Hiệu Ứng Giả Dược (Placebo Effect) - Câu Lạc Bộ Sinh Viên Tâm Lý

I. LỊCH SỬ CỦA HIỆU ỨNG GIẢ DƯỢC

Giả dược không phải là một hiện tượng mới mà bản thân giả dược cùng với hiệu ứng của nó đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người, nhưng chỉ mới được quan tâm nghiên cứu gần đây.

Pepper (1945) lần theo lịch sử của từ “giả dược”(placebo) bắt nguồn từ khu vực Latinh, xuất hiện đầu tiên vào thế kỷ mười ba trong Công giáo La Mã, mang nghĩa “Tôi sẽ vui lòng.” (I shall please)

Từ điển Y khoa của Hooper (ấn bản năm 1811) định nghĩa giả dược là “từ dùng để chỉ những liệu pháp được y học thông qua có tác dụng làm hài lòng hơn là có lợi cho bệnh nhân”

Hiệu ứng giả dược vẫn đang là một chủ đề gây tranh cãi. Nó thách thức kiến thức khoa học và gây ra những nghi ngờ về thực hành y tế.

II. CÁC HÌNH THỨC CỦA GIẢ DƯỢC

a) “Thuốc giả”:

Hình thức phổ biến nhất của giả dược được sử dụng trong các trường hợp mắc bệnh hoặc gặp vấn đề về sức khỏe. Hình thức giả dược này thường không có công dụng gì cả (thường được gọi là “viên đường”) hoặc có một số công dụng tuy nhiên thường ít và không liên quan đến bệnh của bệnh nhân.

· Thuốc giả/ giả dược không nhãn dán: Người sử dụng không biết đây là giả dược và vẫn tin rằng nó có công dụng chữa lành cho mình. Đa số các báo cáo cho thấy, sử dụng giả dược trong điều trị có tác dụng vừa và thấp.

· Trong 1 nghiên cứu của Darragh và cộng sự (2015) về việc “Điều trị bằng giả dược tại nhà cho những người không phải là bệnh nhân”, các nhà nghiên cứu đã phân nghiệm thể thành 3 nhóm: 1 nhóm đối chứng (không sử dụng giả dược) và hai nhóm điều trị, được dùng thuốc trị liệu “chống căng thẳng” dạng xịt để tự điều trị trong 3 ngày. Cả hai loại thuốc đều là giả dược và chỉ chứa nước muối vô trùng (5%), tuy nhiên chúng được mô tả là hai ‘hợp chất’ khác nhau: một loại kích thích cơ thể sản xuất oxytocin và loại kia sản xuất serotonin. Kết quả cho thấy rằng so với nhóm đối chứng, giả dược có thể đem lại hiệu quả trong môi trường tự nhiên và tự điều trị bằng giả dược có thể làm giảm các triệu chứng căng thẳng, lo lắng và trầm cảm.

· Thuốc giả có nhãn dán (open-label placebo): Người sử dụng được thông báo rằng thứ họ dùng là giả dược và vẫn tiếp tục sử dụng.

· Kleine-Borgmann và cộng sự (2019) trong nghiên cứu của mình đã cho thấy điều trị giả dược có nhãn trong 3 tuần là an toàn, dung nạp tốt và làm giảm đau, tàn tật và các triệu chứng trầm cảm ở các bệnh nhân bị đau lưng mãn tính.

· Độ phổ biến trong y khoa: Nghiên cứu khảo sát chỉ ra rằng các bác sĩ thường sử dụng phương pháp điều trị giả dược theo thói quen. Ví dụ, một cuộc khảo sát ngẫu nhiên của Hoa Kỳ với 1200 bác sĩ nội khoa và thấp khớp cho thấy khoảng một nửa số bác sĩ (46-58%) kê đơn điều trị giả dược thường xuyên. Các phân tích đạo đức đã phát hiện ra rằng giả dược nhãn mở tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức về tính minh bạch và sự đồng ý có hiểu biết. (Kaptchuk & Franklin, 2018)

Trong y khoa, giả dược thường được sử dụng cho:

· Bệnh nhân “cứng đầu” mà thường chỉ tin vào 1 dạng điều trị nhất định mà họ đã quen thuộc, các bệnh nhân gặp các bệnh hiểm nghèo mà việc chữa trị có thể đã thất bại nhưng họ và gia đình vẫn nuôi hy vọng và vẫn muốn tiếp tục được chữa trị.

