Họ Nguyễn Và Trần Lưu Quận
Có thể bạn quan tâm
NGUYỄN TỘC - AN DU BẮC, VĨNH LINH, QUẢNG TRỊ
Trần Lưu Quận,trích từ http://maps.google.com/Về nguồn gốc họ Nguyễn, sử thư Trung Quốc ghi là:1-Xuất từ họ Yển, hậu duệ của Cao Dao.2-Hậu duệ của Cao Dao, sống ở vùng Kinh thủy, nhà Thương phong lập nước Nguyễn, Văn Vương nhà Chu diệt nước Nguyễn, người trong nước chạy loạn lấy quốc hiệu làm họ.3-Từ họ Thạch cải sang.Cao Dao (皋陶) là hiền thần thời vua Vũ nhà Hạ, truyền thuyết nói Cao Dao sanh vào thời vua Nghiêu, thời vua Vũ nhà Hạ được cử giữ chức quan hình pháp, lấy chính trực trị người nên được xem là tỵ tổ tư pháp Trung Quốc.Khổng Tử liệt Cao Dao vào hàng Thượng Cổ tứ Thánh: Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ, Cao Dao.Sách “Minh nhất thống chí”, “Thanh nhất thống chí” đều ghi Cao Dao người Hồng Động.Sách “Hồng Động huyện chí” ghi Cao Dao người huyện Hồng Động, thôn Sĩ Sư, khi chết chôn tại phía đông thôn, miếu thờ lập ở phía đông bắc thôn.
Sĩ Sư http://www.tydao.comLại có thuyết khác, sách “Lã thị Xuân Thu thông thuyên” nói Cao Dao là quan Tư pháp thời Ngu Thuấn, người Cao thành (nay là Lục An tỉnh An Huy) Cao Dao là hậu duệ của Thiếu Hạo thủ lĩnh Đông Di, họ Yển. Hiện nay phía đông thành phố Lục An có mộ Cao Dao.
Cổ Cao Dao mộ http://baike.baidu.com/Tương truyền Cao Dao có ba người con trai. Con trưởng là Bá Ế (tức Bá Ích) giỏi thuần hóa chim thú, làm quan nước Ngu, ăn lộc ở Doanh nên mang họ Doanh, hậu duệ Bá Ích được phong ấp Tần hợp xưng Doanh Tần, Tần Thủy Hoàng chính là dòng dõi Bá Ích, con cháu Bá Ích sau dời về trấn Triệu Thành, huyện Hồng Động, tỉnh Sơn Tây là thủy tổ của họ Triệu. Con thứ Trọng Chấn, làm quan nhà Hạ, được phong đất Lục (Lục An, tỉnh An Huy). sau phong đất Yển ( Khúc Phụ Tây, tỉnh Sơn Đông) nên mang họ Yển. Họ Yển sau dời về Sở. Các họ Thư, Từ, Nguyễn, Giang, Hoàng, Diệp đều là hậu duệ của Cao Dao.Như vậy họ Nguyễn có nguồn gốc từ Cao Dao nhưng thuộc dòng con thứ Trọng Chấn. Trọng Chấn được phong ở đất Yển nên lấy họ Yển, về sau đến đời nhà Thương một số người họ Yển tụ cư về Kinh Xuyên kiến lập nên Nguyễn Quốc là chư hầu phía bắc nhà Thương. Khi nhà Thương suy tàn, nước Chu ở phía nam nước Nguyễn cũng là một chư hầu của Thương trở nên hùng mạnh đem quân diệt các chư hầu nhỏ, trong đó có Nguyễn Quốc.Thơ “Hoàng hỉ” trong thiên Đại Nhã Kinh Thi có nói về sự kiện này:密人不恭,敢距大邦,侵阮徂共。王赫斯怒,援整其旅,以按徂旅。Mật nhân bất cungCảm cự đại bangXâm Nguyễn tồ CungVương hách tư nộViên chỉnh kỳ lữDĩ át tồ lữ …(Nước Mật bất tùngDám cự đại bangĐánh Nguyễn chiếm CungVăn Vương nổi giậnChỉnh đốn quân lữĐể chận giặc hung…)(Nguyễn Thiếu Dũng dịch)Văn vương sau khi chiếm được nước Nguyễn, nước Cung, nước Mật không tùng phục đem quân tiến công vào Nguyễn và Cung, nước Chu phản công diệt luôn nước Mật.Người nước Nguyễn sợ bị hại phân tán khắp nơi nhưng không quên cố quốc mới lấy Nguyễn làm họ. Về sau người họ Nguyễn định cư ở đất Trần Lưu, đời Hán đặt Trần Lưu Quận từ đó dầu ở đâu trong tâm thức họ vẫn ghi sâu địa danh nầy mỗi khi tưởng nhớ về nguồn cội.Hiện nay nước Nguyễn, nước Cung nằm trong địa phận huyện Kinh Xuyên, tỉnh Cam Túc, nước Nguyễn thuộc khu vực Thành Quan, La Hán Động, Kinh Minh, Hồng Hà.
