Họ Cà Phê (Rubiaceae)
Ruột gà
Tên khoa học:Borreria articularis (L. f.) F. N. Will.
Tên đồng nghĩa:Spermacoce articularis L. f.
Họ:Cà phê (Rubiaceae)
Tên nước ngoài:Shaggy Buttonweed.
Mẫu thu hái tại:huyện Cần giờ, thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6-2009.
Số hiệu mẫu:RG 0609
Thân [hình 1] cỏ, mọc đứng, đoạn gần gốc hơi sà. Thân non [hình 2] màu xanh, thân già [hình 3] màu nâu tím; tiết diện vuông, cạnh như có cánh. Trên thân có lông, rất nhiều ở 4 cánh, lông màu trắng, ngắn. Lá [hình 4] đơn, mọc đối. Phiến lá hình bầu dục, đầu nhọn, hơi tròn ở gốc, dài 2-2.6 cm, rộng 1-1.5 cm, mặt trên xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn, bìa phiến nguyên. Gân lá hình lông chim, 3-4 cặp gân phụ, rõ ở mặt dưới. Hai mặt lá có lông ngắn nhưng mặt dưới rất nhiều ở các gân lá. Cuống lá dài 1-2 mm, dẹp, màu xanh nhạt. Lá kèm [hình 5] là một phiến gồm có 2 phần: phía dưới là một phiến mỏng dài 1-2 mm, có nhiều lông màu trắng ở bề mặt; phía trên chia thành 5 tơ nhọn, dài 3-5 mm, các tơ ở giữa dài hơn các tơ hai bên. Tại mỗi mấu lá: 2 cuống lá mọc đối dính với phần dưới của 2 lá kèm tạo thành một chén [hình 6] bao lấy cụm hoa. Cụm hoa [hình 7]: Chụm 2-7 hoa ở nách lá nhưng nở không đều nhau. Hoa [hình 8] đều, lưỡng tính, mẫu 4, màu tím nhạt, không cuống Lá bắc và lá bắc con dạng sợi, mảnh, màu trắng, dài 5 mm. Lá đài 4, đều, hơi dính ở đáy, dạng vảy, thuôn dài 2 mm, đầu nhọn, có nhiều lông, một gân giữa; tiền khai van. Cánh hoa 4, màu tím nhạt; ống tràng dài 1.5 mm, màu trắng, hơi loe ở họng; 4 tai hình bầu dục, nhọn ở đỉnh, dài 2-2.5 mm, màu tím nhạt, trên mỗi tai có một gân giữa màu trắng và hai sọc tím đậm ở hai bên, mặt ngoài giữa mỗi tai có một lằn lông [hình 9] màu trắng; tiền khai van. Nhị [hình 10] 4, đều, rời, đính ở họng tràng, xen kẽ cánh hoa; chỉ nhị màu trắng, nhẵn, dài 1 mm; bao phấn hình bầu dục, màu trắng ngà, dài bằng 1/2 chỉ nhị, 2 ô, nứt dọc, đính giữa, hướng trong. Hạt phấn [hình 11] rời, màu vàng nhạt, hình cầu, đường kính 58-68 m, có rãnh dọc và nhiều lỗ nảy mầm. Lá noãn [hình 12] 2, bầu dưới, 2 ô, mỗi ô 1 noãn, đính noãn trung trụ, mặt ngoài bầu có lông. Vòi nhụy [hình 13] 1, dạng sợi mảnh, màu trắng, nhẵn, dài 4.5 mm; đầu nhụy 2, hình khối, màu trắng, ngắn, nhiều gai nạt. Đĩa mật hình khoen, màu xanh nhạt trên đỉnh bầu. Quả [hình 14] nang, hình bầu dục, kích thước 5x2.5 mm, có nhiều lông trắng ở mặt ngoài, đài tồn tại. Vỏ quả non màu xanh, khi già màu vàng nâu. Hạt [hình 15] 1 trong mỗi ô, hình bầu dục, kích thước 3x1.5 mm; non màu trắng, già màu nâu vàng, mặt trên hơi phồng, mặt dưới có rãnh dọc to. Quan sát dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 40 lần, mặt trên có nhiều vân [hình 16] giống như mô mềm.
Hoa thức và Hoa đồ:
Vi phẫu thân [hình 17] tiết diên vuông, 4 góc có cánh ngắn. Biểu bì là những tế bào hình vuông, hơi tròn ở góc, kích thước khá đều, cutin răng cưa rõ, lỗ khí [hình 18] nằm cùng mức với biểu bì. Lông che chở đơn bào hay đa bào (2-3 tế bào) một dãy ở 4 cánh. Mô dày tròn [hình 19] gồm 1 lớp quanh thân và 3-4 lớp ở góc thân. Mô mềm vỏ đạo, 5-7 lớp tế bào, hình bầu dục nằm ngang, tế bào mô mềm ở cánh hình tròn, kích thước không đều. Nội bì [hình 20] khung Caspary rõ, tế bào hình chữ nhật hay đa giác. Trụ bì là 1 lớp tế bào kích thước nhỏ hơn, bằng 1/4-1/8 tế bào nội bì. Libe 1 xếp thành cụm nhỏ, tế bào hình đa giác. Libe 2 gồm 2-3 lớp tế bào hình chữ nhật, dẹp, vách uốn lượn. Vùng gỗ [hình 21] gồm 9-10 lớp tế bào; mạch gỗ 2 ít, hình đa giác, tập trung ở 4 góc thân. Gỗ 1 nhiều, gồm 2-3 mạch gỗ, kích thước khá to, ly tâm rõ. Mô mềm tủy [hình 22] đạo, hình tròn hay đa giác, kích thước không đều. Tinh thể calci oxalat hình kim và hình cầu gai rải rác trong mô mềm vỏ và tủy. Vi phẫu lá [hình 23]: Gân giữa: Biểu bì trên lõm, tế bào biểu bì trên hình chữ nhật, biểu bì dưới hơi tròn, kích thước khá bằng nhau, cutin có răng cưa, ít lông che chở đơn bào. Mô dày tròn gồm 1-2 lớp tế bào ở dưới biểu bì trên và ở trên biểu bì dưới. Mô mềm đạo, tế bào hơi có góc cạnh, kích thước không đều nhau, rải rác có tinh thể calci oxalat hình khối. Cung libe gỗ [hình 24] gồm nhiều dãy mạch gỗ ở trên (mỗi dãy gồm 2-4 mạch), mạch gỗ hình đa giác, vách tẩm lignin xen kẽ với các tia gỗ vách còn cellulose; libe ở phía dưới gỗ, vách tế bào uốn lượn; mô dày góc bao quanh gỗ và libe. Phiến lá [hình 25]: Biểu bì trên là những tế bào gần vuông, kích thước không đều, cutin răng cưa mỏng. Mô mềm giậu gồm 2 lớp tế bào hình chữ nhật hay đa giác, lớp dưới bằng 2/3 kích thước lớp trên; có những tế bào mô mềm giậu kích thước khá lớn bên trong chứa tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Mô mềm khuyết tế bào hình tròn, hình bầu dục hay hình đa giác xếp khá lỏng lẻo. Tế bào biểu bì dưới hình chữ nhật dài, nhỏ, kích thước bằng 1/4 tế bào biểu bì trên, cutin răng cưa mỏng; lỗ khí nhiều. Lông che chở đơn bào hay đa bào một dãy, 2-3 tế bào. Tinh thể [hình 26] calci oxalat hình cầu gai hay hình kim tập trung thành từng bó trong tế bào ở phần thịt lá. Vi phẫu rễ [hình 27]: Bần gồm 2-3 lớp tế bào hình chữ nhật, vách mỏng. Mô mềm vỏ đạo, 7-8 lớp tế bào hình đa giác hay bầu dục nằm ngang, tinh thể calci oxalat hình kim thành bó nằm rải rác. Libe 1 rõ, libe 2 gồm 5-6 lớp tế bào hình chữ nhật, vách uốn lượn. Gỗ 2 chiếm tâm, mạch gỗ [hình 28] nhiều, khá to, hình bầu dục hay hình đa giác.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột toàn cây gồm các thành phần sau: Lông che chở đơn bào ít, lông đa bào một dãy 2-3 tế bào nhiều, vách mỏng. Mảnh biểu bì thân tế bào hình đa giác thuôn dài có lỗ khí. Mảnh biểu bì trên [hình 29] và dưới của lá tế bào hình đa giác, vách tế bào biểu bì dưới [hình 30] hơi uốn lượn, lỗ khí kiểu song bào khe hẹp. Mảnh mô giậu tế bào nhỏ. Mảnh mô mềm. Hạt phấn hoa tròn, nhiều lỗ nảy mầm. Mảnh vỏ quả trong. Mảnh vỏ hạt tế bào hình chữ nhật, vách hơi uốn lượn. Mảnh nội nhũ. Mảnh mạch [hình 31] xoắn, mạch vạch, mạch mạng [hình 32]. Tinh thể calci oxalat hình kim [hình 33], hình cầu gai, hình khối. Nhiều hạt tinh bột. Mảnh bần [hình 34] tế bào hình chữ nhật xếp xuyên tâm.
Phân bố, sinh học và sinh thái:Ấn Độ, Sri Lanka, Đông Nam Á và Trung Quốc. Thường mọc ở ven lộ, đất đỏ, nơi nhiều cát, sỏi.
Bộ phận dùng:Rễ (Radix Borreriae articularis).
Thành phần hóa học:Triterpenoid: 3-acetoxy-olean-12-en-29-oic acid.
Tác dụng dược lý - Công dụng:Dịch chiết toàn cây trên mặt đất của Borreria articularis có tác dụng kháng E. coli, Vibrio cholerae, Aspergillus ustus, A. ochraceus. Công dụng: Rễ dùng trị sốt, cành trị đau mắt.
Hình đính kèm Hình 1:Chi tử, Mác làng cương (Tày)
Tên khoa học:Gardenia augusta (L.) Merr. (Gardenia jasminoides Ellis)
Họ:Cà phê (Rubiaceae)
Tên nước ngoài:Cape jasmine (Anh)
Mẫu thu hái tại:Mẫu thu hái vào tháng 04 năm 2009, tại quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Cây bụi [hình 1], cao 1-2 m. Thân có tiết diện tròn, thân thật non có màu xanh, thân già có màu nâu đen và có những nốt sần. Lá đơn, mọc đối hay mọc vòng 3. Phiến lá hình thon ngược, dài 5-12 cm, rộng 1,5–4 cm, bìa phiến nguyên, màu xanh lục đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới. Gân lá hình lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, gân giữa màu trắng. Cuống lá rất ngắn 0,2-0,4 cm, mặt trên phẳng, mặt dưới lồi, màu xanh. Lá kèm [hình 2] của 2 lá mọc đối dính thành 1 ống cao 0,3 cm bao quanh thân, phía trên xẻ thành 1 phiến hình tam giác mỏng cao 0,5 cm, màu xanh nhạt, có các gân song song. Hoa [hình 3] to, mọc riêng lẻ ở ngọn cành hay chỗ phân nhánh của thân. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 6, rất thơm. Cuống hoa nhẵn, ngắn có 6 cạnh lồi, dài 0,2-0,3 cm, màu xanh. Lá bắc là lá thường. Lá đài 6, đều, màu xanh lục, dính nhau ở phía dưới tạo thành 1 ống cao 0,8 cm, thuôn dần về phía dưới; phía trên chia thành 6 thùy thuôn nhọn, cao 1-1,2 cm, rộng 0,2-0,3 cm. Mỗi lá đài có 1 sóng giữa chạy dọc xuống bầu noãn và cuống hoa. Tiền khai van. Đài tồn tại. Cánh hoa 6, đều, dính nhau ở phía dưới tạo thành ống tràng hình đinh cao 5 cm, nhẵn, màu xanh lục nhạt, đỉnh ống tràng; phía trên chia thành 6 thùy, mỗi thùy có hình bầu dục đầu trmàu trắng kích thước 3,2 x 1,5 cm, màu trắng, đỉnh mặt dưới mỗi thùy có màu ngà vàng. Tiền khai vặn cùng chiều kim đồng hồ. Nhị 6, đều, rời, đính trên miệng ống tràng, xen kẽ cánh hoa, chỉ nhị dạng sợi rất ngắn 0,1 cm, màu trắng ngà. Bao phấn thuôn dài, 1,7-1,8 cm, mặt bụng màu vàng, mặt lưng màu trắng, đỉnh màu trắng; 2 ô, nứt dọc, hướng trong, đính giữa. Khi hoa nở bao phấn cong queo và ép sát các thùy của cánh hoa. Hạt phấn [hình 4] rời, màu vàng, chia 3 thùy, kích thước 37,5-50 µm. Lá noãn 2, vị trí trước sau, bầu [hình 5] dưới 2 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính noãn trung trụ, bầu noãn màu xanh nhạt có 6 sóng dọc. 1 vòi nhụy hình trụ, màu trắng, nhẵn, đính ở đỉnh bầu, dài gần 4 cm; 1 đầu nhụy hình chùy màu vàng nhạt, chia 2 thùy, trên đầu nhụy có những đường gân dọc. Đĩa mật [hình 6] dạng khoen màu vàng nhạt bao quanh gốc vòi nhụy. Quả [hình 7] mọng, hình thoi, dài 1,8 cm, đường kính 0,6 cm, màu vàng cam, có 6 sóng dọc màu vàng xanh. Đỉnh quả có 6 lá đài tồn tại. Cuống ngắn 0,3 cm, cũng có 6 sóng dọc màu xanh. Hạt dẹt, nhiều, màu nâu đỏ, kích thước 3 x 2 mm.
