Hải Ngọc's Weblog | Just Another Weblog

Ý tưởng của bài viết dưới đây đã được phác thảo khá lâu. Tôi đã hình dung nó như một đề tài mình muốn theo đuổi như một dự án nghiên cứu cá nhân nhưng thực sự cũng chưa biết bắt đầu như thế nào để có thể vẽ ra một bức tranh lịch sử văn học đáng suy nghĩ.

Nhân cuộc tranh luận về tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh được khơi lại và được sự ủng hộ của Ban biên tập báo Văn nghệ, tôi đã quay lại với đề tài bỏ ngỏ này, coi Bảo Ninh như một xuất phát điểm để từ đó hình thành những suy tư xa hơn. Hy vọng tôi sẽ không sớm bỏ cuộc, như với nhiều đề tài khác.

Vì là phác thảo nên chắc chắn bài viết này có nhiều điểm chưa tới và tôi sẵn sàng đón nhận mọi phê bình với thái độ cầu thị. Tôi nghĩ đấy là điều tôi mong đợi nhiều nhất khi biến những suy nghĩ của mình thành sự viết.

*

1. Trong những tranh luận nổi lên trở lại xung quanh Nỗi buồn chiến tranh, có một câu hỏi trước đó ít được đặt ra: liệu tiểu thuyết này có nên, có đáng được đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông? Câu hỏi ấy khiến tôi nhìn lại các tác phẩm từng và đang hiện diện trong sách giáo khoa để nhận ra một phương diện ít được chú ý trong các cách đọc Nỗi buồn chiến tranh: nó có thể được đọc như một tiểu thuyết về sự trưởng thành (bildungsroman), một ký ức chấn thương về tuổi mới lớn. Và một điều có lẽ một khía cạnh khác cũng ít được những nhà biên soạn sách giáo khoa quan tâm: rất ít các tác phẩm viết về tuổi mới lớn được lựa chọn đưa vào sách Ngữ văn trung học, dù đối tượng của sách giáo khoa chính là các em học sinh ở độ tuổi này.

Bài viết này trước hết sẽ đi từ việc xem xét tuổi mới lớn, tuổi hoa niên từ góc độ văn hóa, theo đó, nó sẽ được nhìn như một kiến tạo diễn ngôn, từ đó, trình bày cách đọc tiểu thuyết của Bảo Ninh từ loại hình tiểu thuyết trưởng thành. Liệu những trải nghiệm của những người lớn lên trong thời chiến còn có điều gì để nói với những cô cậu học trò như mình sau hơn nửa thế kỷ? Trả lời câu hỏi ấy, thiết nghĩ, cũng là trả lời cho câu hỏi Nỗi buồn chiến tranh có đáng, có nên được đưa vào sách giáo khoa hay không?