· Với thời gian trì hoãn trước khi hầu hết các loại thuốc được tìm ra và có hiệu lực, giả dược có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị tạm thời để bệnh nhân trải qua một số hình thức giảm đau tức thì và không cảm thấy bị bỏ rơi (VD: morphin và nước muối)

b) Hiệu ứng xuất phát từ niềm tin sai lầm do một bên thứ ba cố tình tuyên truyền.

Đây là hiệu ứng giả dược được tác động bởi một người thứ 3, với mong muốn cải thiện tình hình.

Ví dụ:

· Nghiên cứu định tính của Beedie và cộng sự (2006) về hiệu quả giả dược trong Thể thao, có một tay đua xe đạp chuyên nghiệp năm đầu tiên đã báo cáo: “Trong một cuộc thi, tôi đã nói với một người đồng đội rằng chân tôi mệt mỏi và không có cách nào tôi có thể quay trở lại phong độ. Anh ta đưa cho tôi hai viên thuốc màu trắng và anh ta nói sau 20 phút bạn sẽ cảm thấy như có 1 triệu đô la. Chắc chắn rồi, tôi bắt đầu trở nên không bị đau ở chân hay lưng và tôi cảm thấy mình đang thực sự phong độ và có rất nhiều sức mạnh”. Tuy nhiên thực sự đó chỉ là những viên thuốc đường và sử dụng “mánh khóe” này khá quen trong nhóm đua xe đạp này trước đó.

· Nghiên cứu của Swinburn và cộng sự (1998) về việc ảnh hưởng của hình thức lời khuyên đến nâng cao thói quen vận động của nghiệm thể cho thấy cùng với một số lời khuyên tuy nhiên khi bệnh nhân nhận được lời khuyên đó trên đơn thuốc của bác sĩ, thời gian thực hiện hoạt động thể chất của họ gia tăng. Nếu tiếp tục thực hiện kê đơn các lời khuyên này thì sẽ có khả năng cải thiện yếu tố nguy cơ tim mạch, giảm lo lắng và căng thẳng, hỗ trợ giảm cân, và có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong.

c) Hiệu quả hoạt động dựa trên niềm tin sai lầm do vô tình nhầm lẫn.

Niềm tin đó có thể do chính chúng ta hoặc một bên thứ 3 vô tình làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.

Ví dụ:

· Nghiên cứu định tính của Beedie và cộng sự (2006) cho thấy có 10 VĐV đã báo cáo rằng họ đã đạt được thứ bậc cao hơn dự đoán do một thông tin sai lệch vô tình, từ bên thứ ba hoặc do nhận thức sai lầm của chính họ. Một vận động viên nâng tạ báo cáo “Tôi đã nâng được thành tích cá nhân tốt nhất khi tôi nghĩ rằng tạ mình đang nâng thực sự nhẹ hơn 10kg.”

· Ví dụ thực tế: khi tập đi xe đạp, được mẹ dặn rằng “cứ lái đi, có mẹ ở sau” thì người lái chạy xe ổn. Tuy nhiên sự thật là mẹ không hề đỡ xe.

d) Nghi thức – Nghi lễ.

Đây là hình thức giả dược tồn tại dưới các nghi lễ của một tín đồ hoặc nghi lễ trước khi bước vào sự kiện nào đó. VD:

· Nghi thức chữa bệnh của Franz Anton Mesmer (1734-1815): Các bệnh nhân thường vào một căn phòng trải thảm dày, ánh sáng lờ mờ, xung quanh phòng đặt đầy gương. Các bệnh nhân tay nắm chặt những thanh sắt chồi lên từ một cái thùng đựng đầy nước “từ tính.” Mesmer thong thả bước vào phòng chữa bệnh, khoác một áo choàng màu hoa cà và tay vẫy một chiếc đũa thần. Tất cả nghi thức này nhằm tạo một “cơn sốc” nơi các bệnh nhân của ông. Trong cơn sốc, các bệnh nhân thường la thét, mình toát mồ hôi lạnh, và ói mửa. Nhiều bệnh nhân của Mesmer báo cáo là được khỏi bệnh. Các triệu chứng biến mất phần lớn thuộc loại rối loạn tâm thần, có nguồn gốc tâm lý.

