Heinrich Böll – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Tiểu sử
  • 2 Tác phẩm
  • 3 Tham khảo
  • 4 Đọc thêm
  • 5 Liên kết ngoài
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Wikimedia Commons
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Heinrich Böll
Thông tin cá nhân
Sinh
Ngày sinh21 tháng 12, 1917
Mất
Ngày mất16 tháng 7, 1985
An nghỉNghĩa trang Merten cổ
Giới tínhnam
Tôn giáoGiáo hội Công giáo
Gia đình
Hôn nhânAnnemarie Böll
Con cáiRené Böll, Raimund Böll
Lĩnh vựchư cấu, creative and professional writing, kịch truyền thanh, dịch thuật
Sự nghiệp nghệ thuật
Đào tạoĐại học Cologne
Thành viên củaHọc viện Ngôn ngữ và Văn học Đức, Học viện Mỹ thuật Bavarian, Học viện Nghệ thuật Berlin, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ, Học viện Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ, Hội Triết học Mỹ
Tác phẩmBi-a lúc chín giờ rưỡi, Danh dự đã mất của Katharina Blum, Chú hề, Tàu đã đúng giờ, Người lạ ơi, hãy báo tin cho người Sparta…, Thiên thần thầm lặng, Và bạn đã ở đâu, Adam?, Cừu đen, Không chỉ vào dịp Giáng sinh
Giải thưởng
Giải Nobel 1972Văn học
Chữ ký
Heinrich Böll trên IMDb
[sửa trên Wikidata]x • t • s
Tượng chân dung Heinrich Böll

Heinrich Theodor Böll (21 tháng 12 năm 1917 – 16 tháng 7 năm 1985) là nhà văn Đức đoạt giải Georg Büchner năm 1967 và giải Nobel Văn học năm 1972.

Tiểu sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Böll sinh ở Köln, là con thứ tám của một thợ cả nghề mộc theo Công giáo. Ông bắt đầu làm thơ và viết truyện ngắn từ rất sớm. Năm 1937, sau khi tốt nghiệp trung học, Böll theo học nghề kinh doanh sách ở Köln. Năm 1938 Böll bị huy động vào quân đội dự bị của Đệ Tam Đế chế Đức; trước khi nhập ngũ ông học một học kì ngành Đức ngữ và Ngữ văn cổ điển tại thành phố quê hương; mấy lần bị thương và năm 1945 bị quân đội Mỹ bắt làm tù binh và giam mấy tháng ở miền Nam nước Pháp. Trở về quê, Böll tiếp tục đi học và kiếm sống bằng những công việc không thường xuyên. Năm 1943, ông kết hôn với cô giáo Anne Maria Sech.

Năm 1949 Heinrich Böll trình làng truyện vừa đầu tiên Der Zug war pünktlich (Chuyến tàu đến đúng giờ), trước đó ông đã có gần 60 truyện ngắn đăng báo; truyện phản ánh cuộc sống đời thường sau chiến tranh, văn phong đơn giản hóa một cách chủ ý.[1] Tính vô nghĩa của cuộc chiến tranh đúc rút từ những trải nghiệm cá nhân nhân vật là chủ đề trung tâm trong những tác phẩm này và cũng là đề tài chủ đạo xuyên suốt toàn bộ sáng tác về sau của Böll, thường được gọi là dòng "văn học hoang tàn". Năm 1951 với truyện ngắn Die schwarzen Schafe (Con cừu đen) Böll được trao giải thưởng "Nhóm 47" của Hội Nhà văn Đức hậu chiến. Tác phẩm có thể coi là hoành tráng đầu tiên của Böll là Billard um halb zehn (Ván bi-a lúc chín rưỡi, 1959) được viết với văn phong và cấu trúc phức tạp hơn; tiếp đó là Ansichten eines Clowns (Qua con mắt của chú hề, 1963) nói về tự do cá nhân giữa những sức ép mang tính xã hội và chính trị.

