Hạt Giống Làm Nên "mùa Vàng" - Báo Nhân Dân

Ông Nguyễn Văn Thế là một lão nông tri điền của làng Lộc An, huyện Lệ Thủy, nơi được xem là vựa lúa của tỉnh Quảng Bình. Nhiều năm, ông được cử làm chủ nhiệm hợp tác xã (HTX) sản xuất nông nghiệp. Không một mảnh ruộng nào của làng mà ông không từng đo đếm, phân chia cho xã viên. Ở vào thời của ông, giống lúa chủ lực trên đồng ruộng Lộc An vốn quanh năm ngập nước chẳng khác gì vùng Ðồng Tháp Mười trước kia - là su-ven gạo đỏ và cao cây. Giống lúa cao cây - cách gọi tên quá đỗi đơn giản đó xuất phát từ đặc điểm là cây mạ khi nhổ đem đi cấy đã cao ngang đầu người. Cũng theo cách lấy đặc điểm để gọi tên sự vật, địa danh mà những vùng ruộng trũng ngoài đê của làng Lộc An được gọi là Lầy, Hổi, Biền Thượng... ấy là nỗi ám ảnh đối với bất cứ nông dân nào của làng lúc bấy giờ mỗi khi vào vụ gieo cấy. Trời lạnh như cắt da, cắt thịt, nước và bùn ngập tới... bẹn nhưng vẫn phải cong người cắm cây mạ xuống. Nhà nào may mắn thì cây mạ bám vào bùn đất và vươn lên, tỷ như không may thì sau một trận gió đông thổi mạnh, ruộng mạ vừa cấy hôm trước, hôm sau đã nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Lại phải tốn công sức cấy lần thứ hai. Lúc này không khí Tết đã rộn ràng ngõ xóm, đường quê. HTX mổ lợn để phân chia cho xã viên ăn Tết.

Công lao cày cấy mà ông Thế và những nông dân trong làng bỏ ra như vậy nhưng cuối vụ, mỗi ha lúa chỉ thu được vài ba tạ thóc. Nông dân cũng phải bươn chải bằng nhiều nghề khác để sống. Mãi cho đến những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, khi công tác thủy lợi đã được chú trọng, những vùng Lầy, Hổi kia đã được cải tạo để nông dân thuận lợi trong gieo cấy lúa. Và lúc này, không chỉ làng Lộc An mà cả huyện Lệ Thủy và tỉnh Quảng Bình đã sử dụng giống lúa mới thuần Việt là VN20, VN10 trong vụ đông xuân, năng suất lúa từ chỗ vài tạ tăng lên 20 đến 23 tạ/ha là đã cao lắm rồi.

Và ý tưởng gieo thẳng giống lúa xuống ruộng thay cho việc cấy cũng đã được đặt ra. Ông Thế cho biết: Làm ruộng mà không cần dùng mạ cấy, ban đầu người nông dân chưa tin lắm vì họ sợ cùng với cây lúa thì các loại cỏ năn lác cũng mọc lên. Thậm chí, bên cạnh ruộng lúa gieo, có người vẫn đang cấy. Vậy là cán bộ HTX đến từng nhà để vận động xã viên áp dụng cách làm mới và giống lúa mới. Dần dà, cùng với sự thâm canh và chăm cải tạo đồng ruộng, giống lúa VN20 đứng được trên đồng đất Lệ Thủy nói riêng, Quảng Bình nói chung và trở thành giống chủ lực bởi hợp với cách làm của người nông dân, gạo ăn ngon, giá bán trên thị trường khá ổn định và khả năng bảo quản được lâu.

Vậy nhưng, sau một phần tư thế kỷ gắn bó với người nông dân Quảng Bình, giống lúa VN20 đã bước vào giai đoạn thoái hóa, khả năng chống chịu sâu, bệnh và năng suất giảm hẳn, cây lại đổ nhiều sau mỗi trận mưa gió lớn. Dường như số phận của một giống lúa thuần Việt sau rất nhiều năm giúp người nông dân thuộc thế hệ của ông Thế ăn no mặc đủ sắp đi đến hồi kết. Khi con cái trưởng thành và không ai trong số bốn người con của ông nối nghiệp bố, ông Thế đã bỏ hẳn ruộng đồng trở lại với nghề thợ mộc vốn có danh tiếng. Thế nhưng trong tâm khảm của ông, quãng đời xã viên và những ngày gánh vác trách nhiệm của người đứng đầu HTX vẫn đáng nhớ nhất, sức trẻ mà ông và nhiều nông dân trong làng đổ ra trên cánh đồng thẳng cánh cò bay kia vẫn còn hiện hữu trên từng thửa ruộng, bờ đê.