Một số nghi thức phổ biến: cúng tổ sân khấu trước khi diễn, ăn đậu đỏ trước kì thi, thắp hương cho ông bà trước khi thực hiện một điều gì đó. Đây là các vấn đề nhạy cảm và chưa được tiến hành nghiên cứu định lượng. Nhưng thường những nghi lễ như vậy sẽ khiến tạo nên cảm xúc an toàn và tin tưởng ở cá nhân, dẫn đến việc họ có thể làm tốt.

Liên hệ: Hiệu ứng giả dược khi “Luyện thanh” trước khi biểu diễn. Bên cạnh việc luyện thanh đúng sẽ khiến ta mở giọng và trở nên hát hay hơn. Tuy nhiên Barr (2009) cho rằng những ca sĩ được người lead việc luyện thanh say mê sẽ tin tưởng vào hiệu quả của quy trình. Mặc dù việc khởi động có thể không hiệu quả về mặt sinh lý (thậm chí có thể không biết về mặt giải phẫu), nhưng vì sự tin tưởng vào người tập mà nó vẫn có thể đạt được mục tiêu mong muốn. Việc khởi động bằng âm nhạc càng thú vị và phù hợp, ca sĩ càng có nhiều khả năng đặt niềm tin vào người tập và càng có nhiều chỗ cho hiệu ứng giả dược. Với suy nghĩ này, hiệu ứng giả dược có thể tạo ra hiệu quả khởi động ngay cả khi nó không áp dụng cách tiếp cận sinh lý ‘đúng’, miễn là ca sĩ tin tưởng người tập và kỳ vọng về hiệu quả. Hiệu ứng giả dược cũng có thể cung cấp một lời giải thích về lý do tại sao những giáo viên hát hay lại tồn tại trước những tiến bộ gần đây trong khoa học luyện thanh. 

Tóm lại: Tác dụng của giả dược không chỉ là về những viên thuốc giả: mà còn là do hiệu ứng niềm tin do bên thứ ba, nhầm lẫn và các nghi thức, nghi lễ.

III. CÁC ỨNG DỤNG CỦA GIẢ DƯỢC

  1. Trong điều trị tâm lý

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tính cách có ảnh hưởng đến tác động của giả dược lên chủ thể. Cụ thể, những người hướng ngoại, nói nhiều, có tín ngưỡng, dễ tính thường dễ chịu nhiều ảnh hưởng của giả dược hơn so với nhóm người có tính cách ngược lại. Vì vậy, với các chứng bệnh tâm lý khác nhau thì tác động của giả dược lên chủ thể cũng khác nhau, phụ thuộc vào đặc trưng sinh lý của họ.

Đối với rối loạn lo âu: Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra tác động có lợi của giả dược lên các chứng bệnh lo âu, tuy nhiêu đối với rối loạn ám ảnh cưỡng chế OCD lại kém hiệu quả hơn hẳn. Nguyên nhân có thể là vì người mắc OCD thường có hoài nghi lớn, và sự điều trị bằng giả dược kiểm soát quá thường xuyên người bệnh khiến họ càng nghi ngờ về phương pháp trị liệu này. Dù vậy, nếu tiếp cận một cách khéo léo vẫn có thể góp phần hỗ trợ điều trị OCD.