2. Tuổi hoa niên là một quãng thời gian của đời người. Từ góc độ tâm lý học, nó là một giai đoạn phát triển nhân cách ở con người, sau giai đoạn tuổi thơ và trước ngưỡng trưởng thành, thường được khoanh vùng trong độ tuổi từ 13 đến 18. Đây là giai đoạn mà con người trải qua nhiều thay đổi từ cơ thể, sinh lý (tuổi dậy thì) cho đến nhận thức, cảm xúc, hành vi. Ở phương Tây, tuổi hoa niên được ý thức như một thế hệ, một nhóm xã hội khá muộn. Theo Nguyen Huong, “đến tận giữa thế kỷ XIX, thuật ngữ “tuổi hoa niên” (adolescence) mới bắt đầu được sử dụng, trước tiên là trong lĩnh vực học thuật rồi sau đó mới lan ra diễn ngôn xã hội phổ biến”: “Ở Hoa Kỳ, các học giả cho rằng sự trỗi dậy của tuổi hoa niên như một thế hệ có thể liên đới đến ba nhân tố: quá trình đô thị hóa-công nghiệp hóa, những cải cách giáo dục và ảnh hưởng của tư tưởng học thuật phương Tây.”[1] Stephen Burt đã mở đầu chuyên luận Forms of Youth: 20th Century Poetry and Adolescence bằng việc dẫn lại một thông tin thú vị: Vào tháng 12 năm 1999, một cơ quan có thẩm quyền về ngôn ngữ Anh đã lựa chọn từ “teenager” (đồng nghĩa với từ “tuổi hoa niên” trong tiếng Việt) là từ mới quan trọng nhất của thế kỷ XX và trước đó 40 năm, sử gia Philippe Ariès đã coi tuổi hoa niên như là thế hệ đặc quyền của thế kỷ XX, tương tự như tuổi ấu thơ ở thế kỷ XVIII.” Như là một ý niệm hiện đại, Burt đã hệ thống hóa lại năm nét nghĩa xác định đặc trưng tinh thần của tuổi hoa niên – những nét nghĩa này không phải lúc nào cũng dễ nhượng bộ với nhau: 1- đây là một giai đoạn đặc thù của đời người, bắt đầu khoảng tuổi lên mười và kết thúc ở khoảng cuối 19 đầu 20, trước khi người ta được xã hộ thừa nhận sự trưởng thành và phân biệt với giai đoạn thơ ấu mang tính phụ thuộc và tiền tính dục (presexual); 2- đây là một giai đoạn mới mẻ, hoặc có tầm quan trọng mới mẻ, trong đời sống hiện đại; thế hệ trẻ hôm nay khác với thế hệ trước nhiều hơn là thế hệ trước so với cha anh của mình; 3- thời kỳ này được đặc trưng bởi những hiện tượng tâm lý đặc biệt, trong số đó phải nói tới khuynh hướng tính dục được nâng cao; tinh thần nổi loạn trước các uy quyền; tinh thần nhóm (group-mindedness) hay chủ nghĩa tuân thủ (conformism); sự tập trung vào đời sống bên trong hay bản ngã chân thực; sự thất thường về cảm xúc; sự không kiên định hay thay đổi nhanh chóng các niềm tin và cam kết; sự tự do thoát khỏi những quy tắc và tập tục của người lớn. Mặc dù không tương thích với một số trách nhiệm của người lớn, những hiện tượng này có thể cấu thành nên những phẩm chất; 4- những phẩm chất này có thể giống với những gì được tìm thấy được trong một loại hình, một thể loại nghệ thuật nào đó (thí dụ văn chương hiện đại chủ nghĩa, thơ trữ tình hay nhạc rock); 5- thế hệ trẻ hiện đại xác lập các chuẩn mực từ những ảnh hưởng của nhau hơn là kế thừa thế hệ đi trước hay các thiết chế đã tồn tại từ lâu; họ tạo nên dòng mạch văn hóa của những người cùng thời với mình, hay các văn hóa phụ lưu (subcultures), với những phong cách trong ngôn ngữ, trang phục và cả những hình thức nghệ thuật mới. Theo Burt, chỉ đến thế kỷ XX, ý niệm về tuổi hoa niên như một trạng thái ý thức quan trọng (thậm chí còn lẽ còn được yêu chuộng hơn cả tuổi trưởng thành) mới được thừa nhận rộng rãi đến mức trở thành chủ đề nổi bật của nhiều bài thơ trữ tình viết bằng tiếng Anh và trở thành nhân tố nền móng trong bút pháp của nhiều nhà thơ.[2]

Ở Việt Nam, trong xã hội tiền hiện đại, tuổi hoa niên cũng chưa được nhìn nhận như một ý niệm về thế hệ, một phạm trù văn hóa. Có thể bắt gặp nỗi luyến tiếc thời niên thiếu trong thơ của Nguyễn Trãi chẳng hạn nhưng ngay cả trong trường hợp ấy, tuổi trẻ vẫn chưa được hình dung như một chủ thể. Có lẽ phải đến thế giới truyện truyền kỳ hay truyện thơ Nôm từ thế kỷ XVI trở đi – những thể loại đánh dấu xu hướng thế tục hóa trong văn học trung đại – ta mới nhìn thấy những nhân vật thư sinh hay tiểu thư bước đầu được khắc họa như những tính cách hay những chủ thể ham muốn. Tiêu biểu nhất là Truyện Kiều, tác phẩm miêu tả những cung bậc cảm xúc của Kim Trọng -Thúy Kiều cũng như sự táo bạo của đôi trẻ trong tình yêu. Tuy nhiên, cũng chính bởi sự phong tình táo bạo này, cả hai nhân vật của Nguyễn Du đều vấp phải những cái nhíu mày không thiện cảm từ các nhà đạo đức.