Địa bàn Nguyễn Quốc trích từ http://maps.google.com/Như vậy, họ Nguyễn có gốc từ Nguyễn Quốc đất Kinh Châu, tỉnh Cam Túc sau thiên cư về Trần Lưu Quận, tỉnh Hà Nam rồi qua nhiều đợt thiên di nữa đã định cư ở Việt Nam.Vấn đề đặt ra ở đây là phát xuất từ đất Trung Quốc hiện nay vậy họ Nguyễn là người Hoa hay người Việt?Câu trả lời rõ ràng họ Nguyễn là người Việt.Ở trên ta đã biết theo sử thư Trung Quốc, Cao Dao là người Đông Di, Đế Thuấn theo Mạnh Tử cũng là người Đông Di, đúng nghĩa không phải là người Hoa. Đông Di cũng là người Việt. Tứ Thánh thời Thượng cổ, xếp theo Khổng Tử, là Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ và Cao Dao, thì đều là người Việt vì tên gọi được cấu trúc theo ngữ thức Việt, chức vụ để trước (đế), tên để sau (Nghiêu, Thuấn, Vũ). Nếu theo ngữ pháp Hán ngữ phải viết là Nghiêu Đế, Thuấn Đế, Vũ Đế.Hai nhà Hạ, Thương là triều đại của người Việt.Trung Hoa mới lập quốc vào đời Chu họ là giống dân du mục miền Bắc ăn thực phẩm chính là thịt, cao lớn mạnh mẻ hơn người Việt phương Nam vốn là dân nông nghiệp, ăn ngủ cốc là chính.Nhà Hạ do Đế Vũ sáng lập, Đế Vũ là người Việt (tổ tiên của Việt Vương Câu Tiển), nhà Thương vốn người Đông Di, người miền biển, quốc hiệu của họ còn mang theo cả vỏ sò
(Chữ Thương 商trên Kim văn)Địa bàn của Thương kéo dài đến Trường Giang, nơi đây trước Thương đã là một lưu vực văn minh rồi, chứ không như sử thư Trung Quốc gọi là man di (với nghĩa mọi rợ).Chỉ cần xét tên gọi của Kiệt, vua cuối đời Hạ và Trụ, vua cuối đời Thương là ta có thể hình dung đó phải là triều đại của Việt với những con người nói tiếng Việt. Dân nhà Hạ, vì bất mãn với chính sách bạo ngược của vua nên lấy bộ phận sinh dục nam để miệt thị gọi là kiệt, âm này phải đọc đúng âm tiếng việt mới rõ hết nỗi phẩn uất đó. Thơ Vương phong trong Kinh Thi có câu 雞棲于桀 kê tê vu kiệt (gà đậu trên cọc), Kiệt, cọc, c.c cận âm. Cũng thế Trụ để chỉ động thái giao cấu mà chỉ có âm tục của tiếng Việt mới đọc đúng và gọi đúng sự ví von đó. Trụ đi đôi với Đắc Kỷ. Đắc kỷ đọc theo phiên thiết là đĩ.Nguồn gốc họ Nguyễn góp phần cho thấy người Việt ở đất Trung Hoa hiện nay trước người Hoa nhiều nghìn năm trước. Khi Hoàng Đế thắng Viêm Đế, diệt Si Vưu, một phần người Việt ở lại chịu đồng hóa, một phần khác thiên cư về phía nam phân rả thành Bách Việt dần dần cũng bị đồng hóa nhưng dấu vết Việt không phai nhập với dân bản địa sinh sống ở vùng Hoa Nam, một bộ phận khác chạy về Việt Nam nhập với người bản địa cũng là người Việt quyết tâm giữ vững bản sắc chủng tộc, chống lại sự đồng hóa và xâm lược của Trung Quốc.Họ Nguyễn ở Việt Nam phát thành họ lớn đã đóng góp rất nhiều công sức trong công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước.Nguyễn Thiếu DũngNguồn: http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=3241 Nhãn: Biên khảo