Đối với trầm cảm:. Cụ thể, các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu trên 2 nhóm người mắc rối loạn trầm cảm chủ yếu, nhóm 1 được sử dụng giả dược với lời ám thị về tác động tích cực của thuốc, nhóm 2 được cho biết đây là giả dược ngay từ đầu. Sau một tuần, qua bảng trả lời câu hỏi, nhóm 1 có sự cải thiện về triệu chứng trầm cảm so với nhóm 2. Ngoài ra, theo một nghiên cứu khác, bằng thang điểm HAM-D, giả dược cũng có tác động gần như thuốc đối với người mắc trầm cảm ở mức độ nhẹ và vừa phải (sự chênh lệch <2) , nhưng lại có sự chênh lệch ở nhóm người bị trầm cảm ở mức độ nặng, cụ thể là 4.36. Nguyên nhân có thể là do giả dược không gây nhiều tác dụng phụ như thuốc, cũng như không tác động đến các yếu tố hóa sinh bên trong cơ thể những người mắc trầm cảm ở mức độ nặng.

  1. Trong nghiên cứu

a/Ứng dụng cụ thể:

Nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên mang tính thời sự nhất gần đây nhất có sự đóng góp của giả dược là ứng dụng của nó trong quá trình nghiên cứu thuốc và vaccine cho COVID 19. Như đã nói trên, placebo trong các nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên đóng vai trò là nhóm đối chứng cho nhóm can thiệp y học, nó đã đem lại nhiều lợi ích và định tính cho quá trình nghiên cứu để chống lại đại dịch. (WHO Ad Hoc Expert, 2020)

Ở giai đoạn đầu, để khống chế và chữa trị cho các bệnh nhân bị nhiễm SARS-CoV2, các loại thuốc như tocilizumab, hydroxychloroquine, dexamethasone, remdesivir đã được nghiên cứu và ứng dụng trong chữa trị. (Frysh, 2020)

Để chứng minh các loại thuốc này thực sự có tác dụng trong hoá dược, việc kiểm chứng bằng việc đối chứng với giả dược là cần thiết. Điển hình như remdesivir.

Remdesivir là một loại thuốc kháng virus phổ quát, được sử dụng bằng cách tiêm vào tĩnh mạch nhằm nhắm đến và ức chế sự nhân đôi và phát triển của nhiều chủng loại virus hoặc nhắm đến protein và các quá trình hoạt động của tế bào chủ bị xâm thực bởi virus. Trong đại dịch COVID-19 2020, loại thuốc này được chấp thuận để sử dụng trong các trường hợp cần ức chế virus khẩn cấp. (E. Bekerman, 2015) (Gilead, 2020)

Tuy nhiên để chứng minh độ hiệu quả của remdesivir đến việc chữa trị cho những ca nhiễm Covid nghiêm trọng cần đối chứng với hiệu ứng giả dược.

b/Nghiên cứu đối chứng lâm sàng ngẫu nhiên của remdesvir với placebo:

Theo báo cáo thử nghiệm: Remdesivir in adults with severe COVID-19: a randomised, double-blind, placebo-controlled, multicentre trial.

Trong nghiên cứu này, người ta đã chia các bệnh nhân bị bệnh hô hấp cấp ra thành 2 nhóm, một nhóm nhận điều trị bằng remdesvir và nhóm còn lại được điều trị bằng giả dược với tá dược tương đương. Sau 28 ngày điều trị và theo dõi, đáng ngạc nhiên là tải lượng virus ở hai nhóm đều giảm dần theo thời gian, tốc độ suy giảm chênh lệch không đáng kể. Điều tương tự xảy ra ở các trị số về tỉ lệ tử vong, tình trạng cải thiện bệnh.

Điều đó đã chứng minh remdesvir vượt qua được nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên với giả dược, giả dược cũng đã chứng minh bản thân nó có những tác động tích cực lên tình trạng cải thiện của bệnh nhân từ biểu hiện đến sinh lý. Vì vậy remdesvir chưa được tính là loại thuốc có thể chữa khỏi bệnh hô hấp cấp mà cần đến sự nghiên cứu về các loại thuốc, hình thức trị liệu khác để chữa trị cho bệnh nhân nhiễm SARS-COV2, hoặc có thí nghiệm chuyên sâu hơn cho loại thuốc này. (David, 2020)

  1. Trong y học

Placebo trong y học có hiệu quả, nhưng nó vẫn mang tính thiên kiến và không đủ số liệu để chứng minh cụ thể.

