Hệ Phái Khất Sĩ Bắc Tông Việt Nam
Có thể bạn quan tâm
Tác giả bài viết: ĐĐ. THÍCH NGUYÊN THẾ
TÓM TẮT
Hệ phái Khất sĩ Bắc tông Việt Nam ra đời vào năm 1954 tại Sài Gòn, tổng đàn của hệ phái là Tổ đình Linh Quang tịnh xá quận 4. Hiện tại Tăng trưởng của hệ phái là Hòa thượng Thích Từ Giang. Bài viết này nhằm giới thiệu khái lược về quá trình hình thành, phát triển của một hệ phái Phật giáo ra đời đã ra đời trong thập niên 40 của thế kỷ XX và vẫn đang tồn tại và tiếp tục đóng góp cho ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Từ khóa: Khất sĩ Bắc tông, Linh Quang Tịnh xá.
** *
Dẫn nhập
Hệ phái Khất sĩ Bắc tông Việt Nam còn được biết đến với các tên gọi khác nhau như: Khất sĩ Đại thừa, Khất sĩ đại sư Huệ Nhựt. Tổ chức Phật giáo Khất sĩ này do Đại sư Huệ Nhựt (1903 – 1950) khai sáng vào năm 1945. Cơ sở đầu tiên là chùa Linh Bửu (Cầu Hang – Gò Vấp) nay đã không còn. Đại sư Huệ Nhựt tục danh là Hồ Cang, vốn xuất thân từ tổ đình Linh Sơn Tiên Thạch (Núi Bà Đen – Tây Ninh), nối truyền dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán (Tế Thượng Chánh Tông) đời thứ 45, được hòa thượng bổn sư Nguyên Cơ – Giác Phú ban pháp hiệu là Quảng Thạnh – Huệ Nhựt. Sau khi, hòa thượng bổn sư viên tịch, Đại sư Huệ Nhựt trở về lại Sài Gòn, lấy nền nhà cũ là nơi tu niệm. Năm 1938, nhận thấy được sự biến thiên của thời cuộc, đạo pháp suy vi, những giá trị chân chánh của Phật giáo ngày càng bị lãng quên, Đại sư đã quyết định thực hành hạnh đầu đà khất sĩ, sáng lập hệ phái mới, lấy tên gọi là: “Khất sĩ Bắc tông Việt Nam”. Phương châm hành đạo là: “Ngọn đèn không tim tỏa sáng nhà Phật giáo truyền”, xiển dương ngọn cờ “Thích Ca chánh tông” và đặt tên cho tịnh thất của mình là Linh Bửu Tự. Tài liệu chính yếu được đại sư trước tác là quyển “Pháp môn Đáo bỉ ngạn” đã ấn hành và phổ biến vào năm 1945, trong khi ngài đang trụ trì và hành đạo tại chùa Vạn Thọ (phường Tân Định, quận 1).
Trong giai đoạn trước năm 1975, tại đô thành Sài Gòn, có rất nhiều đoàn thể Khất sĩ khác nhau du hóa và hành đạo. Ngoài đoàn Khất sĩ Đại sư Huệ Nhựt (1945) còn có các tổ chức: Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam của tổ sư Minh Đăng Quang (1947), Liên tông Tịnh độ non bồng của ngài Thiện Phước – Mẫu Trầu (1957), Khất sĩ Sơn Lâm (1960), Giáo đoàn Khất sĩ Ca Diếp – Kasyapa (1972), nhóm khất sĩ thuộc Giáo hội Tịnh Độ tông Việt Nam (1955), Khất sĩ tu tịnh của ngài Từ Huệ (1952) và Giác Bảo (1954), v.v…Như vậy, có nhiều tổ chức Phật giáo mang hình thức Khất sĩ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX. Tuy có tương đồng về phương diện hình thức nhưng vẫn có những sự khác biệt cơ bản về mặt tư tưởng và phương thức hành trì.