Năm 1971 ra đời tiểu thuyết lớn nhất của Heinrich Böll là Gruppenbild mit Dame (Bức chân dung tập thể với một quý bà) mô tả các sự kiện xảy ra trong khoảng thời gian 1899-1970 với đối tượng chỉ trích là nhà thờ và "xã hội thành đạt". Năm 1972, khi Böll được trao giải Nobel, cuốn tiểu thuyết này được đặc biệt đánh giá cao.[2] Năm 1974, được bầu làm Chủ tịch International PEN, Böll nhiệt tình giúp đỡ những nhà văn gặp khó khăn, đóng góp đáng kể cho tổ chức này. Chính Böll đã đón nhà văn Nga lưu vong Alexandr Isayevich Solzhenitsyn về sống chung một thời gian, và ông ngày càng tích cực tham gia vào các cuộc tranh luận chính trị. Trong thập niên 1980, Böll trở thành một trong những nhà lãnh đạo phong trào hòa bình và chống sử dụng vũ khí hạt nhân. Ngoài sự nghiệp sáng tác, Böll còn là một dịch giả; ông đã cùng với vợ dịch hàng loạt tác phẩm văn học Mỹ. Năm 1985 nhà văn 67 tuổi mất tại nhà riêng của con trai ông ở ngoại ô Bonn.

Tác phẩm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Das Vermächtnis (Di sản, 1947, in 1985), tiểu thuyết
  • Der Zug war pünktlich (Chuyến tàu đến đúng giờ, 1949), truyện vừa
  • Wanderer, kommst du nach Spa (Lãng khách, khi nào người đến Spa, 1950), tập truyện ngắn
  • Wo warst du, Adam? (Người ở đâu, Adam?, 1951), tiểu thuyết
  • Die schwarzen Schafe (Con cừu đen, 1951), truyện ngắn
  • Und sagte kein einziges Wort (Và đã không nói một lời duy nhất, 1953), tiểu thuyết
  • Haus ohne Hüter (Ngôi nhà không người chăm nom, 1954), tiểu thuyết
  • Das Brot der frühen Jahre (Bánh mì những năm đầu, 1955), truyện
  • Billard um halb zehn (Ván bi-a lúc chín rưỡi, 1959), tiểu thuyết
  • Ansichten eines Clowns (Qua con mắt của chú hề, 1963), tiểu thuyết
  • Entfernung von der Truppe (Tự tiện vắng mặt, 1964), truyện
  • Ende einer Dienstfahrt (Kết thúc một chuyến công cán, 1966), truyện
  • Frankfurter Vorlesungen (Những bài giảng ở Frankfurt, 1966), tiểu thuyết
  • Gruppenbild mit Dame (Bức chân dung tập thể với một quý bà, 1971), tiểu thuyết
  • Die verlorene Ehre der Katharina Blum (Danh dự bị lăng nhục của Katharina Blum, 1974), truyện vừa
  • Fürsorgliche Belagerung (Sự vây bủa ân cần, 1979), tiểu thuyết
  • Bild, Bonn, bonnisch (Hình ảnh, Bonn, về Bonn, 1984), tiểu luận
  • Frauen vor Flusslandschaft (Phụ nữ trên miền sông nước, 1985), tiểu thuyết

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Magill, Frank N., biên tập (2013). The 20th Century A-GI: Dictionary of World Biography, Volume 7. Routledge. tr. 349. ISBN 978-1-136-59334-5. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014.
  2. ^ Nobel prize website