Theo Beecher, giả dược có hiệu quả điều trị cao trong việc điều trị các căn bệnh liên quan đến phản ứng chủ quan, sự cải thiện tự chủ, ảnh hường từ 35.2±2.2% tình trạng các ca bệnh. (Beecher, 1955)

Vì vậy, nhìn chung giả dược đặc biệt có hiệu quả và được sử dụng nhiều nhất trong việc điều trị những cơn đau, những căn bệnh liên quan đến căng thẳng mãn tính (ví dụ như mất ngủ, stress) hay trầm cảm. (Hamblin, 2017)

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là giả dược không được ứng dụng trong việc điều trị các căn bệnh lâm sàng khác. Các bài báo cáo tổng hợp từ những năm 1980 đến 1990 đã kết luận rằng các can thiệp bằng giả dược đã có sự cải thiện đáng kể tình trạng của bệnh nhân được báo cáo bởi cả bệnh nhân và quan sát viên với một tỉ lệ lớn bệnh nhân với các tình trạng lâm sàng, ví như, hen suyễn, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim và thậm chí ung thư (Brown, 1998) (Lasagna, 1986)

Một số thí nghiệm về ung thư:

Thậm chí khá thú vị là placebo còn được sử dụng trong điều trị các căn bệnh nan y như ung thư vì nhiều mục đích khác nhau.

Ngoại trừ mục đích sử dụng như nhóm đối chứng để thử nghiệm lâm sàng cho các phương pháp trị liệu mới, placebo được sử dụng trong ung thư khi:

  • Các liệu pháp hóa dược hiện có có hiệu quả thấp hoặc tác dụng phụ nghiêm trọng
  • Khi tình trạng bệnh nhân luân phiên trở nên tệ hơn hoặc tốt hơn, có các đợt thuyên giảm tự phát (sự biến mất các biểu hiện và triệu chứng của ung thư, nhưng căn bệnh không được chữa trị triệt để) hoặc những diễn biến tình trạng bệnh không chắc chắn và không đoán trước được.
  • Khi không có phương pháp điều trị nào hiệu quả hơn.(Schilsky, 2018)

1/1/2003 Chvetzoff & Tannock đã xuất bản một bài báo cáo tổng hợp hệ thống. Họ tổng hợp 36 thử nghiệm ung thư ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược từ năm 1966 đến năm 2000. Phần lớn bệnh nhân là những người bị ung thư di căn hoặc ung thư giai đoạn cuối. Tuy không rõ ràng và nhất quán trong chiều hướng thuyên giảm, nhưng họ đã ghi nhận được tỉ lệ phản ứng tích cực dao động từ 2 – 7% ở nhóm sử dụng giả dược. (Gisèle Chvetzoff, 2003)

4. Trong cuộc sống:

Hiệu ứng giả dược trong cuộc sống được thể hiện dưới dạng ám thị:

Tự ám thị: Một người tự đưa ra mục tiêu và lập kế hoạch để thiết lập một thói quen, một lối sống cho bản thân. Ví dụ như tự ám thị bản thân ăn uống lành mạnh và tập thể dục để có sức khỏe tốt.

Ám thị cho người khác: Hiện tượng “Lời tiên tri tự đúng” bắt nguồn từ Thần thoại Hy Lạp, kể về Pygmalion dành tình yêu to lớn cho bức tượng điêu khắc của mình đến nỗi nữ thần cảm động và biến bức tượng thành người thật. Nó lý giải tại sao khi một người đặt niềm tin vào ai thì người đó sẽ có xu hướng phát triển theo đúng nguyện vọng ấy.