1. Một số nét đặc thù của hệ phái Khất sĩ bắc tông Việt Nam
Pháp môn và tông chỉ
Sau khi Đại sư Huệ Nhựt “liễu đạo”, Ngài đã công bố điều đó qua những câu nói được ghi lại trong quyển “Pháp môn Đáo bỉ ngạn” như sau: “Bần Tăng vừa tỉnh giấc chiêm bao” hay “Phật pháp ra đời ngày rằm tháng 7 năm Ất Dậu” trong phần “Tiểu tựa” và “Tế thượng chánh tông”. Từ đó, Ngài khẳng định “Ngôi Tam bảo của ta có đủ sẵn sàng không thiếu vật chi, ta cần gì tầm kiếm nữa.”. Từ đó, thành lập tăng đoàn, hệ phái: “Khất sĩ Bắc tông Việt Nam” lấy phương châm là “Ngọn đèn không tim tỏa sáng nhà Phật giáo truyền” và “Thích Ca chánh tông” làm mục đích hoằng pháp. Sau đó, Ngài đã tùy thuận trước tác quyển Pháp môn Đáo bỉ ngạn để làm phương tiện chỉ dạy đệ tử, đồ chúng những cách thức tu tập và sinh hoạt hàng ngày. Như trong phần “Tiểu tựa”, Đại sư đã nhắc nhở như sau:
“Bởi cớ ấy nên Bần tăng soạn làm một bài tựa là “Pháp môn Đáo Bỉ Ngạn” theo điệu văn vần phổ thông và vắn tắt sơ lược, vì có một vài câu bỉ thô gay gắt nên e có người dị nghị… Tôi nghe Phật nói: “Vô quái ngại, vô quái ngại…” Nên tôi làm lời tựa này mà khuyên thập phương bổn đạo, thiện nam tín nữ, y theo pháp môn này, mà tự tu, tự độ lấy mình, liên rõ đặng tà chánh và chí tâm niệm Phật ngày đêm chẳng quên, tự nhiên hết khổ não hết lo sợ, hết loạn tâm và các điều tai nạn tật bịnh, sanh tử liền hết chẳng sai..”.1
Và ở một đoạn khác Đại sư khẳng định lại:
“Huệ Nhựt: Ta có một lời cảnh cáo trước với hết thảy ai là người muốn tầm ta mà học hỏi đạo. Ta xin trả lời trước rằng: Ta thật không biết đạo chi cả. Nếu muốn biết Đạo thì cứ đọc tụng kinh Phật đó sẽ biết. Ta chỉ khuyên người niệm Phật một câu Nam mô A Di Đà Phật mà thôi…”.2
Pháp môn Đáo bỉ ngạn được viết theo lối văn vần, văn xuôi, có khi lại dùng các lối thơ cổ Đường luật (tứ tuyệt, ngũ ngôn), lục bát với lời lẽ bình dân, gãy gọn, mộc mạc. Bên cạnh đó, phần nghi lễ và dẫn giải về tư tưởng Thiền học, Đại sư vẫn theo truyền thống của Bắc Tông mà sử dụng âm Hán – Việt. Tập sách Pháp môn đáo bỉ ngạn có 42 bài viết ngắn gọn súc tích gồm: (1). Chơn ngôn, (2). Tế thượng chánh tông, (3). Phép trừ tà đạo hóa nhơn tâm, (4). Tỉnh hồn, (5). Giúp tà quy chánh kiến, (6). Mê giác yếu ngôn, (7). Mê giác cần phải nhớ, (8). Độ tận nhân ngã tướng kiến tánh thành Phật, (9). Vô nhơn ngã tướng, (10). Tịnh độ yếu lý, (11). Yếu ngôn, (12). Niệm Phật cần phải biết, (13). Nói về phép Niệm Phật tam-muội và lý Thiền định, Tịnh độ, (14). Tự luận giải, (15). Pháp ấn tâm thế nào, (16). Sao gọi là Như Lai, (17). Lý đạo, (18). Chơn giả không thật, (19). Tự giác giác tha, (20). Vài điều chánh ngữ, (21). Minh tâm kiến tánh pháp, (22). Đức Di-lặc, (23). Giới định tuệ, (24). Bài tụng vô tướng, (25). Ngũ giới cấm, (26). Vô vi pháp, (27). Tâm yếu, (28). Sám tâm kinh, (29). Sám hối, (30). Lời cần yếu, (31). Cách tụng niệm mỗi ngày, (32). Phép tắc tụng kinh, (33). Phép tắc trì chú Chuẩn Đề, (34). Lời khuyên nhủ, (35). Phép tắc niệm hương, (36). Phép tắc thiền định, (37). Nam mô A Di Đà Phật, (38). Phép tắc tọa thiền niệm Phật, (39). Ngũ giới hương, (40). Kệ văn, (41). Phép tắc thường dùng, (42). Sám ca cầu hồn.
Nội dung quyển Pháp môn Đáo bỉ ngạn không đề cập đến việc Đại sư tuyên bố lập phái hay xiển dương hoặc chỉ trích bất cứ một pháp môn, truyền thống nào; cũng không quy định cụ thể những phép tắc dành cho chúng xuất gia: thọ giới, y bát, xây dựng hệ thống tổ chức, phát triển cơ sở, v.v… Quyển Pháp môn Đáo bỉ ngạn là một tập hợp các bài học, tư tưởng phổ biến của Phật giáo Bắc tông. Sự dung hợp đầy đủ các pháp học tổng hợp từ Thiền, Tịnh, Mật và Luật tông (Tì-ni nhật dụng), không có sự phân biệt giữa các truyền thống. Đại sư đã Huệ Nhựt không câu nệ bởi pháp môn, không xu hướng văn tự cao siêu mà đơn giản mộc mạc hoằng dương lời Phật dạy, theo cách gọi của Ngài là: “Ngọn đèn không tim nhà Phật giáo truyền – Thích Ca chánh tông”.