Hoa thức và Hoa đồ:
Tiêu bản:
Vi phẫu thân [hình 8] Vi phẫu hình gần tròn ở thân non hoặc bầu dục ở thân già. Biểu bì tế bào hình chữ nhật xếp khít nhau. Bần gồm 2 lớp tế bào hình chữ nhật xếp xuyên tâm, lớp tế bào ngoài cùng kích thước lớn gấp 3-4 lần lớp tế bào bên trong, vách phía ngoài tẩm chất bần dày; lục bì là 1-2 lớp tế bào vách bằng cellulose. Mô dày tròn, 3-4 lớp tế bào gần tròn hoặc hơi đa giác, kích thước không đều nhau. Mô mềm vỏ khuyết, 8-9 lớp tế bào gần tròn, bầu dục hoặc hơi đa giác xếp lộn xộn, vách dày bằng cellulose. Trụ bì hóa mô cứng thành 1 vòng không liên tục ở thân non, liên tục ở thân già, 1-3 lớp tế bào hình đa giác hoặc gần tròn, kích thước bằng 1/2-1/3 tế bào mô mềm vỏ. Hệ thống dẫn gồm có: libe 1 xếp thành từng cụm; libe 2: 3-4 lớp tế bào xếp xuyên tâm; gỗ 2: mạch gỗ xếp thành từng dãy xen kẽ 1-2 dãy tế bào mô mềm gỗ; gỗ 1 phân bố thành từng cụm, mỗi cụm 5-10 bó. Mô mềm tủy khuyết, tế bào gần tròn hay đa giác vách dày bằng cellulose, kích thước không đều nhau, lớn gấp 2 lần tế bào mô mềm vỏ, 1-4 lớp tế bào mô mềm tủy dưới gỗ 1 hóa mô cứng thành từng cụm ở thân non, thành 1 vòng liên tục ở thân già. Có nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai [hình 9] trong mô mềm vỏ và mô mềm tủy, tinh thể calci oxalat hình khối [hình 10] sát tế bào trụ bì. Vi phẫu lá [hình 11]: Gân giữa: mặt dưới lồi nhiều hơn mặt trên. Biểu bì tế bào hình chữ nhật hoặc đa giác xếp khít nhau, tế bào biểu bì trên kích thước lớn gấp 2-3 lần tế bào biểu bì dưới. Mô dày tròn, 3-4 lớp tế bào hình đa giác, có kích thước lớn ở biểu bì trên và nhỏ hơn ở biểu bì dưới; ở biểu bì trên mô dày chỉ có ở phần giữa của gân lá, 2 bên cụm mô dày là các tế bào mô mềm chứa lục lạp. Mô mềm khuyết ở 2 bên và trong vòng libe gỗ, tế bào hình đa giác hoặc gần tròn, kích thước không đều nhau; vùng mô mềm khuyết phía dưới vòng libe gỗ tế bào bị ép dẹp hơn. Vòng libe gỗ hình bán nguyệt với gỗ ở trong, libe ở ngoài. Trong vòng libe gỗ có 2-3 cụm libe gỗ nhỏ với gỗ ở trên, libe ở dưới; mô dày góc, tế bào hơi đa giác kích thước không đều nhau. Trụ bì hóa mô cứng tạo thành một vòng không liên tục, 1-2 lớp tế bào hình tròn hoặc đa giác vách dày, kích thước nhỏ. Trên một số vi phẫu lá, phía ngoài vòng trụ bì là 1-2 lớp tế bào mô dày góc hình đa giác, kích thước bằng tế bào mô dày góc trong vòng libe gỗ. Phiến lá [hình 12]: tế bào biểu bì trên lớn gấp 4-5 lần tế bào biểu bì dưới, rải rác có lỗ khí ở biểu bì dưới. Mô mềm giậu, 2-3 lớp tế bào hình thuôn dài. Mô mềm khuyết tế bào hình tròn, đa giác hoặc bầu dục. Rải rác có tinh thể calci oxalat hình cầu gai trong mô mềm khuyết và mô mềm giậu; những tế bào mô mềm giậu chứa tinh thể calci oxalat có hình gần tròn, kích thước lớn gấp 2-3 lần tế bào mô mềm giậu khác. Trong mô mềm khuyết có các bó gân phụ với gỗ ở trên, libe ở dưới, bao xung quanh là lớp tế bào mô dày góc. Vi phẫu cuống lá [hình 13]: Mặt dưới lồi nhiều hơn mặt trên. Biểu bì tế bào hình chữ nhật hoặc đa giác xếp khít nhau. Mô dày tròn, 3-4 lớp tế bào gần tròn hoặc đa giác. Mô mềm khuyết, tế bào gần tròn hoặc đa giác kích thước, không đều nhau và lớn hơn tế bào mô dày tròn, xếp lộn xộn, vách dày bằng cellulose; vùng mô mềm khuyết dưới cung libe gỗ có kích thước lớn hơn vùng phía trên cung libe gỗ. Cung libe gỗ với gỗ ở trên, libe ở dưới; bao xung quanh cung libe gỗ là mô dày tròn, 1-3 lớp tế bào hình đa giác hoặc bầu dục, kích