Sau thế hệ nông dân như ông Thế, lãnh đạo xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đã trăn trở với việc chuyển đổi bộ giống để nâng cao năng suất và sản lượng lúa. Qua thực nghiệm trên đồng ruộng, các giống lúa dòng X đạt năng suất cao và được người nông dân trong tỉnh hồ hởi đón nhận. Tới vụ đông xuân năm 2005-2006, lần đầu hơn 50% số diện tích lúa của tỉnh Quảng Bình được thay thế bằng các giống lúa chất lượng cao như X23, Xi21, X30 và lúa lai. Năng suất bình quân đạt 58,4 tạ/ha, cao hơn các vụ trước, cá biệt có xã đạt hơn 63 tạ/ha, riêng lúa lai là 70 tạ/ha. Năm 2010, do ảnh hưởng của thiên tai, cho nên năng suất hai vụ lúa của tỉnh Quảng Bình có giảm nhưng nhìn chung sự sụt giảm về sản lượng lương thực cả năm không lớn.

Ông Thế nghiệm ra rằng, làm ruộng bây giờ không mấy ai tự làm ra giống rồi cất giữ như trước đây. Khi bước vào vụ sản xuất, HTX cho xã viên đăng ký số lượng các loại giống cần thiết, rồi hợp đồng với Công ty cổ phần Giống cây trồng tỉnh Quảng Bình cung ứng các giống lúa kỹ thuật được xử lý theo quy trình công nghiệp, độ nảy mầm cao. Ngay cả kỹ thuật gieo bây giờ cũng khác. Thời ông, nông dân quan niệm gieo dày để tránh cỏ khỏi mọc mà cỏ đâu chưa thấy nhưng khi cây lúa lớn lên và bắt đầu chín thì bông li ti và hạt nhỏ. Còn nay, nông dân chỉ cần gieo 5,5 hoặc 6 kg/sào là đủ.

Ðưa chuyện ông Thế tâm sự hỏi lại kỹ sư Nguyễn Xuân Kỳ, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Giống cây trồng Quảng Bình, chúng tôi nhận được ở anh sự đồng thuận. Anh cho biết thêm, tập quán sử dụng giống lúa của bà con nông dân Quảng Bình đã thay đổi. Nếu sau ngày tỉnh Quảng Bình trở lại địa giới cũ (năm 1998), công ty cung ứng khoảng 20 đến 30 tấn lúa giống mỗi năm thì nay con số ấy đã tăng lên 3.500 tấn. Sản phẩm giống lúa của công ty bây giờ đã gắn bó mật thiết hơn với bà con nông dân trong và ngoài tỉnh.

Trong ba năm qua, diện tích gieo cấy lúa ở tỉnh Quảng Bình không tăng, nhưng sản lượng tăng đều hằng năm, chứng tỏ năng suất đã có sự chuyển biến tích cực. Trong đó phải nói đến vùng lúa thâm canh cao sản với diện tích gần 30 nghìn ha, chiếm 60% tổng diện tích gieo cấy. Năng suất của vùng thâm canh cao hơn năng suất chung của lúa đại trà khoảng 6 tạ/ha. Tổng lượng giống kỹ thuật (lúa lai, lúa chất lượng cao và các lúa giống từ xác nhận I trở lên) sử dụng trong vùng thâm canh hơn 2.900 tấn.

Bây giờ, tỉnh Quảng Bình đã xác định được bộ giống mới trong sản xuất vụ đông xuân: X21, Xi23, NX30, IR 353-66, P6, HT1, các giống lúa lai Nhị ưu 838, KD18, nếp IJ352; vụ hè thu là các giống IR 504-04, AYT77, HT1... Như vậy, tỷ lệ giống mới đưa vào sản xuất trên địa bàn tỉnh hiện nay chiếm hơn 90% tổng diện tích vụ đông xuân và hơn 80% diện tích vụ hè thu.

Theo kỹ sư Nguyễn Xuân Kỳ, trăn trở lớn nhất của công ty là làm sao để bên cạnh việc tăng năng suất thì giá trị hạt gạo của các giống lúa mới cũng phải được khẳng định. Nói cách khác, tăng năng suất nhưng giá trị sản phẩm không thay đổi thì chưa phải là biện pháp tối ưu trong sản xuất ở vào thời điểm này. Các giống X21, Xi23 rõ ràng năng suất cao, kháng sâu, bệnh tốt, nhưng giá bán trên thị trường chưa cao, gạo chưa phải là ngon. Vậy phải tính chuyện làm sao để tăng giá trị cho gạo.

Thế hệ nông dân Quảng Bình như ông Thế bây giờ đã có cái nhìn khác hơn về vai trò của bộ giống trong sản xuất. Ông Thế cho rằng, từ khi có nhà máy tuyển chọn giống, nông dân quê ông không còn phải tất tả, khó nhọc chọn lựa, hong phơi hạt lúa cất làm giống mà không phải mùa nào mộng cũng ra đều. Còn dưới góc độ chuyên môn, theo anh Kỳ thì quá trình thâm canh tăng năng suất đối với cây lúa không thể tách rời vai trò quan trọng của hạt giống. Chính hạt giống đã làm nên những 'mùa vàng' ở Quảng Bình hôm nay.

Hương Giang

Từ khóa » Hạt Giống Cao Sản Là Gì