Hệ thống tổ chức và chức sắc, tín đồ
Đối với đoàn Khất sĩ Bắc tông của Đại sư Huệ Nhựt việc quy định cụ thể về mặt số lượng, quy mô, hình thức chưa được cụ thể hóa. Từ khi Đại sư về chùa Vạn Thọ (Quận 1) và bắt đầu thâu nhận đệ tử (1945) cho đến khi thọ nạn (1950) là một khoảng thời gian ngắn, số lượng đệ tử được ghi nhận là 11 vị Tăng và 10 vị Ni. Đại sư với vai trò vừa là Bổn sư, vừa là Tăng trưởng. Việc Đại sư viên tịch quá sớm, hàng đệ tử chưa được trao truyền đầy đủ tất cả tư tưởng và kế thừa một tổ chức chính danh là một điều thiệt thòi lớn đối với hệ phái Khất sĩ Bắc tông. Sự truyền thừa vẫn căn bản là phương pháp “Gia giáo” truyền thống, thầy dạy trò và học hỏi thêm từ sự gần gũi, “thân giáo” khi Đại sư còn sinh tiền. Như vậy, về mặt tổ chức trong và ngay sau khi Đại sư Huệ Nhựt qua đời, đoàn Khất sĩ Đại thừa vẫn chưa hình thành một hệ thống tổ chức cụ thể mà chỉ theo lối truyền thống sơn môn, pháp phái quy tụ một nhóm các vị tu sĩ (Tỳ kheo) trong tông môn cùng nhau tu học theo kiểu “thầy truyền trò” xiển dương chủ thuyết và tự tu tập theo con đường mà vị Thầy khai sáng của mình đã vạch ra, cụ thể ở đây là Đại sư Huệ Nhựt và quyển Pháp môn Đáo bỉ ngạn.
Sau khi Đại sư lâm nạn, Tăng đoàn Khất sĩ Bắc tông như thuyền không người lái, thế hệ kế thừa chưa đủ mạnh và phải di chuyển về một địa bàn hoạt động mới (Vũng Tàu); điều kiện sinh hoạt và hoằng pháp không mấy thuận lợi. Sau năm 1954, Hòa thượng Phổ Ứng với vai trò là Tăng trưởng mới đã hướng dẫn giáo đoàn trở lại Sài Gòn, bắt đầu xây dựng trụ sở chính là Tổ đình Linh Quang tịnh xá – tổng đàn của chư tăng thuộc Phật giáo Khất sĩ Đại thừa. Kể từ khi ngôi tổ đình được hoàn thiện đã trải qua 3 đời trụ trì là Hòa thượng Phổ Ứng, Hòa thượng Từ Giang và hiện tại là Thượng tọa Phong Nhã – Minh Huệ. Việc điều hành tổ chức vẫn y theo truyền thống với sinh hoạt kiểu sơn môn, tổ đình. Sự liên lạc gắn kết giữa các cơ sở trong tông môn rất giới hạn. Bên cạnh đó, tổ đình cũng chỉ công nhận và chịu trách nhiệm 5 cơ sở chính, trực thuộc quản lý và được xem là chi nhánh của tổ đình.
Về mặt số lượng Tăng – Ni: Theo thống kê của Thượng tọa Thích Phong Nhã – Minh Huệ đương nhiệm trụ trì của Tổ đình Linh Quang tịnh xá trong thời điểm hiện tại thì có 50 vị (Tỳ kheo + Sa di: 34 vị, Ni: 16 vị) và 6 cơ sở chính trực thuộc (được công nhận và do Hòa thượng Từ Giang khai sơn) của Khất sĩ Bắc tông. Do tình hình sinh hoạt đặc thù của tông phái này, các vị Tăng – Ni xuất chúng vì bất kì lý do gì, nghĩa là không còn chung sống, sinh hoạt chung với tổ đình, sẽ không được công nhận là thành viên của tông môn, dù cho vẫn duy trì các hình thức sinh hoạt như trước.
Phương thức sinh hoạt
Việc xuất gia, thọ giới của chư Tăng Khất sĩ Bắc tông không có tiền lệ lập đàn giới riêng như hệ phái Khất sĩ của Tổ sư Minh Đăng Quang hay hệ phái Phật giáo nguyên thủy. Giới pháp của một vị Khất sĩ Bắc tông hoàn toàn đồng nhất với Tăng sĩ hệ phái Bắc tông. Việc cho xuất gia độ chúng Ni có từ thời Đại sư Huệ Nhựt và hòa thượng Phổ Ứng kế thừa. Ban đầu khi tăng đoàn vừa thành lập, chưa có cơ sở chính nên Đại sư chủ trương Tăng – Ni sống chung tu tập, để hỗ trợ nhau trên bước đường du hóa rày đây mai đó.