Kinh Việt - Trầm Tĩnh Nguyện Mấy mươi năm, hỏi cuộc đời. Hỏi mưa hỏi nắng ít lời vu vơ. Mấy mươi năm, hỏi nhạc thơ. Hỏi trầm hỏi bổng vẩn vơ những lời. Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi
Bài đăng
Atom
Bài đăng
Nhận xét
Atom
Nhận xét
Đại Gia Đình DƯƠNG TỘC và NGUYỄN TỘC - AN DU BẮC (1913)
Tằng tổ
Ông Bà Nội Tổ
Song thân
Nội tổ và con cháu ***** "AI THỜ CHA THÌ BÙ ĐẮP LỖI LẦM, AI KÍNH MẸ THÌ TÍCH TRỮ KHO BÁU" - Sách Huấn Ca 3,3
Trang
- Trang chủ
- Gia Phả Nguyễn Tộc - An Du Bắc
- Chi Bà TÍN
- Chi Bà NGHĨA - Ông VIÊN
- Chi Ông QUY - Bà NHẠN
- Chi Ông TRANG - Bà TRƯỚC
- Chi Bà TÌNH -
- Chi Ông NGHIÊM - Bà PHỐ
- Chi Bà NGHỊ - Ông LIỆU
- Chi Ông TRUNG - Bà KÝ
- Chi Bà HIẾU
- Chi Bà TRI - Ông ĐỨC
- Chi Bà CHÍ - Ông TƯ
- Chi Bà Ý - Ông PHÁN
- Chi Ông CHỈ - Bà TỬU
- Tuần San Gia Đình: Tuần 18-52/2011
- Bảng Gia Phả - cập nhật 01.04.2017(file jpg)
- Những Ngày Kỵ Giỗ
- Những Người Tận Hiến
- Quỹ Gia Tộc
- Hồi ký Bà ANNA TRƯƠNG THỊ CHÀ (28.01.1951 - 07.09.2021)
Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012
Họ Nguyễn và Trần Lưu Quận
Họ Nguyễn là một trong những họ lớn nhất Việt Nam. Đây là một họ có nguồn gốc khá phức tạp, không thuần nhất.Sỡ dĩ họ Nguyễn có nhân số đông là vì ngoài họ Nguyễn chính tông còn có một số do các dòng họ khác chuyển đổi sang do nhiều hoàn cảnh khác biệt. Như dòng họ Lý của Nhà Lý bị Trần Thủ Độ buộc phải đổi sang họ Nguyễn để ngăn chận việc họ Lý có thể khôi phục vương quyền đã mất về tay họ Trần. Sau khi triều nhà Hồ sụp đổ, nhiều người họ Hồ cải sang họ Nguyễn để được yên thân.Thời nhà Nguyễn một số người họ Trịnh, họ Lê đổi sang họ Nguyễn để tỵ nạn. Có họ Nguyễn chủ trương “sinh vi Nguyễn, tử vi Trần” khi sống mang họ Nguyễn khi chết trở về với họ gốc là họ Trần để khỏi bị hại.Cũng có một số họ do được ban quốc tính mà mang họ Nguyễn, thời Chúa Nguyễn họ Mạc của Mạc Cảnh Huống, người đã theo Nguyễn Hoàng vào Nam, góp nhiều công lao xây dựng xứ Đàng Trong được đổi thành họ Nguyễn Hữu (con Mạc Cảnh Huống là Nguyễn Hữu Vinh), về sau lại đổi thành họ Nguyễn Trường.Danh tướng Huỳnh Đức có công phò Gia Long được ban quốc tính đổi thành họ kép Nguyễn Huỳnh là Nguyễn Huỳnh Đức.Họ Nguyễn là người bản địa, không thấy gia phả họ Nguyễn ghi gốc tích ở nước Trung Hoa, người họ Nguyễn có tên đầu tiên trong chính sử Việt Nam là Nguyễn Bặc được suy tôn là thủy thái tổ của dòng họ Nguyễn Phúc Tộc.Theo truyền thuyết Tản Viên Sơn Thánh họ Nguyễn tên Tuấn.Tuy nhiên một số họ Nguyễn khi cúng tế lại bái vọng về Trần Lưu Quận như là nơi phát tích tự nghìn xưa của họ. Ngày nay nhiều họ Nguyễn mặc dầu không thể truy tầm tông tích tổ tiên, tuy chỉ biết có 5 hay 7 đời về trước vẫn nhận mình là người Trần Lưu Quận.