thước nhỏ hơn mô dày tròn ở dưới biểu bì. 3-4 bó libe gỗ phụ với gỗ ở trên, libe ở dưới, bao xung quanh là lớp mô dày góc. Nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai trong mô mềm khuyết, rải rác trong mô dày. Vi phẫu quả [hình 14]: Vi phẫu quả có hình sao. Vỏ quả ngoài 1 lớp tế bào hình thuôn dài. Vỏ quả giữa gồm 2 phần: phần ngoài là 4 – 5 lớp tế bào mô dày góc, tế bào hình chữ nhật, kích thước bằng hoặc lớn hơn tế bào vỏ quả ngoài; phần trong gồm nhiều lớp tế bào hình bầu dục hoặc đa giác sắp xếp chừa những khuyết nhỏ, có chứa nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Trong vùng vỏ giữa có các bó libe gỗ [hình 15] sắp xếp lộn xộn. Mỗi bó có cấu tạo với gỗ ở trong, libe ở ngoài, hay gỗ ở dưới libe ở trên, bao xung quanh là 3-4 lớp tế bào mô dày góc. Một số bó libe gỗ có tế bào mô dày góc hoá mô cứng. Vỏ quả trong, gồm 2-3 lớp tế bào mô cứng vách dày, hình đa giác.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột quả [hình 16] thô, màu đỏ cam. Thành phần: sợi [hình 17] xếp thành từng đám hay riêng lẻ. Tế bào mô cứng riêng lẻ có 2 loại: tế bào hình chữ nhật kích thước nhỏ, khoang hẹp; tế bào hình đa giác lớn hơn, khoang rộng, vách tương đối dày. Đám tế bào mô cứng ở vỏ quả [hình 18], tế bào hình chữ nhật, hình tròn hay đa giác, kích thước 40-75 x 17,5-30 µm; khoang chứa những tinh thể calci oxalat hình lăng trụ [hình 19] kích thước 8-15 µm. Đám tế bào mô cứng ở vỏ hạt [hình 20] màu vàng hoặc nâu nhạt, hình đa giác dài, hình chữ nhật, có khoang màu đỏ nâu và những lỗ, kích thước 80-175 µm x 30-62,5 µm. Mảnh vỏ quả ngoài và giữa gồm những tế bào hình đa giác hay bầu dục vách mỏng. Mảnh nội nhũ [hình 21]. Mảnh mô mềm chứa tinh thể calci oxalat hình cầu gai, kích thước 25-30 µm. Hạt tinh bột [hình 22] hình bầu dục, tròn hay đa giác, tễ rõ hay không rõ, kích thước 12,5- 20 µm.
Phân bố, sinh học và sinh thái:Phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Phi và châu Á. Ở Việt Nam cây mọc khắp các tỉnh đồng bằng và trung du. Mùa ra hoa: tháng 5-7, mùa ra quả: tháng 7-10.
Bộ phận dùng:Quả (fructus Gardeniae), thường dùng với tên Chi tử
Thành phần hóa học:Quả Dành dành chứa các iridoid glycosid: gardosid, shanzhisid, geniposid, acid geniposidid, geniposid, genipingentiobiosid, scandosid methylester, desacetylasperulosid methyl ester, gardenosid. Các chất 5-hydroxygeniposid, và 10-acetylgeniposid. Các acid hữu cơ: acid picrocrocinic, acid 3-cafeoyl-4-sinapoyl quinic. Các sắc tố -crosin, -crocetin. Lá chứa một chất iridoid là cerbinal. Hoa chứa steroid: acid gardenoic B ; 2 cycloartan triterpenoid: acid gardenic và acid gardenolic B. Tinh dầu: benzyl acetat, hydroxycentronenlal và eugenol.
Tác dụng dược lý - Công dụng:Quả Dành dành dùng chữa: viêm gan nhiễm trùng vàng da, sốt, bồn chồn, khó ngủ, vàng da, huyết nhiệt, tiểu tiện khó khăn, mắt đỏ đau, miệng khát. Quả Dành dành sao đen có tác dụng chỉ huyết, lương huyết dùng chữa chảy máu cam, nôn ra máu. Bài thuốc có Dành dành chữa viêm gan vàng da vàng mắt: Nhân trần 30g, Chi tử 12g, vỏ Đại 10g. Bài thuốc chữa viêm gan nhiễm trùng vàng da: Chi tử 9g, Nhân trần 18g, Đại hoàng 6g, sắc uống
Hình đính kèm Hình 1:Cóc mẵn, Lưỡi rắn, Bòi ngòi ngù, Vỏ chu, Vương thái tô, Đơn dòng, Đơn thảo, Xương cá, Nọc sởi, Mai hồng, An điền, Xà thiệt thảo, Tán phòng hoa nhĩ thảo
Tên khoa học:Hedyotis corymbosa (L.) Lam.
Tên đồng nghĩa:Oldenlandia corymbosa L.