  1. MẶT TRÁI CỦA GIẢ DƯỢC
  • Vi phạm đạo đức: Nhiều bác sĩ và nhà khoa học không chấp nhận giả dược. Họ phê phán phương pháp này là lừa dối và không công bằng với bệnh nhân. Ngược lại, những người ủng hộ giả dược đều cho rằng phê phán như vậy là làm quá lên trong khi họ đang tìm mọi cách để hỗ trợ bệnh nhân, và không có gì là vô đạo đức ở đây.
  • Gây ra cho chủ thể sự lạm dụng và phụ thuộc vào một chất không có tác dụng, vì giả dược không có tác động trực tiếp với yếu tố sinh lý bên trong cơ thể.
  • Sẽ có bệnh nhân chỉ báo cáo tác động có lợi của giả dược để làm hài lòng bác sĩ điều trị.
  • Hiệu ứng ngược lại với giả dược: Nocebo – được coi là “evil twin” của giả dược, là một chất không có tác dụng hoặc một hành vi gây tác động tiêu cực lên chủ thể. Ví dụ, năm 2007, một bệnh lạ quét qua khiến một nữ sinh của một trường học ở Mexico cảm thấy đau đầu, nhức mỏi, nôn mửa và kéo theo gần 600 học sinh khác cũng xuất hiện những triệu chứng tương tự. Tuy nhiên, không hề có bất kỳ một căn bệnh nào ở đây, đó có thể là do rối loạn phân ly tập thể.

V. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA GIẢ DƯỢC

  1. Bối cảnh điều trị

Bất kể việc điều trị sử dụng các loại thuốc thực sự hay là giả dược, bối cảnh lâm sàng của quá trình điều trị đều có tác động đến tâm trí của bệnh nhân. Các bối cảnh này được chia làm hai loại:

  • Bối cảnh ngoại quan:
  • Gợi ý bằng lời nói: “Thuốc này sẽ giúp anh hết bệnh”, “Thoa cái này vào sẽ bớt đau”,…
  • Các dấu hiệu về địa điểm: văn phòng bác sĩ, phòng y tế, bệnh viện, ngoài trời,…
  • Các dấu hiệu xã hội: ánh mắt, ngôn ngữ cơ thể, giọng nói của người điều trị, trang phục,…
  • Các dấu hiệu về phương pháp điều trị: thuốc viên con nhộng có tác động mạnh hơn viên nén, ống tiêm lại có tác động mạnh hơn thuốc viên con nhộng, các máy móc, thiết bị phức tạp có tác động mạnh nhất.
  • Bối cảnh nội quan:
  • Những mong đợi về kết quả: “Mình sẽ hết đau”, “Thuốc này sẽ có công hiệu”,…
  • Cảm xúc: cảm thấy tự tin, thoải mái hay lo âu, sợ hãi,…
  • Cảm nhận về tình huống: “Mình đang được quan tâm”, “Mình đang được chữa trị”,…
  • Những ký ức rõ ràng: kinh nghiệm từ những lần được điều trị trước, chia sẻ của những người xung quanh,…
  • Những tương tác tiền ý thức: Mối liên hệ giữa những sự kiện, vật thể nằm ngoài ý thức của chúng ta. Những mối quan hệ này thường đến từ quá trình điều kiện hóa thao tác hoặc bẩm sinh (do tiến hóa).

Tất cả những yếu tố này kết hợp lại tạo thành bối cảnh điều trị và là “thành phần chính” của hiệu ứng giả dược.

  1. Các mô hình đánh giá tác động của hiệu ứng giả dược
  2. Thiết kế nhóm song song

Các nghiệm thể được chia thành ba nhóm: nhóm dùng thuốc, nhóm giả dược và nhóm kiểm chứng. Đây là phương pháp kiểm định lâm sàng phổ biến nhất.

  1. Giấu thuốc

Các nghiệm thể đều được cho dùng thuốc nhưng có một nhóm biết về thuốc mà mình dùng, một nhóm thì không (nghĩa là họ nghĩ mình là nhóm kiểm chứng).

c. Thiết kế điều hòa phản ứng

Sử dụng các gợi ý bằng lời nói cùng với củng cố hành vi để tối ưu hóa tác động của hiệu ứng giả dược trong trị liệu.

