Hiệu Quả Mô Hình Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng Hai Giai đoạn Trong Ao đất

Nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Quảng Bình trong những năm qua đã có nhiều bước phát triển cả về năng suất và sản lượng. Trong đó, phát triển mạnh là nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát, nhiều mô hình ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới đã được áp dụng và mang lại hiệu quả kinh tế cao, như: nuôi tôm 2 giai đoạn, 3 giai đoạn ứng dụng công nghệ Biofloc; nuôi tôm sử dụng chế phẩm sinh học ít thay nước; một số công ty, trang trại đã mạnh dạn đầu tư hệ thống ao nuôi có mái che, ao nuôi trong nhà kín... Bên cạnh đó nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao đất đang gặp rất nhiều khó khăn do môi trường ao nuôi ngày càng bị ô nhiễm, hệ thống ao nuôi đầu tư thiếu đồng bộ nên dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Hình thức nuôi chủ yếu là thả trực tiếp xuống ao nuôi (nuôi 1 giai đoạn) nên việc kiểm soát tỷ lệ sống để chăm sóc, kiểm soát môi trường ao nuôi gặp nhiều khó khăn, bệnh tôm chết sớm còn gọi là hội chứng hoại tử gan - tụy cấp thường xuyên xảy ra đã làm thiệt hại lớn cho người nuôi. Nhiều giải pháp khoa học kỹ thuật để khắc phục đã được áp dụng như trải bạt bờ, trải bạt đáy ao, sử dụng men vi sinh, giảm mật độ nuôi kết hợp nuôi xen ghép nhiều đối tượng, tuy nhiên hiệu quả mang lại không cao.

Từ năm 2019, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng 2 giai đoạn trong ao đất đã đem lại hiệu quả thiết thực mở ra một giải pháp mới cho người nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao đất. Hệ thống ao nuôi của mô hình được thiết kế gồm: 1 bể ương giai đoạn 1 với diện tích 105 m3, dạng bể nổi hình tròn, lót bạt chống thấm HDPE, có mái che bằng lưới lan; 2 ao đất nuôi giai đoạn 2 được bố trí liền kề bể ương để thuận tiện cho việc san thưa, diện tích mỗi ao 2.000 m2; 1 ao chứa và 1 ao xử lý nước thải để xử lý nguồn nước cấp cũng như nước thải của quá trình nuôi trước khi xả ra môi trường. Có hệ thống điện lưới 3 pha, đồng thời lắp dự phòng máy phát điện. Hệ thống ao ương được lắp đặt máy sục khí, hệ thống xiphong; ao nuôi lắp máy quạt nước đầy đủ...

Ở giai đoạn 1, tôm ương khoảng 25 - 30 ngày trong bể nổi với mật độ 3.000 con/m3 (tôm giống cỡ PL12). Nước đã xử lý từ ao chứa được bơm vào bể ương, tiến hành gây màu tạo thức ăn tự nhiên, vận hành hệ thống ôxy đáy, bón vi sinh, khoáng và kiểm tra các yếu tố môi trường ổn định mới tiến hành thả giống. Môi trường bể ương được kiểm soát chặc chẽ, các chỉ tiêu môi trường được kiểm tra hàng ngày để kịp thời điều chỉnh phù hợp với yêu cầu kỹ thuật.

Qua giai đoạn ương, tôm đạt kích cỡ 700 - 800 con/kg được chuyển sang ao nuôi tiếp giai đoạn 2, mật độ nuôi 70 con/m2. Trước khi san qua ao nuôi, tôm được lấy mẫu xét nghiệm không nhiễm các bệnh nguy hiểm; cân mẫu xác định số lượng, đồng thời cần kiểm tra các chỉ tiêu môi trường ao nuôi đảm bảo không có sự chênh lệch quá lớn giữa bể ương và ao nuôi. Trong quá trình nuôi, hạn chế tối đa việc sử dụng hóa chất, định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học để phòng trị bệnh, xử lý môi trường, tăng cường sức đề kháng cho tôm.

Sau thời gian chuyển qua ao nuôi được 2 tháng tôm sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt 80%, trọng lượng bình quân đạt 65 con/kg, năng suất đạt 8,6 tấn/ha, sản lượng thu được 3,4 tấn/0,4ha.

Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao đất 2 giai đoạn, xây dựng bể ương bằng bể nổi hình tròn, có hệ thống sục khí, có mái che đã khẳng định được tính hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Việc sử dụng ao ương bằng bể nổi có lắp đặt hệ thống mái che, sục đáy nên ương được mật độ dày kiểm soát tốt môi trường ao nuôi, quản lý chăm sóc thuận tiện. Đặc biệt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt của Quảng Bình, giai đoạn đầu vụ nuôi thường hay mưa và rét, nhiệt độ không khí thấp, từ tháng 5 trở đi thời tiết nắng nóng kéo dài ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tôm nên việc ương trong bể nổi với diện tích nhỏ có thể che, chắn nên khắc phục được yếu tố nhiệt độ./

Từ khóa » Tôm Chân Trắng