Họ:Cà phê (Rubiaceae)
Tên nước ngoài:Hedyotis à fleur diamant, Flat-top mille graines, Diamond flower
Mẫu thu hái tại:thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4-2009
Số hiệu mẫu:LR 0409
Thân [hình 1] cỏ, hơi mập, mọc sà, phân nhánh nhiều, dài 30-40 cm, không lông. Thân non tiết diện vuông, màu xanh hay nâu tím; thân già tiết diện tròn, màu nâu. Lá [hình 2] đơn, mọc đối. Phiến lá thuôn hẹp, hai đầu nhọn, dài 2-4 cm, rộng 4-8 mm, mặt trên màu xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn; bìa lá nguyên. Gân lá hình lông chim, chỉ có gân chính nổi rõ, các gân phụ khó thấy bằng mắt thường nhưng có thể thấy được qua kính lúp. Cuống lá ngắn, mép lá men dần xuống cuống. Lá kèm [hình 3] là một phiến mỏng, màu trắng trên chia 4-5 tơ, trong đó 2 tơ bìa dài khoảng 1.5-2 mm, các tơ giữa ngắn hơn. Cụm hoa [hình 4] là xim mang 2-4 hoa ở nách lá đôi khi ở ngọn cành. Hoa màu trắng [hình 5] hay tím nhạt [hình 6]. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 4 [hình 7]. Cuống hoa dài 2-10 mm. Lá bắc và lá bắc con màu xanh, dạng vảy dài 0.5 mm. Lá đài 4, màu xanh, hơi dính nhau ở phía dưới, trên chia 4 thùy hình tam giác hẹp, dài khoảng 1 mm, tiền khai van. Cánh hoa 4, ống tràng cao 1-2 mm; 4 tai thuôn dài, đầu nhọn dài bằng ống tràng; tiền khai van. Phía trong họng tràng [hình 8] có nhiều lông dài, màu trắng. Nhị [hình 9] 4, rời, đính ở đáy ống tràng, xen kẽ cánh hoa. Chỉ nhị dài bằng bao phấn; bao phấn hình bầu dục, màu nâu, 2 ô, đính giữa, hướng trong, nứt dọc. Hạt phấn [hình 10] rời, nhỏ, tròn, đường kính 20-25 μm, màu trắng ngà, có 1-3 lỗ nảy mầm. Lá noãn [hình 11] 2, bầu dưới, 2 ô, mỗi ô chứa nhiều noãn, đính noãn trung trụ, giá noãn rất lồi. Vòi nhụy [hình 12] 1, rất ngắn, màu trắng; đầu nhụy 2, màu vàng có nhiều gai nạc. Quả [hình 13] nang, cao 1.5-2 mm, rộng 2-3 mm, có 2 thùy cạn, mặt ngoài có 4 gân, đài tồn tại. Quả lúc non màu xanh, lúc già màu vàng nhạt. Hạt [hình 14] nhiều, nhỏ, màu nâu vàng, kích thước 0.4x0.3 mm. Quan sát dưới kinh hiển vi độ phóng đại 100 lần thấy hạt hình bầu dục hơi có góc cạnh hay hình nón [hình 15], trên bề mặt hạt có nhiều vân hình đa giác.
Hoa thức và Hoa đồ:
Tiêu bản:
Vi phẫu thân [hình 16] có 4 cạnh, 2 cạnh phẳng và 2 cạnh hơi lồi. Tế bào biểu bì hình chữ nhật, có lỗ khí [hình 17] rải rác; lớp cutin [hình 18] khá dày, có răng cưa cạn. Mô dày tròn ít, nằm ở 4 góc thân. Mô mềm vỏ là mô mềm đạo, gồm 6-8 lớp tế bào hình bầu dục, nằm ngang, kích thước không đều, vách mỏng; rải rác có các tinh thể calci oxalat [hình 19] hình kim riêng lẻ hay tập trung thành bó. Nội bì [hình 20] là một lớp tế bào hơi dẹp, khá đều ở thân non và trưởng thành; đai Caspary chỉ thấy rõ được ở đoạn thân già. Trụ bì gồm 1 lớp tế bào kích thước nhỏ, xếp xen kẽ nội bì; tuy nhiên có một vài vị trí lớp trụ bì không rõ, khi đó các cụm libe 1 áp sát nội bì. Libe 1 xếp thành từng cụm, tế bào có kích thước nhỏ, không đều, vách uốn lượn. Libe 2 gồm 3-4 lớp tế bào hình chữ nhật, xếp khá đều. Gỗ 2 [hình 21] khá nhiều, mạch gỗ gần tròn hay bầu dục, tập trung ở 2 cạnh phẳng, 2 cạnh lồi chỉ có một vài mạch gỗ; tia gỗ nhiều, 1-2 dãy tế bào. Gỗ 1 rất nhiều, phân hóa ly tâm rất rõ, nằm phía dưới vùng có nhiều mạch gỗ 2, mỗi bó gồm 2-3 mạch gỗ. Các tế bào mô mềm tủy [hình 22] tròn hay bầu dục, kích thước không đều, càng vào trong càng to dần, xếp chừa những đạo nhỏ; tinh thể calci oxalat hình khối [hình 23] ít. Vi phẫu lá [hình 24]: Gân giữa: Mặt trên lõm, tế bào biểu bì gần vuông hay bầu dục đứng, xếp sát nhau. Mặt dưới lồi và tròn, kích thước tế bào biểu bì không đều, hơi lớn hơn tế bào biểu bì trên, cutin có răng cưa cạn, đôi khi có lông che chở đơn bào ngắn, rộng. Tế bào mô mềm to, hình đa giác hay gần tròn, xếp chừa những đạo hoặc khuyết nhỏ. Cung libe gỗ [hình 25] hướng về phía dưới, libe ở dưới, gỗ ở phía trên. Các dãy mạch gỗ xen kẽ với mô mềm gỗ vách còn cellulose. Phía trên gỗ và phía dưới libe có một ít mô dày góc. Phiến lá [hình 26]: Tế bào biểu bì trên rất to, hình chữ nhật hay gần vuông, tròn ở cạnh dưới, cutin mỏng; rải rác có lông che chở đơn bào ngắn. Mô mềm giậu có 1 lớp tế bào, hình bầu dục, ngắn, phía dưới mỗi tế bào biểu bì có khoảng 4-7 tế bào mô mềm giậu. Mô mềm khuyết cấu tạo bởi những tế bào thuôn, hơi có góc cạnh, kích thước không đều, xếp chừa những khuyết to; rải rác có các bó tinh thể calci oxalat hình kim nằm trong tế bào. Tế bào biểu bì dưới nhỏ, bằng 1/5-1/10 tế bào biểu bì trên, lỗ khí nhiều. Vi phẫu rễ [hình 27]: Bần gồm 2-3 lớp tế bào hình chữ nhật xếp xuyên tâm. Mô mềm vỏ đạo, 4-5 lớp tế bào hình bầu dục, nằm ngang, các bó tinh thể calci oxalat hình kim và tinh thể calci oxalat hình khối nằm rải rác. Libe 1 rõ, thành từng cụm, tế bào nhỏ, vách hơi uốn lượn. Libe 2 nhiều, 6-7 lớp tế bào hình chữ nhật xếp xuyên tâm. Gỗ 2 chiếm tâm [hình 28]; mạch gỗ rất nhiều, kích thước không đều, hình tròn hay bầu dục.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột toàn cây gồm các thành phần sau: Mảnh biểu bì thân [hình 29] tế bào hình đa giác hơi thuôn dài. Mảnh biểu bì trên tế bào hình chữ nhật hay đa giác vách hơi uốn lượn. Mảnh biểu bì dưới [hình 30] tế bào có vách uốn lượn nhiều, mang lỗ khí kiểu song bào. Mảnh mô mềm. Hạt phấn hoa [hình 31] tròn, có 1-3 lỗ nảy mầm. Mảnh vỏ quả trong. Mảnh vỏ hạt, tế bào nhỏ, vách hơi uốn lượn. Mảnh nội nhũ. Mảnh mạch gồm nhiều loại: mạch xoắn [hình 32], mạch vòng, mạch vạch [hình 33], mạch mạng. Tinh thể calci oxalat hình kim [hình 34], hình khối [hình 35]. Mảnh bần [hình 36] là những tế bào hình chữ nhật xếp xuyên tâm.