Trong một biến thể khác, nghiên cứu về tác động của hiệu ứng giả dược lên cảm giác đau dược hai ống kem, cả hai ống đều không có tác dụng lâm sàng nhưng một ống được bảo rằng có tác dụng trị đau. Hai ống này được được thoa vào hai vùng da khác nhau của nghiệm thể.

Nghiệm thể được bảo rằng kích thích cảm giác đau ở cả hai vùng da này đều tương đồng, tuy nhiên trong thực tế kích thích cảm giác đau ở vùng bôi giả dược nhẹ hơn, củng cố niềm tin của nghiệm thể về công hiệu của giả dược.

Trong bài kiểm tra cuối cùng, kích thích cảm giác đau đồng đều ở cả hai vùng da, hiệu ứng giả dược được kiểm định. Đây là phương pháp phổ biến nhất trong các nghiên cứu về hình ảnh thần kinh, thường là thiết kế cùng nhón (một nghiệm thể dùng cả hai ống).

d. Thiết kế điều hòa dược lý

Kết hợp các gợi ý bằng lời nói, các dấu hiệu về bối cảnh (ví dụ: một chai sữa có mùi vị đặc trưng) kết hợp với thuốc xuyên suốt quá trình điều kiện hóa, thường kéo dài vài ngày. Hiệu ứng giả dược được xác định bằng cách cho cả hai nhóm chỉ dùng chai sữa có mùi vị đặc trưng trong giai đoạn kiểm tra và so sánh kết quả giữa hai nhóm.

Thiết kế điều hòa phản ứng và điều hòa dược lý được dùng trong nghiên cứu cả người và động vật.

3. Các bằng chứng hình ảnh thần kinh

Hình a là tổng quan về các vùng của não bộ có liên quan đến hiệu ứng giả dược. Những vùng màu xanh phản hồi với các kích thích đau, những vùng màu đỏ có liên hệ với những phản ứng trong các phương pháp trị liệu giả dược (cả trong lẫn trước kích thích đau). Kết quả thực nghiệm ở hình b cho thấy sự gia tăng hoạt động ở những điểm màu đỏ và giảm thiểu hoạt động ở những điểm màu xanh.

4. Khái niệm luận, liên kết và bối cảnh

Những liên kết tiền nhận thức (pre-cognitive associations) là những mối liên kết giữa các sự kiện hoặc/và sự việc tồn tại ngoài ý thức của ta. Những mối liên kết này được hình thành từ quá trình điều kiện hóa hoặc do bẩm sinh (tiến hóa)

Các quy trình khái niệm luận (conceptual processes) là những quy trình phụ thuộc vào việc diễn dịch bối cảnh và mối quan hệ của nó với những thông tin có sẵn từ trước (quy tắc, ký ức,..), bao gồm các tính hiệu nội cảm thụ từ cơ thể và có thể được cập nhật để phản hồi lại những thông tin mới nhận.

Kết quả điều trị, cũng như hiệu ứng giả dược, được đo đạc bằng sinh lý bệnh (các dấu hiệu), báo cáo về trải nghiệm (triệu chứng) và hành vi. Những kết quả này bị tác động bằng nhiều cách bởi hai thành phần của bối cảnh điều trị là những tương tác tiền nhận thức và các quy trình khái niệm.

Quy trình khái niệm có thể tác động đến mong đợi, nhận định và ký ức. Những yếu tố này lại có thể ảnh hưởng đến cảm xúc, động lực hay hành vi và báo cáo về trải nghiệm. Quá trình tương tác tiền nhận thức tác động đến các quá trình sinh lý nằm ngoài kiểm soát của ý thức, sau đó thể tác động đến cảm xúc, động lực và cả những kết quả có thể nhìn thấy được bên ngoài. Một số loại hiệu ứng giả dược có thể ảnh hưởng qua trung gian là cảm xúc, trong khi một vài hiệu ứng giả dược khác thì hoạt động độc lập.

Nhóm thực hiện: Lê Bảo Ân, Định Thị Huệ Anh, Nguyễn Phương Trà, Nguyễn Chí Bảo, Trần Nguyễn Nhuận An.

Design ảnh: Thiên Tứ.

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Hiệu ứng Placebo Effect