Sẽ không quá lời khi nói rằng tuổi hoa niên được ý thức như một thế hệ có diện mạo riêng về cá tính, tinh thần, tri thức trong bối cảnh thuộc địa của Việt Nam. Có nhiều nhân tố dẫn đến sự thay đổi quan trọng này, trong đó, tôi muốn đặc biệt lưu ý đến sự xuất hiện của nhà trường Pháp ở Đông Dương (nhân vật Kiên và Phương trong Nỗi buồn chiến tranh được miêu tả là học trò của ngôi trường từng được xem là danh giá bậc nhất ở Bắc Kỳ thời thuộc địa – trường Trung học Bảo hộ, hay thường được gọi là trường Bưởi.) Dù không thể phủ định giáo dục trong bối cảnh thuộc địa là một công cụ của chính trị nhưng đó cũng là thiết chế văn hóa mới mẻ, cho phép tuổi trẻ thấm nhuần một số giá trị hiện đại và định hình chính mình bên ngoài những khuôn phép truyền thống, trong đó có sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, cá tính. Nói tới những cô tú, cậu tú ở thời kỳ này là nói tới một lớp người, một nhóm xã hội có sự phục trang cho bản ngã ở nhiều khía cạnh, từ những khía cạnh rất “vật chất” như trang phục, đầu tóc cho đến những hành vi, điệu bộ… – những thứ làm nên cái gọi là “phong cách sống” (life-style) mà tình yêu chính là một biểu hiện của nó.

Một điểm đáng chú ý nữa là trong tiếng Việt, cụm từ “tuổi hoa niên” có nhiều từ đồng nghĩa với nó. Ở mỗi cụm từ này đều hàm ẩn những sắc thái ngữ nghĩa đặc thù: “tuổi mới lớn” là một cách gọi nhấn mạnh vào khía cạnh phát triển nhân cách của lứa tuổi trong khi đó các hoán dụ như “tuổi áo trắng”, “tuổi mực tím”, “tuổi ô mai”… lại gắn liền với nhà trường, với những sự vật, biểu tượng phục trang bản ngã của tuổi học trò. Chiếm một tỉ lệ đáng kể trong số những từ đồng nghĩa này là những kết hợp từ mang sắc thái lý tưởng hóa, thi vị hóa – “tuổi xanh”, “tuổi hồng”, “tuổi ngọc”, “tuổi mộng mơ”, “tuổi trăng rằm”… Nhìn vào đây, có cơ sở để nói “tuổi hoa niên”/ “tuổi mới lớn” là một phát kiến của một thời đại khi chủ nghĩa lãng mạn xâm nhập vào đời sống ý thức của người Việt Nam. Tình yêu thuở hoa niên, theo đó, được kiến tạo thành một mã tinh thần của thế hệ này, gắn liền với “trường học” – không gian ưu ái cho sự nảy nở của thứ tình cảm này.

3. Trong bối cảnh của thời kháng chiến chống Pháp, hình ảnh tuổi hoa niên không thật sự xuất hiện đậm nét trong văn chương nghệ thuật. Ký ức về tuổi hoa niên nhiều khi bị xem là sự rơi rớt của ý thức hệ tiểu tư sản và vì thế cần bị xóa mờ. Chỉ cần một câu như “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” hay “Hà Nội ơi, những ngày thơ ấu trôi qua/ mái trường phượng vĩ dâng hoa/ dáng chiều ủ bóng tiên nga” đã khiến những tác phẩm như “Tây tiến” của Quang Dũng hay “Hướng về Hà Nội” của Hoàng Dương chịu số phận long đong, trở thành những bài thơ, bài hát bị cấm kỵ. Nhưng đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, khi chiến tranh cần huy động một lực lượng lớn thanh niên vừa mới rời khỏi mái trường phổ thông, nhu cầu kiến tạo một hình ảnh thế hệ mới đã cho phép hình ảnh tuổi mới lớn gia nhập vào diễn ngôn của nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa trở thành bối cảnh mới để định dạng tuổi mới lớn với những đặc điểm quan trọng về tính cách, tình cảm, ý thức hệ không tìm thấy trong các diễn ngôn nghệ thuật tiền chiến. Trong văn chương nghệ thuật thời kỳ này, không khó để thấy hình ảnh của những người lính, những cô gái thanh niên xung phong độ tuổi đôi mươi, còn mang vào chiến tranh ít nhiều cá tính, sự trong trẻo, sự tinh nghịch của năm tháng học trò, từ nhiều bài thơ của các nhà thơ trưởng thành trong những năm chống Mỹ, tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đến những trang nhật ký được công bố sau này. Ở những tác phẩm ấy, lớn lên trong thời chiến là một nghi thức trưởng thành loại trừ đi những khủng hoảng hiện sinh – thứ cũng được xem như một trải nghiệm đặc quyền của tuổi mới lớn.