Phân bố, sinh học và sinh thái:Loài phân bố khắp nơi, thường gặp ở sân vườn, đất nghèo, bình nguyên đến độ cao 300 m. Trên thế giới vùng phân bố của cây bao gồm hầu hết các nuớc trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ở Nam Á và Đông Nam Á như Ấn Độ, Xri Lanka, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Campuchia, Lào và đảo Hải Nam, Trung Quốc; còn có ở Châu Phi và Châu Mỹ. Cây ưa sáng và ẩm, thường mọc thành đám trên các bãi đất hoang, vườn, ruộng cao và nương rẫy. Cây có thể sống được trên nhiều loại đất, sinh trưởng và phát triển nhanh trong vụ hè thu và tàn lụi trước mùa đông. Cây ra hoa nhiều, khi quả già tự mở để phát tán hạt ra xung quanh.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Hedyotidis corymbosae). Rửa sạch, dùng tươi, phơi khô hay sao vàng.
Thành phần hóa học:Phần trên mặt đất chứa deacetylasperulosid, asperulosid, acid asperulosidic, acid deacetylasperulosidic, 10-O-benzoyldeacetyl asperulosidic methyl ester, scandosid methyl ester, 10-O-benzoyl scandosid methyl ester, 10-O-p. hydroxylbenzoyl scandosid methyl ester, 10-O-pcoumaroyl scandosidmethyl ester (Otsuka Heideoki và cs, 1991). Theo “Trung dược từ hải”, tập I, 1993 cây có chứa corymbosin, asperulosid, acid geniposidic, scandosid, asperglavcid. Ngoài ra trong lá còn chứa rất nhiều vitamin C.
Tác dụng dược lý - Công dụng:Toàn cây có tác dụng thanh nhiệt, giải độc; acid geniposidic trong cây có tác dụng tẩy xổ. Công dụng Theo kinh nghiệm dân gian, cây được dùng tươi để giải độc, chữa rắn cắn rất có hiệu quả. Khi bị rắn độc cắn, lập tức đặt garô phía trên vết rắn cắn cho nọc độc khỏi lan nhanh vào tuần hoàn của cơ thể, tiếp đó lấy một sợi tóc căng thẳng gạt đi gạt lại trên bề mặt vết thương để làm bật những răng phụ của rắn còn cắm trong da, nặn cho máu chảy ra. Sau đó lấy 100 g cây tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt cho uống, dùng bã đắp lên vết thương, băng lại, khi uống thuốc nên cởi dây garô. Ngày uống 2-3 lần. Những lần sau tăng liều lượng lên 200 g. Sau khi uống thuốc, người bị nạn thấy đỡ đau nhức, ngủ được. Ngoài tác dụng chữa rắn cắn, cây còn chữa sốt cao, sốt cách nhiệt, đau nhức xương, thấp khớp. Ở Đài Loan, cây cũng được dùng làm thuốc hạ sốt. Ở Philipines, dùng làm thuốc kiện vị, bổ thần kinh và chữa đau răng. Ở Malaysia, cây được giã nát, đắp ngoài để là lành vết thương. Ở Trung Quốc và Ấn Độ, cây được dùng như một vị thuốc cổ truyền để chữa các rối loạn về gan, đau lá lách và sưng gan, vàng da. Các nghiên cứu gần đây cho thấy H. corymbosa có tác dụng bảo vệ gan chống lại sự ngộ độc paracetamol. Ngoài ra, cây còn chữa sốt rét, ung thư ruột, bỏng, trị lãi; rễ trị đau dạ dày.
Hình đính kèm Hình 1:Bạch hoa xà thiệt thảo, An điền lan, Bòi ngòi bò, Cỏ lưỡi rắn hoa trắng
Tên khoa học:Hedyotis diffusa Willd.
Tên đồng nghĩa:Oldenlandia diffusa (Willd.) Roxb.
Họ:Cà phê (Rubiaceae)
Tên nước ngoài:Bai hua she she cao, Snake-needle grass.
Mẫu thu hái tại:Đồng nai, tháng 05-2009.