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Heinz Ludwig Arnold, biên tập (1982). Heinrich Böll. Munich.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  • Balzer, Bernd (1997). Das literarische Werk Heinrich Bölls. Kommentare und Interpretationen. Munich.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  • Hanno Beth (Ed.): Heinrich Böll. Eine Einführung in das Gesamtwerk in Einzelinterpretationen. 2., überarbeitete und erweiterte Auflage. Königstein i.Ts. 1980.
  • Alfred Böll: Bilder einer deutschen Familie. Die Bölls. Gustav Lübbe, Bergisch Gladbach 1981.
  • Viktor Böll, Markus Schäfer and Jochen Schubert: Heinrich Böll. dtv, Munich, 2002 (dtv portrait).
  • Lucia Borghese: Invito alla lettura di Heinrich Böll. Mursia, Milan 1980.
  • Michael Butler (Ed.): The Narrative Fiction of Heinrich Böll. Social conscience and literary achievement. Cambridge 1994.
  • Conard, Robert C. (1992). Understanding Heinrich Böll. Columbia: University of South Carolina Press. ISBN 978-0-87249-779-5.
  • Frank Finlay: On the Rationality of Poetry: Heinrich Böll's Aesthetic Thinking. Rodopi, Amsterdam/Atlanta 1996.
  • Erhard Friedrichsmeyer: Die satirische Kurzprosa Heinrich Bölls. Chapel Hill 1981.
  • Lawrence F. Glatz: Heinrich Böll als Moralist. Peter Lang, New York 1999.
  • Christine Hummel: Intertextualität im Werk Heinrich Bölls. Wissenschaftlicher Verlag, Trier 2002.
  • Manfred Jurgensen (Ed.): Böll. Untersuchungen zum Werk. Francke, Bern/Munich 1975.
  • Christian Linder: Heinrich Böll. Leben & Schreiben 1917–1985. Kiepenheuer & Witsch, Cologne 1986.
  • Reich-Ranicki, Marcel (1986). Mehr als ein Dichter: über Heinrich Böll (bằng tiếng Đức). Cologne: Kiepenheuer & Witsch.
  • James H. Reid: Heinrich Böll. A German for His Time. Berg Publishers, Oxford/New York/Hamburg 1988. – German: Heinrich Böll. Ein Zeuge seiner Zeit. dtv, Munich 1991.
  • Klaus Schröter: Heinrich Böll. Rowohlt, Reinbek 1987 (Rowohlts Monographien).
  • Jochen Vogt: Heinrich Böll. 2. Auflage. Beck, Munich 1987.
  • Heinrich Vormweg: Der andere Deutsche. Heinrich Böll. Eine Biographie. Kiepenheuer & Witsch, Cologne 2002.
  • Sebald, W.G. (1999). Luftkrieg und Literatur: Mit einem Essay zu Alfred Andersch [On the Natural History of Destruction] (bằng tiếng Đức).