Y và Bát là hai pháp khí không thể tách rời tu sĩ đệ tử Phật. Nó gắn liền với đời sống sinh hoạt thường nhật của Tăng – Ni và có những quy định rất rõ ràng được ghi chép trong Luật tạng và cách thức sử dụng hành trì. Tuy nhiên, do tính chất biệt truyền của mỗi hệ phái và văn hóa của từng quốc gia mà Phật giáo du nhập nên có những điểm cách tân về y phục và pháp khí cho phù hợp. Nhưng do mục tiêu là duy trì hình thức du tăng Khất sĩ, học hạnh của chư Bồ tát “Thượng cầu, hạ hóa” nghĩa là trên thì xin học Phật pháp, dưới hóa độ chúng sinh; nên các vị Khất sĩ giữ nguyên hình thức y áo nguyên thủy tương đồng với truyền thống Nam tông. Về phương diện hình thức, pháp phục của ni giới Khất sĩ Bắc tông giai đoạn đầu có điểm tương đồng với ni giới hệ phái Khất sĩ của Tổ sư Minh Đăng Quang, nghĩa là vẫn quấn y vàng, mặc đồ vàng. Sau khi Đại sư Huệ Nhựt viên tịch, ni chúng do ni sư Thích nữ Diệu Tú điều hành. Việc tu học của chư ni rất cần sự hướng dẫn, dìu dắt của các bậc tiền bối, bên cạnh đó việc xuất gia thọ giới cũng phải nương tựa vào giới đàn và quý Ni trưởng Bắc tông. Vì vậy, việc y chỉ vào ni giới Bắc tông là một việc làm đúng pháp và cần thiết. Sự gần gũi trong việc tu tập và tư tưởng giữa Bắc tông và Khất sĩ Bắc tông là một sự thật hiển nhiên, dẫn đến việc chuyển đổi trong trang phục (pháp phục) là sự tất yếu. Ngày nay, hầu hết chư ni tại Linh Quang tịnh xá cơ sở ni có cách ăn mặc tương đồng như hệ phái Bắc tông.
Các đoàn thể, tổ chức Khất sĩ đã thông qua việc trì bình khất thực để hành đạo. Tuy nhiên điểm đặc biệt đối với nhóm Khất sĩ Bắc tông thời kỳ đầu đó là Đại sư Huệ Nhựt một tay ôm bình bát, một tay chống “Tích trượng” dẫn đầu đoàn khất sĩ vân du khắp nẻo đường ở Sài Gòn. Việc trì bình, khất thực này vẫn được duy trì sau khi Đại sư viên tịch. Thế nhưng, các vị Khất sĩ không còn dùng Tích trượng mỗi khi đi ra ngoài nữa. Mãi cho đến những năm gần đây, do tình hình chung về việc giả danh tu sĩ khất thực, xin tiền làm xấu đi hình ảnh của các vị Khất sĩ và Tăng đoàn, việc khất thực của chư Tăng – Ni đã bị tạm ngưng.
Nghi lễ
Sinh hoạt, nghi lễ của chư Tăng hệ phái đều kế thừa từ Phật giáo Bắc tông, vẫn duy trì các thời khóa cơ bản của các sơn môn xưa như: Hô canh ngồi thiền, công phu sáng – chiều, cúng ngọ, quá đường, tịnh độ, v.v… vẫn dùng kinh nhật tụng bằng âm Hán – Việt xen lẫn các bài kệ, sám văn đã được Việt dịch và sử dụng phổ thông tại các chùa. Nghi thức thọ trai (quá đường) là một trong những thời khóa rất được chú trọng tại tổ đình để chú nguyện, cầu an, cầu siêu cho tín đồ thập phương và thân chủ của các tro cốt kí gửi tại chùa. Các bản kinh thường được sử dụng, đọc tụng hàng ngày gồm có: Kinh Pháp Hoa, kinh Dược sư, kinh Di Đà, kinh Niệm Phật Tam muội, Đại bi sám pháp, Lương hoàng sám, v.v… ngoài ra việc hành trì pháp Mật tông chủ yếu bao gồm: Ngũ bộ chú và chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm. Thứ tự, các bài kinh, chú, sám văn thống nhất với bố cục của kinh nhật tụng do Giáo hội Phật giáo Việt Nam ấn hành.