Số hiệu mẫu:LRT 0509
Thân [hình 1] cỏ, mọc bò, có đốt thưa. Thân non 4 cạnh, màu xanh hay nâu nhạt; thân già [hình 2] tiết diện tròn, màu nâu tím, thân càng già càng nâu đậm, bề mặt có nhiều nốt sần. Lá [hình 3] đơn, mọc đối. Phiến lá thuôn hẹp, đầu nhọn; dài 1.5-3 cm, rộng 1-3 mm, mặt trên màu xanh lục đậm và có nhiều chấm lốm đốm, mặt dưới nhạt hơn. Bìa lá nguyên, hơi cuộn xuống phía dưới. Lá có một gân giữa nổi rõ ở mặt dưới, các gân bên không rõ. Không có cuống lá. Lá kèm [hình 4] là một phiến màu xanh nhạt, cao 1.5-2 mm; đỉnh chia 2-3 răng không đều, màu nâu nhạt. Hoa [hình 5] riêng lẻ hiếm khi 2 hoa ở nách lá. Hoa nhỏ, đều, lưỡng tính, mẫu 4. Cuống hoa 1-5 mm, màu nâu. Bao hoa [hình 6]: Lá đài 4, màu xanh, mép và gân giữa màu nâu tím, hơi dính ở đáy; 4 thùy hình tam giác hay hình trứng nhọn ở đầu, dài 1 mm, bìa có rìa lông; tiền khai van. Cánh hoa 4, màu trắng hay phớt tím; ống tràng cao 2 mm, loe ở họng, bên trong không có lông; 4 thùy ngắn hơn ống tràng, hình bầu dục, đầu nhọn; tiền khai van. Nhị [hình 7] 4, đính ở gần họng tràng, xen kẽ cánh hoa; chỉ nhị màu trắng, ngắn; bao phấn dài bằng chỉ nhị, màu trắng ngà, 2 ô, nứt dọc, đính giữa, hướng trong. Hạt phấn [hình 8] rời, màu vàng nhạt, hình cầu, đường kính 30-32 mm, có 1-3 lỗ nảy mầm, bề mặt có nhiều chấm tròn, chiết quang. Lá noãn [hình 9] 2, bầu dưới, 2 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính noãn trung trụ, giá noãn rất lồi. Vòi nhụy [hình 10] 1, màu vàng nhạt, nhẵn, dài 2 mm, đính trên đỉnh bầu. Đầu nhụy 2, màu trắng, thuôn dài, nằm sát nhau, dài tương đương vòi nhụy, có nhiều gai nạc. Quả [hình 11] nang; cuống màu tím ở gốc, màu xanh ở ngọn. Quả hình bán cầu hơi hẹp lại ở đỉnh, có 2 thùy cạn, cao 2-2.5 mm, rộng 3 mm, các lá đài tồn tại hơi tỏa ra nhưng không vuông góc với quả. Vỏ quả khi non màu xanh, khi già màu vàng nâu. Hạt [hình 12] nhiều, nhỏ, màu nâu vàng, hình dạng khác nhau: đa giác, trứng hay bầu dục có góc cạnh, kích thước 0.3x0.2 mm. Dưới kính hiển vi độ phóng đại 100 lần thấy bề mặt hạt có nhiều vân đậm hình đa giác.
Hoa thức và Hoa đồ:
Tiêu bản:
Vi phẫu thân [hình 13] trưởng thành gần tròn. Biểu bì là những tế bào hình vuông hay hình chữ nhật, kích thước to và khá đều, có lỗ khí rải rác. Mặt ngoài biểu bì có lớp cutin răng cưa mỏng; lông che chở [hình 14] đơn bào to, ngắn, đầu tù, bề mặt có vết lấm tấm. Mô mềm vỏ [hình 15] là mô mềm đạo, gồm 3-4 lớp tế bào, hình tròn hay hình bầu dục nằm ngang, kích thước không đều, vách mỏng, có các tinh thể calci oxalat hình kim tập trung thành từng bó trong tế bào. Nội bì tạo thành vòng liên tục, tế bào hình chữ nhật hay đa giác, kích thước không đều, thân già thấy rõ đai Caspary [hình 16], lớp nội bì phát quang [hình 17] khi soi bằng ánh sáng huỳnh quang. Tế bào trụ bì kích thước nhỏ hơn nội bì. Libe 1 xếp thành từng cụm, tế bào nhỏ, vách uốn lượn. Libe 2 gồm 2-3 lớp tế bào hình chữ nhật, dẹp, xếp khá đều. Vùng gỗ 2 [hình 18] gồm từ 5-7 lớp tế bào, mạch gỗ 2 to, hình đa giác, nằm rải rác; tia gỗ nhiều, tia libe tế bào có kích thước khá lớn. Bó gỗ 1 thường cấu tạo bởi 2-3 mạch gỗ, phân hóa ly tâm rõ; ít nằm phía dưới các mạch gỗ 2 mà thường có ở dưới vùng mô mềm gỗ cấp 2. Mô mềm tủy [hình 19] là những tế bào tròn hay hơi đa giác, kích thước không đều, xếp chừa những đạo nhỏ. Tinh thể calci oxalat hình khối hiếm. Vi phẫu lá [hình 20]: Gân giữa: Mặt trên hơi lõm, tế bào biểu bì hình bầu dục đứng, cutin có răng cưa cạn. Biểu bì dưới tế bào gần tròn, nhỏ hơn tế bào biểu bì trên; lông che chở đơn bào ngắn, rộng, đầu hơi thuôn, bề mặt có nhiều chấm. Tế bào mô mềm to, hình đa giác, không đều, xếp chừa những đạo nhỏ. Cung libe gỗ hướng về phía dưới: gỗ ở trên, mạch gỗ hình đa giác, tia gỗ rõ; libe ở dưới. Mô dày góc nằm trên gỗ và phía dưới libe. Phiến lá [hình 21]: Tế bào biểu bì trên rất to, hình vuông, bầu dục hay đa giác có cạnh. Mô mềm giậu gồm 2 lớp tế bào, lớp trên là những tế bào thuôn dài, lớp dưới xếp xen kẽ và có kích thước bằng 1/2 lớp trên. Mô mềm khuyết là những tế bào hình bầu dục hay tròn xếp chừa những khuyết nhỏ. Tế bào biểu bì dưới hình bầu dục hẹp, kích thước rất nhỏ so với tế bào biểu bì trên, có nhiều lỗ khí. Tinh thể calci oxalat hình kim và hình khối ít. Vi phẫu rễ [hình 22]: Bần gồm 2-3 lớp tế bào hình chữ nhật, kích thước nhỏ. Mô mềm vỏ đạo, hình tròn hay bầu dục nằm ngang, có tinh thể calci oxalat hình kim thành từng bó nằm trong tế bào nhưng không nhiều. Libe 1 rõ, libe 2 ít. Gỗ 2 chiếm tâm, mạch gỗ to, hình bầu dục hay đa giác nhưng không nhiều.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột toàn cây gồm các thành phần sau: Mảnh biểu bì thân gồm những tế bào hình đa giác thuôn dài, mang lỗ khí kiểu song bào. Mảnh biểu bì trên [hình 23] của lá tế bào hình đa giác, hơi dài, không có lỗ khí. Mảnh biểu bì dưới [hình 24] của lá, tế bào có vách uốn lượn, mang lỗ khí kiểu song bào, khe lỗ khí hẹp. Mảnh mô mềm. Hạt phấn hoa tròn, có 1-3 lỗ nảy mầm. Mảnh vỏ quả trong. Mảnh vỏ hạt tế bào hình đa giác. Mảnh nội nhũ. Mảnh mạch gồm các loại: mạch xoắn, mạch vạch, mạch mạng. Tinh thể calci oxalat hình kim, hình khối ít.