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Heinrich Böll.
  • Trang về Heinrich Böll Lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2004 tại Wayback Machine (bằng tiếng Anh)
  • x
  • t
  • s
Người đoạt giải Nobel Văn học
1901 – 1925
  • 1901 Sully Prudhomme
  • 1902 Theodor Mommsen
  • 1903 Bjørnstjerne Bjørnson
  • 1904 Frédéric Mistral / José Echegaray
  • 1905 Henryk Sienkiewicz
  • 1906 Giosuè Carducci
  • 1907 Rudyard Kipling
  • 1908 Rudolf Eucken
  • 1909 Selma Lagerlöf
  • 1910 Paul Heyse
  • 1911 Maurice Maeterlinck
  • 1912 Gerhart Hauptmann
  • 1913 Rabindranath Tagore
  • 1914
  • 1915 Romain Rolland
  • 1916 Verner von Heidenstam
  • 1917 Karl Gjellerup / Henrik Pontoppidan
  • 1918
  • 1919 Carl Spitteler
  • 1920 Knut Hamsun
  • 1921 Anatole France
  • 1922 Jacinto Benavente
  • 1923 W. B. Yeats
  • 1924 Władysław Reymont
  • 1925 George Bernard Shaw
1926 – 1950
  • 1926 Grazia Deledda
  • 1927 Henri Bergson
  • 1928 Sigrid Undset
  • 1929 Thomas Mann
  • 1930 Sinclair Lewis
  • 1931 Erik Axel Karlfeldt
  • 1932 John Galsworthy
  • 1933 Ivan Bunin
  • 1934 Luigi Pirandello
  • 1935
  • 1936 Eugene O'Neill
  • 1937 Roger Martin du Gard
  • 1938 Pearl S. Buck
  • 1939 Frans Eemil Sillanpää
  • 1940
  • 1941
  • 1942
  • 1943
  • 1944 Johannes V. Jensen
  • 1945 Gabriela Mistral
  • 1946 Hermann Hesse
  • 1947 André Gide
  • 1948 T. S. Eliot
  • 1949 William Faulkner
  • 1950 Bertrand Russell
1951 – 1975
  • 1951 Pär Lagerkvist
  • 1952 François Mauriac
  • 1953 Winston Churchill
  • 1954 Ernest Hemingway
  • 1955 Halldór Laxness
  • 1956 Juan Ramón Jiménez
  • 1957 Albert Camus
  • 1958 Boris Pasternak
  • 1959 Salvatore Quasimodo
  • 1960 Saint-John Perse
  • 1961 Ivo Andrić
  • 1962 John Steinbeck
  • 1963 Giorgos Seferis
  • 1964 Jean-Paul Sartre (từ chối)
  • 1965 Mikhail Sholokhov
  • 1966 Shmuel Yosef Agnon / Nelly Sachs
  • 1967 Miguel Ángel Asturias
  • 1968 Yasunari Kawabata
  • 1969 Samuel Beckett
  • 1970 Aleksandr Solzhenitsyn
  • 1971 Pablo Neruda
  • 1972 Heinrich Böll
  • 1973 Patrick White
  • 1974 Eyvind Johnson / Harry Martinson
  • 1975 Eugenio Montale
1976 – 2000
  • 1976 Saul Bellow
  • 1977 Vicente Aleixandre
  • 1978 Isaac Bashevis Singer
  • 1979 Odysseas Elytis
  • 1980 Czesław Miłosz
  • 1981 Elias Canetti
  • 1982 Gabriel García Márquez
  • 1983 William Golding
  • 1984 Jaroslav Seifert
  • 1985 Claude Simon
  • 1986 Wole Soyinka
  • 1987 Joseph Brodsky
  • 1988 Naguib Mahfouz
  • 1989 Camilo José Cela
  • 1990 Octavio Paz
  • 1991 Nadine Gordimer
  • 1992 Derek Walcott
  • 1993 Toni Morrison
  • 1994 Kenzaburō Ōe
  • 1995 Seamus Heaney
  • 1996 Wisława Szymborska
  • 1997 Dario Fo
  • 1998 José Saramago
  • 1999 Günter Grass
  • 2000 Cao Hành Kiện
2001 – nay
  • 2001 V. S. Naipaul
  • 2002 Imre Kertész
  • 2003 J. M. Coetzee
  • 2004 Elfriede Jelinek
  • 2005 Harold Pinter
  • 2006 Orhan Pamuk
  • 2007 Doris Lessing
  • 2008 J. M. G. Le Clézio
  • 2009 Herta Müller
  • 2010 Mario Vargas Llosa
  • 2011 Tomas Tranströmer
  • 2012 Mạc Ngôn
  • 2013 Alice Munro
  • 2014 Patrick Modiano
  • 2015 Svetlana Alexandrovna Alexievich
  • 2016 Bob Dylan
  • 2017 Kazuo Ishiguro
  • 2018 Olga Tokarczuk
  • 2019 Peter Handke
  • 2020 Louise Glück
  • 2021 Abdulrazak Gurnah
  • 2022 Annie Ernaux
  • 2023 Jon Fosse
  • 2024 Han Kang
  • 2025 László Krasznahorkai
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Heinrich_Böll&oldid=74163549” Thể loại:
  • Sinh năm 1917
  • Mất năm 1985
  • Nhà văn Đức
  • Người đoạt giải Nobel Văn học
  • Người Đức đoạt giải Nobel
  • Nam nhạc sĩ thế kỷ 20
  • Tín hữu Công giáo Rôma thế kỷ 20
Thể loại ẩn:
  • Bài có hộp thông tin có tham số title
  • Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản
  • Nguồn CS1 tiếng Đức (de)
  • Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
  • Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Anh (en)
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Heinrich Böll 97 ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Thuyết Heinrich