Ngoài những thời kinh, lễ căn bản theo truyền thống Tịnh độ thì đáng quan tâm nhất là có những thời khóa trì chú, đây là thiên hướng đặc thù Mật tông như đã đề cập ở trước. Mặc dù, thực hành hạnh Khất sĩ và duy trì pháp môn tu Tịnh, chư tăng và cư sĩ Phật tử tại tổ đình vẫn thực hiện trì chú Lăng Nghiêm (Sūraṃgama Samādhi Mantra) vào thời khóa sáng và hành trì Đại bi sám pháp vào buổi chiều. Ngoài ra, còn có gia trì “tịnh thủy” để điều trị các bệnh về tâm linh, nghi thức này được thực hiện hằng ngày sau nghi thức “quá đường” khoảng 12 giờ với sự tham dự của các đạo hữu Phật tử có nguyện vọng và tin tưởng vào phương pháp gia trì tại tổ đình. Vì đó, nên từ lâu Tổ đình Linh Quang tịnh xá được biết đến với tên gọi “chùa nước lạnh”, nghĩa là dùng nước lạnh để trị các bệnh tâm linh. Trong thời khóa công phu tu tập tại tổ đình có mấy điểm đặc biệt đó là: thời tụng kinh Pháp Hoa vào buổi sáng (08h giờ) và trì chú Lăng Nghiêm vào buổi trưa (12 giờ), khóa lễ trì chú Đại bi vào buổi chiều (trì 21 biến Đại bi và 108 Đại minh chú, Ngũ bộ chú, v.v…). Nhìn chung thời khóa sinh hoạt tương đồng với các chùa Bắc tông (tu Tịnh); tuy nhiên, việc dành 2 thời lễ đặc biệt cho việc hành trì mật chú cũng đã xác định việc thực hiện song hành cả hai pháp môn Tịnh – Mật. Nhờ vào sự gia tâm và hành trì mật chú nên việc thực hiện “chú nguyện bạt độ chư vong linh được tịnh chư nghiệp chướng, vãng sanh Cực lạc quốc”3 rất được tín đồ quan tâm và tham gia khóa lễ.
Về cơ sở thờ tự
Kiến trúc nổi bậc nhất của hệ phái ngôi Tổ đình Linh Quang tịnh xá quận 4. Ban đầu chỉ là một chòi tranh đơn sơ dùng làm nơi tu học cho đoàn du tăng. Từ năm 1963 – 1969, bắt đầu khởi công kiến thiết ngôi chánh và tiếp sau đó là lần lượt các công trình phụ cận để đáp ứng nhu cầu chỗ ở và nơi tu tập. Là cơ sở đầu tiên và cũng là trụ sở chính của hệ phái, tổ đình Linh Quang có những nét đặc thù độc đáo ở tính kế thừa kiểu kiến trúc mới trong giai đoạn chấn hưng nhưng vẫn gìn giữ lối trang trí cổ truyền.
Điểm đặc biệt của Linh Quang tịnh xá là phía trước cổng Tam quan có chiếc cầu Long Hoa dẫn vào chùa. Bên trái của chánh điện từ trong nhìn ra là một tấm bia tưởng niệm có 2 mặt lược ghi tiểu sử của hòa thượng Phổ Ứng và lịch sử của ngôi Tổ đình Linh Quang. Kế đến là tòa tháp 7 tầng, thờ tôn tượng và linh cốt của chư vị tổ sư hệ phái, các tầng còn lại dùng để thờ tro cốt của tín đồ. Ngôi tổ đình là không theo lối truyền thống “Tiền Phật, hậu Tổ”. Khu vực thờ tổ được chuyển lên tầng cao nhất của ngôi tháp. Tòa nhà lớn nằm ở vị trí trung tâm là chánh điện. Tượng bổn sư Thích Ca bày vai trong tư thế xúc địa ấn (Bhūmisparśa Mudrā) được bố trí ở trung tâm. Bên cạnh đó phối thờ một số bộ tượng theo truyền thống tịnh độ như: Bộ Tây phương Tam Thánh, Tiêu diện – Hộ Pháp, Mục kiền liên – Địa tạng, v.v… Khu vực ngoài bên phải là ban thờ Quan Âm Bồ tát, phía bên trái là khu vực trai đường và bàn Công đức lâm. Hai dãy tường trên trần cũng được vẽ các bức tranh mô tả về lịch sử cuộc đời của đức Phật, phía dưới các bức tranh là hai câu:
“Ánh sáng chơn lý chan hòa vũ trụ,
Đức Từ bi bao phủ khắp muôn loài.”
Từ phía trong chánh điện nhìn ra, bên dưới của bức phù điêu hình bàn tay nâng bánh xe chuyển pháp luân là dòng Hán tự: “Phật đạo hoằng khai quy tứ chúng” (Đạo Phật mở bày rộng khắp làm nơi quay về cho bốn chúng.). Từ phía mặt tiền của ngôi chánh điện có thể nhìn thấy tấm hoành bằng chữ Hán: “Linh Quang tịnh xá”. Cách bài trí của ngôi chánh điện ảnh hưởng bởi chủ trương truyền bá tư tưởng Tịnh độ, không gian bên trong chánh điện được phân chia thành 3 phẩm rõ rệt theo phương pháp “Tam bối vãng sanh”:
Thượng phẩm thượng sanh: tượng trưng cho khu vực ban thờ trung tâm của chánh điện.