Trần Lưu Quận,trích từ http://maps.google.com/Về nguồn gốc họ Nguyễn, sử thư Trung Quốc ghi là:1-Xuất từ họ Yển, hậu duệ của Cao Dao.2-Hậu duệ của Cao Dao, sống ở vùng Kinh thủy, nhà Thương phong lập nước Nguyễn, Văn Vương nhà Chu diệt nước Nguyễn, người trong nước chạy loạn lấy quốc hiệu làm họ.3-Từ họ Thạch cải sang.Cao Dao (皋陶) là hiền thần thời vua Vũ nhà Hạ, truyền thuyết nói Cao Dao sanh vào thời vua Nghiêu, thời vua Vũ nhà Hạ được cử giữ chức quan hình pháp, lấy chính trực trị người nên được xem là tỵ tổ tư pháp Trung Quốc.Khổng Tử liệt Cao Dao vào hàng Thượng Cổ tứ Thánh: Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ, Cao Dao.Sách “Minh nhất thống chí”, “Thanh nhất thống chí” đều ghi Cao Dao người Hồng Động.Sách “Hồng Động huyện chí” ghi Cao Dao người huyện Hồng Động, thôn Sĩ Sư, khi chết chôn tại phía đông thôn, miếu thờ lập ở phía đông bắc thôn.
Sĩ Sư http://www.tydao.comLại có thuyết khác, sách “Lã thị Xuân Thu thông thuyên” nói Cao Dao là quan Tư pháp thời Ngu Thuấn, người Cao thành (nay là Lục An tỉnh An Huy) Cao Dao là hậu duệ của Thiếu Hạo thủ lĩnh Đông Di, họ Yển. Hiện nay phía đông thành phố Lục An có mộ Cao Dao.
Cổ Cao Dao mộ http://baike.baidu.com/Tương truyền Cao Dao có ba người con trai. Con trưởng là Bá Ế (tức Bá Ích) giỏi thuần hóa chim thú, làm quan nước Ngu, ăn lộc ở Doanh nên mang họ Doanh, hậu duệ Bá Ích được phong ấp Tần hợp xưng Doanh Tần, Tần Thủy Hoàng chính là dòng dõi Bá Ích, con cháu Bá Ích sau dời về trấn Triệu Thành, huyện Hồng Động, tỉnh Sơn Tây là thủy tổ của họ Triệu. Con thứ Trọng Chấn, làm quan nhà Hạ, được phong đất Lục (Lục An, tỉnh An Huy). sau phong đất Yển ( Khúc Phụ Tây, tỉnh Sơn Đông) nên mang họ Yển. Họ Yển sau dời về Sở. Các họ Thư, Từ, Nguyễn, Giang, Hoàng, Diệp đều là hậu duệ của Cao Dao.Như vậy họ Nguyễn có nguồn gốc từ Cao Dao nhưng thuộc dòng con thứ Trọng Chấn. Trọng Chấn được phong ở đất Yển nên lấy họ Yển, về sau đến đời nhà Thương một số người họ Yển tụ cư về Kinh Xuyên kiến lập nên Nguyễn Quốc là chư hầu phía bắc nhà Thương. Khi nhà Thương suy tàn, nước Chu ở phía nam nước Nguyễn cũng là một chư hầu của Thương trở nên hùng mạnh đem quân diệt các chư hầu nhỏ, trong đó có Nguyễn Quốc.Thơ “Hoàng hỉ” trong thiên Đại Nhã Kinh Thi có nói về sự kiện này:密人不恭,敢距大邦,侵阮徂共。王赫斯怒,援整其旅,以按徂旅。