Ở các sáng tác của Bảo Ninh, từ điểm nhìn của thời hậu chiến, những hồi ức về tuổi mới lớn trong những năm tháng chiến tranh cũng hiện lên với một màu sắc lãng mạn, trong sáng, chưa có sự len lỏi của ám ảnh chấn thương, chẳng hạn như truyện ngắn “Giang” – một tác phẩm cũng đang hiện diện trong sách giáo khoa Ngữ văn mới. Nhưng chính những va đập với chiến tranh đã khiến những tự sự về ký ức tuổi mới lớn của Bảo Ninh nhuốm màu sắc bi cảm và bi kịch nhiều hơn. Trong hai truyện ngắn dường như tiếp nối nhau thành một mạch tự sự hậu chiến – “Vô cùng xưa cũ” và “Ngày trở về”, Bảo Ninh sử dụng hình thức người kể chuyện ở ngôi thứ ba như một cách để tách khỏi bản thân, quan sát các nhân vật mang bóng dáng của chính ông, tái hiện lại những ký ức về tuổi mới lớn trong chiến tranh như một trải nghiệm khủng hoảng hiện sinh. “Vô cùng xưa cũ” có nhiều chi tiết tương tự như nỗi buồn chiến tranh: một chàng trai tuổi mới lớn luôn có những ngại ngần trong giao tiếp với người cha, có những mặc cảm về xuất thân của gia đình trong một thời đại mà lý lịch còn là khung quy chiếu nghiêm ngặt nhất để đánh giá giá trị của mỗi cá nhân, có tình cảm với một người bạn gái học cùng lớp – người cũng không được tập thể lớp ưa và cũng mang “vết chàm” về lý lịch như mình. Quyết định nhập ngũ của chàng thanh niên ấy như một quyết định để giải phóng những mặc cảm của bản thân nhiều hơn là vì lý tưởng. Chàng trai ấy, trong “Ngày trở về,” sẽ là nam sinh duy nhất trong lớp cấp ba còn sống sót trong khi các bạn học khác đã hy sinh hết trên chiến trường: sự sống sót ấy, rốt cục, vẫn cứ là một nỗi bùi ngùi, mặc cảm hơn là may mắn.

Nỗi buồn chiến tranh từng được đổi tên thành Thân phận tình yêu và tên gọi này của tiểu thuyết, dù sau đó sẽ không được sử dụng lại nữa, lại gợi ra một chủ đề thường bị chìm đi trong cách những tiếp nhận đa dạng về tiểu thuyết này. Nó là một tự sự về một mối tình thuở hoa niên không trọn vẹn. Mối tình giữa Kiên và Phương, trước hết, cũng là mối tình của đôi bạn học. Nhưng nếu mượn cách phân loại của Burt thì có thể thấy tuổi hoa niên trong văn chương lãng mạn là thứ hoa niên mục đồng còn trong Nỗi buồn chiến tranh, hai nhân vật chính tròn đó là những con người hoa niên nổi loạn. Cả Kiên và Phương đều vênh lệch với khuôn mẫu thanh niên của thời đại mình, đứa thì “đẹp một cách liều lĩnh, nổi trội”, kẻ thì “lầm lì, bướng bỉnh, đầy ương ngạnh” : “Cả hai đứa đều không có bạn, bởi vì bạn bè hầu như bị giạt ra hết. Một thứ tình cảm quá kinh hoàng ở tuổi đó, một tình yêu non trẻ mà như là đã trải qua máu lửa cùng tội lỗi, mà như đã ngậm hờn. Từ lo lắng các thầy cũng phải nổi giận… Dĩ nhiên là ở trường Bưởi muôn thuở hào hoa và bao giờ cũng lãng mạn, chuyện yêu đương ở lớp Chín, lớp Mười chẳng bị coi là sự kinh khủng như ở nhiều trường phổ thông khác, song đến như Kiên và Phương thì thật sự quá đáng. Nhất là khi đang dấy lên bao nhiêu là phong trào, là đợt vận động sôi réo nhiệt tình yêu nước.” Tình yêu của hai nhân vật là sự thách thức gây bất an đối với những khuôn phép của xã hội bởi nó là sự công khai thứ bị buộc phải nén lại, bi quy thành nhược điểm đạo đức: chủ nghĩa cá nhân.