Trung phẩm trung sanh: tượng trưng cho khu vực nơi chư tăng hành lễ.
Hạ phẩm hạ sanh: tượng trưng cho khu vực tín đồ Phật tử đến lễ bái, tụng niệm hàng ngày.
Căn cứ theo cách thiết trí nơi chánh điện, để phân định rõ 3 phẩm thì: Phần thượng và Trung phẩm được trang trí theo lối chạm, khắc phù điêu ao sen; còn phần Hạ phẩm là hình một ao nước xanh xung quanh và bờ đê có màu đất của gạch.4 Ngoài ra, còn có một số công trình phụ khác như, phòng khám từ thiện, văn phòng, thư viện, phòng phát hành, tăng xá, v.v… Tất cả công trình được xây dựng theo lối hiện đại nhưng vẫn giữ gìn được nét đặc trưng của văn hóa truyền thống và chùa Việt với đầu mái cong và họa tiết hoa sen.
2. Các hoạt động an sinh xã hội
Với Bi nguyện của người con Phật là “Nhập thế hành đạo” và phương châm của Giáo hội là sống “tốt đời, đẹp đạo”, Phật Giáo việt Nam đã phát huy và kế thừa truyền thống gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Các tổ chức, cơ sở Phật giáo luôn tham gia tích cực vào các hoạt động nhân đạo, từ thiện, xã hội. Các công tác góp phần an sinh xã hội của Phật giáo ngày càng sâu rộng, với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, đạt hiệu quả và có những đóng góp nhất định.5 Trên tinh thần đó, các hoạt động xã hội đã được chư tăng Khất sĩ Bắc Tông và cụ thể là Hòa thượng Tăng trưởng Thích Từ Giang đặc biệt quan tâm và xem như một pháp môn tu tập. Hòa thượng Từ Giang cho rằng: “Người của Hệ phái Khất sĩ Đại sư Huệ Nhựt luôn thực hành hạnh nguyện tùy hỷ, cùng phát triển tâm lành với mọi người, để phải trong các Phật sự, kể cả những nỗ lực thể hiện pháp lành vì người, hướng đến người, cho người trong các công việc từ thiện xã hội, khám bệnh miễn phí.”6
Đối với các công tác từ thiện thiên về lĩnh vực giáo dục, năm 1989, Hòa thượng Từ Giang đã được chính quyền và các cơ quan chức năng đồng thuận và xét duyệt đề án xây dựng một cơ sở từ thiện dân lập chăm sóc trẻ em khuyến tật trong địa bàn quận 4, tạo điều kiện cho các em được chăm sóc tốt hơn và phát triển kỹ năng sống, giảm thiểu gánh nặng cho gia đình của các em và xã hội. Theo quyết định số 442/QĐUB ký ngày 27/06/1989 của UBND Q.4, Trung tâm giáo dục trẻ khuyến tật quận 4 (Education Center for handicapped children) được thành lập. Trung tâm do hòa thượng Từ Giang là giám đốc, ông Lý Văn Mai phụ trách chuyên môn và 26 nhân viên kiêm nhiệm nhiều công tác tại trung tâm. Đề án xây dựng và phát triển Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật quận 4 ghi rõ các đối tượng chính được hướng tới là: Trẻ chậm phát triển trí tuệ, câm điếc, liệt chi, động kinh, suy dinh dưỡng, hội chứng Down. Trung tâm đề xuất hai nhiệm vụ chính đó là: (1) Nuôi dạy, cải thiện sinh hoạt vui chơi, tạo điều kiện cho các trẻ em quên đi số phận bất hạnh của mình, đồng thời dạy văn hóa cho các em. (2) Điều trị bệnh tật, nâng cao đời sống, sức khỏe, phục hồi trí năng. Phương pháp trị liệu cũng là một trong những mối quan tâm chính yếu của trung tâm. Hòa thượng giám đốc đã đề ra các phương pháp áp dụng để chữa bệnh và phục hồi tâm sinh lý cho trẻ gồm: (1) Các phương pháp y học Đông – Tây y kết hợp và chăm sóc nha (răng) cho trẻ. (2) Tâm lý trị liệu bao gồm nghe nhạc, văn nghệ, lao động, trò chơi, v.v… (3) Dưỡng sinh và võ thuật. (4) Bấm huyệt. (5) Phương thực (ăn chay).
Trung tâm y tế quận 4 xác nhận là mạng lưới cơ sở khám bệnh miễn phí của trung tâm. Việc vận dụng Y phương minh vào công tác hoằng pháp đã có truyền thống lâu dài và gặt hái nhiều thành công trong lịch sử Phật giáo. Kế thừa tư tưởng đó, Hòa thượng Từ Giang cũng đã phương tiện mở một phòng khám từ thiện đặt trong khuôn viên tổ đình tên là “Phòng khám bệnh nhân đạo Linh Quang”. Phòng khám từ thiện tại Linh Quang tịnh xá đi vào hoạt động từ ngày 01/03/1993 và đã được Hội chữ thập đỏ thành phố và quận 4.