Phân bố, sinh học và sinh thái:Đông Nam và Tây Nam Trung Quốc, các nước nhiệt đới ở vùng Châu Á. Cây mọc ở nhiều nơi, thường gặp ở các bờ ruộng, vùng trung du và đồng bằng, nhất là vào tháng 6. Ra hoa quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa hè-thu, tháng7-9.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Hedyotidis diffusae) thường được gọi là Bạch hoa xà thiệt thảo. Thu hái vào mùa hè, thu. Rửa sạch, phơi khô để dùng.
Thành phần hóa học:Cây có các flavonoid như: kaempferol, kaempferol 3-O-beta-D-glucopyranosid, kaempferol3-O-(6"-O-L-rhamnosyl)-beta-D-glucopyranosid, quercetin 3-O-beta-D-glucopyranosid và quercetin 3-O-(2"-O-beta-D-glucopyranosyl)-beta-D-glucopyranosid. Ngoài ra còn có acid urolic, b-sitosterol, stigmasterol, các iridoid glucosid như: 6-O-p-coumaroyl, 6-O-p-methoxycinnamoyl và 6-O-feruloyl ester của scandosid methyl ester.
Tác dụng dược lý - Công dụng:Tác dụng bảo vệ thần kinh trên chuột thử nghiệm. Cây có tác dụng ức chế mạnh tế bào ung thư lympho, tế bào ung thư bạch cầu hạt và bạch cầu đơn nhân. Với nồng độ 0.5-1 g dược liệu/ml có tác dụng ức chế tế bào báng Ehrlich và tế bào carcinom. Cây còn có tác dụng ức chế hiện tượng gây đột biến do aflatoxin B1 tạo nên, khi dùng chủng vi khuẩn Salmonella typhymurium TA 100 làm thí nghiệm. Ngoài ra, cây cũng kích thích sự tăng sinh của tế bào lách chuột, do đó người ta cho rằng dược liệu có khả năng điều hòa miễn dịch. Về tác dụng chống viêm, nước sắc H. diffusa tăng cường khả năng thực bào của hệ thống mô lưới - nội mô (reticulo endomethelium) và của tế bào bạch cầu. Công dụng Rất thông dụng với tên Bạch hoa xà thiệt thảo (Việt nam) hay Bai hua she she cao (Trung Quốc). Cây được sử dụng ở nước ta từ thời Tuệ Tĩnh, dùng chữa rắn cắn, sởi đậu, chống ung thư; trị lậu, máu xấu, thiếu mật, bao tử bị ung nhọt và bệnh, trị bệnh gan, hạch, ung thư... Ở Trung Quốc được dùng làm thuốc chống viêm, chữa phế nhiệt, hen suyễn, viêm họng, viêm amygdale, viêm đường tiết niệu, viêm vùng chậu. Dùng ngoài, chữa vết thương, rắn cắn, côn trùng đốt, đau lưng, đau khớp. Còn dùng điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư dạ dày, trực tràng, ung thư gan thời kỳ đầu. Ở Ấn Độ, cây dùng trị bệnh về gan mật, vàng da, sốt, lậu, máu xấu. H. diffusa còn kết hợp với H. corymbosa và Mollugo pentaphylla dưới tên Peh-Hue-Juwa-Chi-Cao như một tác nhân chống khối u và dùng cho bệnh nhân ung thư sau xạ trị. Bài thuốc có Bạch hoa xà thiệt thảo: - Chữa viêm thận cấp có phù, nước tiểu có albumin: Bạch hoa xà thiệt thảo, Xa tiền thảo mỗi thứ 15 g, Mao căn 30 g, Sơn chi tử 9 g, Tô diệp 6 g. Sắc nước uống. - Chữa sỏi mật, viêm ống mật: Bạch hoa xà thiệt thảo, Nhân trần, Kim tiền thảo mỗi thứ 30 g, làm thành thuốc uống. - Chữa mụn nhọt, vết thương sưng đau: Bạch hoa xà thiệt thảo 30-60 g. Sắc nước uống. - Chữa trẻ em kinh nhiệt (sốt, co giật), khó ngủ: Bạch hoa xà thiệt thảo tươi, giã nát, vắt lấy nước, uống mỗi lần một thìa canh, ngày 2-3 lần. - Thuốc tiêm Bạch hoa xà thiệt thảo: Mỗi ống 2 ml, dung dịch trong, vàng đậm, dùng tiêm bắp, mỗi lần 2-4 ml, ngày 2 lần. Dùng chữa viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm amygdale, viêm phổi, viêm túi mật, viêm ruôt thừa, còn dùng trị ung thư.
Hình đính kèm Hình 1:Từ khóa » Cây Sần Sục
-
THIÊN NIÊN KIỆN - Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm OPC
-
Các Loại Cây Thuốc Nam Theo Đông Y Giúp Trị đau Nhức Xương Khớp
-
Phân Họ Đậu – Wikipedia Tiếng Việt
-
Dép Sục Nam đẹp Chất Lượng, Giá Tốt 2021
-
Giày Nam Sục Chất Lượng, Giá Tốt 2021
-
Máy Sục Ozone Z755 Của Bộ Quốc Phòng 07/2022
-
Phát Hiện Loài ếch Cây Sần Và Thằn Lằn Ngón Mới
-
Cặp đôi Siêu Cây Cảnh Me - Tường Vi 'ế Chỏng Chơ' Sau Nhiều Năm ...
-
125 Năm Cao Su 'cho Vàng' ở Việt Nam - Kỳ 2: Ở 'đất Tổ' Cao Su Thảo ...
-
[PDF] 10 Các Bệnh Thối Rễ Và Thân Có Nguồn Gốc Từ đất
-
Cây Me Dáng Thác đổ Mây Bay ở TP.HCM - Vietnamnet
-
Chân Gà Cay Xả ớt Siêu Ngon 80g đồ ăn Vặt Chân Gà Cay Việt Nam ...
-
TT105 - SỤC THỂ THAO NY | Shopee Việt Nam