Mối tình hoa niên của Kiên và Phương đã đi xa hơn các tự sự tiền chiến chính là ở khía cạnh nhục cảm. Đặc biệt. sự chủ động trong ham muốn tính dục ấy lại đến từ Phương trong khi đó ở Kiên lại có sự ngập ngừng mà anh muốn dùng cuộc chiến, dùng một nhận thức lý tính để ngăn ham muốn của mình lại, để biến tình yêu thành một nếm trải tinh thần đơn thuần:

“- Kiên sợ phải không? – Phương dịch lại gần – Sợ phải không? Phương cũng sợ… Nhưng vì sợ mà chẳng sợ gì nữa.

– Mình… Kiên thì thầm ấp úng – Mình chẳng sợ ai. Chỉ nghĩ là không nên… Mình đi. Mình có cuộc chiến của mình, còn Phương… Chúng mình mãi mãi có trong nhau là hơn, phải không?”

Ở đây, có thể nói thêm: sự phát hiện những ham muốn tính dục ở những nhân vật mới lớn trong văn xuôi của Bảo Ninh luôn gần với một trạng thái bối rối, tội lỗi. Trong truyện ngắn “Sách cấm”, nhân vật xưng “tôi” của Bảo Ninh đã kể lại nỗi khổ sở đeo đẳng mình ngày mới lớn khi một lần trú bom trong hầm chữ A, một bạn gái không rõ đã buộc phải ép sát cơ thể mình vào “tôi”. Kể từ hôm ấy, nhiều trạng thái tâm sinh lý của một chàng trai dậy thì trỗi dậy, anh ta cảm thấy “rất nhục, rất bẽ” khi bị bạn bè xôn xao bàn tán về mình. Và nỗi khổ sở liên quan đến thể xác ấy chỉ được giải tỏa nhờ những cuốn sách văn chương tiền chiến mà hồi đó bị “cấm” nhưng anh có thể mượn được từ Thủy – một bạn gái mới chuyển vào lớp, gia đình xuất thân tư sản nên bị bạn bè trong lớp ngại tiếp xúc. Nỗi bối rối dậy thì này, trên thực tế, có căn nguyên từ sự lãng quên cơ thể của xã hội thời chiến mà phải đến những năm cuối 80 đầu 90, cơ thể tuổi mới lớn mới được lắng nghe trở lại khi các tờ báo dành cho tuổi học trò bắt đầu đề cập những vấn đề này trong các chuyên mục của mình.