Hòa thượng Từ Giang đã có nhiều năm liền gắn bó với các công tác an sinh xã hội, với tinh thần từ bi và hạnh nguyện giúp đời đau khổ bằng cả tâm lực và nguyện lực, trong thì gia tâm, gia trì giúp đỡ phần an tâm cho các tín đồ, ngoài đi xuôi ngược đó đây cứu trợ thiên tai, từ thiện giúp đỡ người khi khó ngặt, kế thừa tư tưởng của Đại sư Huệ Nhựt, theo lời Ngài dạy trong phần tựa của Pháp môn Đáo bỉ ngạn:
“Tất cả phép “có làm”
Như chiêm bao bọt bóng,
Cũng như sương như chớp!
Muốn làm gọi như vậy
Có hình tất có hoại
Ưa muốn nhiều tai hại!
Biết rõ nghĩa Như Lai,
Mới rằng mình làm đạo”
Tư tưởng của Đại sư là người làm đạo hay các việc như: đi đứng, nằm ngồi, thấy nghe, hay biết đều như bọt bóng, như ánh chớp, hạt sương. Vô thường chớp nhoáng, vụt có vụt không cho nên vô trụ vô chấp. Do đó, các hoạt động tu tập, hoằng pháp hay từ thiện giúp người đều âm thầm làm, làm xong thì buông bỏ, không vướng bận, không ghi chép, báo cáo, v.v…
Kết luận
Trong nhiều năm qua, hệ phái Khất sĩ Bắc tông đã có những đóng góp và thành tựu nhất định cho việc xây dựng, phát triển ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam và giữ gìn, hoằng truyền tư tưởng của các bậc tiền bối tổ sư ngày càng hưng thịnh, phát triển “Tổ ấn trùng quang”. Về phương diện nội bộ phát triển tông phong, hệ phái Khất sĩ Bắc tông đã hình thành được thêm các cơ sở trực thuộc, vệ tinh, số lượng nhân sự, thành viên của tông phong được đào tạo bài bản qua các trường lớp chuyên môn của Giáo hội cũng như ra nước ngoài. Về cơ sở vật chất, có thể nói tổ đình Linh Quang tịnh xá, tổng đàn của chư tăng Khất sĩ Bắc tông tuy không quá nguy nga nhưng cũng rất trang nghiêm, có màu sắc, điểm nhấn riêng. Kiến trúc đặc thù kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, làm phong phú thêm cho mảng nghệ thuật Phật giáo thời cận, hiện đại.
Đối với phương diện hướng ngoại như các công tác hoằng pháp, từ thiện xã hội, v.v… Tổ đình Linh Quang tịnh xá và hệ phái Khất sĩ Bắc tông đã có những đóng góp nhất định cho vấn đề an sinh xã hội, cùng chung tay với chính quyền, nhà nước quan tâm giúp đỡ, cải thiện đời sống cho đối tượng cần được hỗ trợ. Dưới góc độ tiếp cận của Tôn giáo học, có thể nói hệ phái Khất sĩ Bắc tông đã thực hiện được vai trò, chức năng hỗ trợ xã hội của mình bằng những việc làm cụ thể. Không chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ, hỗ trợ bằng những hành động mang tính thực tiễn như: vật chất, tiền bạc, thuốc men, v.v… tổ đình còn chăm sóc và giúp đỡ bằng các liệu pháp tinh thần như cúng bái, cầu nguyện, gia trì, v.v… Tiến sĩ Trần Hồng Liên nhận định “Dù ít hay nhiều, con người thường phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, thất bại, thiên tai, bệnh tật, cái chết của những những người thân thuộc, yêu quý và cái chết của chính bản thân mình. Trong những lúc như thế, cuộc sống con người rất dễ bị tổn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tin tôn giáo giúp cho con người khó bị rơi vào tuyệt vọng hơn. Một số tôn giáo còn cung cấp cho con người những biện pháp cầu nguyện, cúng bái thần linh trong niềm tin rằng rằng những việc làm như vậy sẽ giúp cải thiện được tình hình”.7 Vì vậy có thể nói, hệ phái Khất sĩ Bắc tông đã và đang thực hiện rất tốt vai trò của mình trong cả hai lĩnh vực “đạo” và “đời”, làm nổi bật lên được phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”, “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa Xã hội”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đại sư Huệ Nhật (1948), Pháp môn Đáo Bỉ Ngạn, NXB Tôn Giáo.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2001), Biên niên sử Phật giáo Gia Định – Sài gòn, thành phố Hồ chí Minh (1600 – 1992), NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
Hà Văn Tấn (1987), Về 3 yếu tố của Phật giáo Việt Nam: Thiền, Tịnh, Mật, Tập Văn số 9, Ban Văn hóa TƯ GHPGVN.
