study Says". National Geographic. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2006.
- ^ Khám phá phát hiện bí mật dưới lớp băng khổng lồ ở Greenland
- ^ "Inatsisartut" (bằng tiếng Kalaallisut). Inatsisartut.gl. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
- ^ Folketinget – Folketinget.dk Lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2015 tại Wayback Machine. Ft.dk. Retrieved on 21 June 2016.
- ^ "Overseas Countries and Territories (OCT)". European Union. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2020.
- ^ "EU Relations with Greenland". European Union. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2020.
- ^ Winther, Bent (ngày 6 tháng 1 năm 2025). "Selvstændighed? Mette Frederiksen har det stærkeste kort på hånden". Berlingske. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Redegørelse om rigsfællesskabet 2024. Afgivet af statsministeren (Mette Frederiksen) den 28 February 2024. ft.dk" (PDF). Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Pressure on Greenland for more Danish aid, U.S. presence" (bằng tiếng Anh). Financial Mirror. ngày 20 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2026.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hannestad20140324
- ^ a b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :3
- ^ Bjerregaard, Søren (ngày 1 tháng 11 năm 2023). "Mangel på arbejdskraft øger behovet for stram økonomisk politik i Grønland". National Bank of Denmark (bằng tiếng Đan Mạch). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b Walsh, Maurice (ngày 28 tháng 1 năm 2017). "'You can't live in a museum': the battle for Greenland's uranium". The Guardian. ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2017.
- ^ "Greenland". CIA World Factbook. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.
- ^ COHEN, LI (ngày 16 tháng 7 năm 2021). "Greenland halts new oil exploration to combat climate change and focus on sustainable development". CBC. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2021.
- ^ "Greenland's red hot labour market". Nordic Labour Journal. ngày 12 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2013.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :32
- ^ "Greenland". Stalvik.com. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010.
- ^ "Greenland, Religion and Social Profile | National Profiles | International Data". Thearda.com. ngày 21 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2016.
- ^ "Table: Christian Population as Percentages of Total Population by Country | Pew Research Center". ngày 19 tháng 12 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2017.
- ^ Joshua Project. "Joshua Project". Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]| Tìm hiểu thêm vềGreenlandtại các dự án liên quan | |
| Từ điển từ Wiktionary | |
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Tin tức từ Wikinews | |
| Danh ngôn từ Wikiquote | |
| Văn kiện từ Wikisource | |
| Tủ sách giáo khoa từ Wikibooks | |
| Tài nguyên học tập từ Wikiversity | |
- Official government site Lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2006 tại Wayback Machine - Greenland Home Rule
- Greenland Lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2007 tại Wayback Machine - CIA World Factbook
- Statistics Greenland Lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2006 tại Wayback Machine
- Greenland Map Lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine - Hi-Res Map at the Nordic Ministerial Council
- Official Greenland tourism information
- Thông tin quốc gia và các mốc sự kiện trên BBC
- Tin tức liên quan đến Greenland tại Google và Yahoo!
| |||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Quốc gia có chủ quyền |
| ||||||||||
| Bộ phận của quốc gia có chủ quyền |
| ||||||||||
| Lãnh thổ phụ thuộc |
| ||||||||||
| |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Quốc gia có chủ quyền |
| ||||||
| Quốc gia được công nhận hạn chế |
| ||||||
| Lãnh thổ phụ thuộc |
| ||||||
Từ khóa » Greenland Nằm ở đâu
-
Những điều Thú Vị Về Greenland – Nơi Có 80% Diện Tích Là Băng
-
Greenland - Hòn đảo Lớn Nhất Thế Giới Mà ông Trump Muốn Mua Lại ...
-
Greenland Nằm ở đâu?
-
Greenland Nằm ở đâu? Thuộc Châu Lục Nào? Dùng Ngôn Ngữ Gì?
-
Có Gì ở Greenland, Hòn đảo Lớn Nhất Thế Giới TT Trump Muốn Mua Lại?
-
Vùng Greenland, Khí Hậu, Dân Số, Thành Phố, Cờ - DELACHIEVE.COM
-
Greenland - Wikivoyage
-
Những Điều Thú Vị Về Greenland Ở Đâu ? DùNg Ngôn Ngữ Gì ...
-
Greenland: Thiên đường Triệu Phú Hay Hòn đảo ác Mộng?
-
Hòn đảo Lớn Nhất Thế Giới Nằm ở đâu? - Tiền Phong
-
Greenland, Nơi Một Nền Văn Hóa Cổ đại Gặp Gỡ Thế Giới Hiện đại
-
Độc đáo Hòn đảo Băng Tuyết Lớn Nhất Thế Giới Greenland - CAND
-
Khách Sạn ở Greenland