“Hai đứa mình, Kiên ơi… Có thể đến khi chết đi vẫn còn trong trắng… Vậy mà chúng mình yêu nhau biết là ngần nào…” Đó là câu nói của Phương khi nằm sát bên Kiên trên toa tàu chạy vào Vinh, chỉ ít phút trước khi hai người sẽ nếm trải những gì tàn bạo nhất của cuộc chiến, làm đứt gãy mãi mãi mối quan hệ giữa họ. “Sự trong trắng” là một mã khác của tình yêu hoa niên, nơi ham muốn tính dục buộc phải dừng lại ở khao khát chứ không cần phải hiện thực hóa nó. Thế nhưng sự cay đắng đối với cả Kiên và Phương chính là ở chỗ sự trong trắng ấy bị cái phi nhân của chiến tranh chiếm đoạt. Sự lúng túng của Kiên trước Phương sau khi cô bị kẻ không biết mặt cưỡng hiếp chính là một ký ức chấn thương. Kiên muốn quên nhưng trí nhớ không bao giờ buông tha anh: “Mới mười bảy tuổi, ở cái thời của anh, mười bảy người ta biết gì đời. Chẳng biết gì cả. Chẳng hiểu cái gì hết. Chỉ thấy thương, thấy đau hầu như vô cớ và nước mắt cứ tự nhiên ứa ra, rỏng ròng ướt má, mặn chát.” Nỗi đau xót cho cái tuổi chưa biết gì đời nhưng phải nếm trải những gì tàn bạo nhất, phũ phàng nhất của cuộc đời, biết đời tước đi thứ đẹp nhất mà mình có, thứ trong trắng nhất mình có… chính là nỗi buồn chiến tranh, một thứ mà Kiên không thể và cũng không muốn giải phóng.

4. Bảo Ninh không phải là nhà văn đầu tiên tái tạo lại ký ức về tuổi hoa niên thời chiến tranh trong văn học hậu chiến. Từ những năm 1980, văn học và điện ảnh Việt Nam đã có những tự sự về sự lớn lên trong thời chiến với những dự cảm và trải nghiệm về sự phũ phàng, khốc liệt của chiến tranh như “Có một đêm như thế” của Phạm Thị Minh Thư hay bộ phim Truyện cổ tích cho tuổi 17 (đạo diễn Xuân Sơn, kịch bản Trịnh Thanh Nhã). Nhưng có lẽ chỉ đến Nỗi buồn chiến tranh, tự sự về tuổi mới lớn mới thật sự mang dáng dấp của một kinh nghiệm chấn thương. Chấn thương, đối với Kiên, không bắt đầu xảy ra khi anh kinh qua trận mạc, nếm trải những thời khắc mà sinh mệnh và nhân tính của con người bị bom đạn vùi dập như thế nào. Nó đã bắt đầu ở tuổi 17.

Chiến tranh trong tiểu thuyết của Bảo Ninh là một dải phổ: nó không chỉ là những gì diễn ra trên chiến trường, là những dấu mốc lịch sử, nó là một từ trường tinh thần dai dẳng cho phép nhứng sự áp chế được hợp thức hóa. Chiến tranh có thể cấp cho con người ta một mục đích nhất định nhưng hoàn cảnh mà nó tạo ra có thể khiến con người ta phải hy sinh nhiều giá trị khó bù đắp nổi. Chiến tranh có thể được nhân danh để làm nhiều trạng thái tổn thương khác của con người không được ghi nhận, để bức tử nỗi buồn – thứ hiện hình đậm đặc trong những bức tranh mà cha của Kiên vẽ và bị xem như một thứ đáng bị loại bỏ. Con người tuổi trẻ có thể chấp nhận dâng mình cho chiến tranh nhưng con người ấy được quyền đòi hỏi cho việc cất lên tiếng nói công khai cho sự nuổi tiếc hay những chấn thương bị vùi nén. Theo ý nghĩa ấy, cuốn sách của Bảo Ninh lại có nhiều thứ để nói với những người mười bảy tuổi bây giờ, ở chỗ nó làm học trò có thể hiểu người cùng trang lứa với mình trong quá khứ đã sống, đã lựa chọn, đã can đảm và đau buồn như thế nào. Như thế, văn chương thúc đẩy sự nhìn nhận về sự đa dạng, đa chiều của ký ức và chỉ trên cơ sở ấy, sự công bằng của ký ức – nền tảng của sự hòa giải mới trở thành khả thể.

Trần Ngọc Hiếu

Bài đã đăng báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt Nam, số 50, ngày 13-12-2025

[1] Nguyen Huong, From vanguards of revolution to vanguards of consumption: Discourse about adolescence in Vietnam (1975–2005), Luận án Tiến sĩ, University of Chicago, 2010, trang 24-26.

[2] Stephen Burt, Form of Youth: Twentieth-Century Poetry and Adolescence , Columbia University Press, 2007, trang 4.

Từ khóa » Công Ngọc Ngưng Lũng Wordpress