Hoàng Văn Chung (Chủ biên) (2019), Giá trị và Chức năng cơ bản của Phật giáo, NXB Khoa Học Xã Hội.
Linh Quang tịnh xá với những Phật sự và công tác xã hội (1989 – 2004), NXB Tôn Giáo. (2004).
Nguyễn Quốc Tuấn (2012), Đặc điểm và vai trò của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, NXB Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội.
Nguyễn Quốc Tuấn (đồng chủ biên) (2016), Hệ phái Khất sĩ: Qua trình hình thành, phát triển và hội nhập, NXB Hồng Đức. Nhiều tác giả (2001), Nguồn sống an lạc, NXB Tôn Giáo.
Phòng khám CTĐ nhân đạo, Linh Quang tịnh xá, Quận 4 – Tp.HCM (2005), Đặc san Xuân Ất Dậu.
Thích Đồng Hạnh, Sự phát triển và đặc điểm của Phật giáo Nam kỳ giai đoạn 1920-1945, Nguyệt san Giác Ngộ số 291 (06/2020).
Thích Giác Duyên (2014), Hệ phái Khất sĩ 70 năm hình thành và phát triển, NXB Tôn Giáo.
Thích Hạnh Thành (2007), Tìm hiểu Phật giáo Khất sĩ ở Nam bộ (trong thế kỷ XX), NXB Tổng Hợp – Tp Hồ Chí Minh.
Thích Minh Chuẩn (2008), Hệ phái Khất sĩ Bắc Tông Đại sư Huệ Nhựt, (Lưu hành nội bộ).
Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, NXB Khoa Học Xã Hội.
Trần Hồng Liên (2007), Phật giáo ở thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp Tp.HCM.
Trần Hồng Liên (2010), Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam, NXB Tổng Hợp Tp.HCM.
_________1. Đại sư Huệ Nhật (1948), Pháp môn Đáo Bỉ Ngạn, NXB Tôn Giáo.
2. Đại sư Huệ Nhật (1948), Pháp môn Đáo Bỉ Ngạn, NXB Tôn Giáo.
3. Thích Minh Chuẩn (2008), Hệ phái Khất sĩ Bắc tông Đại sư Huệ Nhựt, (Lưu hành nội bộ), tr 112.
4. Linh Quang tịnh xá với những Phật sự và công tác xã hội (1989 –2004), NXB Tôn Giáo, 2004, tr. 5.
5. Thích Đức Thiện, Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ hội nhập quốc tế. Nguồn: http://hdll.vn/vi/tin-tuc/phat-giao-viet-nam-trong-su-nghiep-xay-dung-va-phattrien-dat-nuoc-thoi-ky-hoi-nhap-quoc-te.html , truy cập 29/11/2020.
6. Nhiều tác giá (2001), Nguồn sống an lạc, NXB Tôn Giáo, tr. 182.
7. Trần Hồng Liên (2007), Phật giáo ở thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp Tp.HCM, tr. 14.
Nguồn: Các hệ phái Phật giáo và tôn giáo mới tại vùng Nam Bộ, Ban chỉ đạo: HT. Thích Trí Quảng; PGS.TS Ngô Thị Phương LanChủ biên: Thích Nhật Từ, NXB Hồng Đức
Thánh Địa Việt Nam Học(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Hệ phái khất sĩ bắc tông Việt Nam (Tác giả: ĐĐ. Thích Nguyên Thế) |
Từ khóa » đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam Gọi Chùa Là Gì
-
Sức Hấp Dẫn Của đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam | Đại đoàn Kết
-
Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt
-
Vài Nét Về Đạo Phật Khất Sĩ
-
Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
-
Đạo Phật Khất Sĩ Và Bốn Tinh Thần Tiêu Biểu Trước Khi Hòa Nhập Vào ...
-
Đạo Phật Khất Sĩ Là Gì?
-
78. ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM Ở LÀO (TRƯỜNG HỢP TỊNH XÁ ...
-
CHƠN LÝ KHẤT SĨ- ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ - QUYỂN 58 - Media
-
TÌM HIỂU VỀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO PHẬT Ở ...
-
Phát Huy Giá Trị Tôn Giáo Và Xã Hội Của Hệ Phái Phật Giáo Khất Sĩ Việt ...
-
Pháp Viện Minh Đăng Quang: Chùa Thiêng Giữ 4 Kỷ Lục Việt Nam
-
Giáo đoàn VI - Hệ Phái Khất Sĩ Tổ Chức Khóa Tu Mùa Hạ Lần 2 Dành ...
-
Vài Nét Về Cách Xưng Hô Trong đạo Phật - Sở Nội Vụ Nam Định