Mật nhân bất cungCảm cự đại bangXâm Nguyễn tồ CungVương hách tư nộViên chỉnh kỳ lữDĩ át tồ lữ …(Nước Mật bất tùngDám cự đại bangĐánh Nguyễn chiếm CungVăn Vương nổi giậnChỉnh đốn quân lữĐể chận giặc hung…)(Nguyễn Thiếu Dũng dịch)Văn vương sau khi chiếm được nước Nguyễn, nước Cung, nước Mật không tùng phục đem quân tiến công vào Nguyễn và Cung, nước Chu phản công diệt luôn nước Mật.Người nước Nguyễn sợ bị hại phân tán khắp nơi nhưng không quên cố quốc mới lấy Nguyễn làm họ. Về sau người họ Nguyễn định cư ở đất Trần Lưu, đời Hán đặt Trần Lưu Quận từ đó dầu ở đâu trong tâm thức họ vẫn ghi sâu địa danh nầy mỗi khi tưởng nhớ về nguồn cội.Hiện nay nước Nguyễn, nước Cung nằm trong địa phận huyện Kinh Xuyên, tỉnh Cam Túc, nước Nguyễn thuộc khu vực Thành Quan, La Hán Động, Kinh Minh, Hồng Hà.
Địa bàn Nguyễn Quốc trích từ http://maps.google.com/Như vậy, họ Nguyễn có gốc từ Nguyễn Quốc đất Kinh Châu, tỉnh Cam Túc sau thiên cư về Trần Lưu Quận, tỉnh Hà Nam rồi qua nhiều đợt thiên di nữa đã định cư ở Việt Nam.Vấn đề đặt ra ở đây là phát xuất từ đất Trung Quốc hiện nay vậy họ Nguyễn là người Hoa hay người Việt?Câu trả lời rõ ràng họ Nguyễn là người Việt.Ở trên ta đã biết theo sử thư Trung Quốc, Cao Dao là người Đông Di, Đế Thuấn theo Mạnh Tử cũng là người Đông Di, đúng nghĩa không phải là người Hoa. Đông Di cũng là người Việt. Tứ Thánh thời Thượng cổ, xếp theo Khổng Tử, là Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ và Cao Dao, thì đều là người Việt vì tên gọi được cấu trúc theo ngữ thức Việt, chức vụ để trước (đế), tên để sau (Nghiêu, Thuấn, Vũ). Nếu theo ngữ pháp Hán ngữ phải viết là Nghiêu Đế, Thuấn Đế, Vũ Đế.Hai nhà Hạ, Thương là triều đại của người Việt.Trung Hoa mới lập quốc vào đời Chu họ là giống dân du mục miền Bắc ăn thực phẩm chính là thịt, cao lớn mạnh mẻ hơn người Việt phương Nam vốn là dân nông nghiệp, ăn ngủ cốc là chính.Nhà Hạ do Đế Vũ sáng lập, Đế Vũ là người Việt (tổ tiên của Việt Vương Câu Tiển), nhà Thương vốn người Đông Di, người miền biển, quốc hiệu của họ còn mang theo cả vỏ sò
(Chữ Thương 商trên Kim văn)Địa bàn của Thương kéo dài đến Trường Giang, nơi đây trước Thương đã là một lưu vực văn minh rồi, chứ không như sử thư Trung Quốc gọi là man di (với nghĩa mọi rợ).Chỉ cần xét tên gọi của Kiệt, vua cuối đời Hạ và Trụ, vua cuối đời Thương là ta có thể hình dung đó phải là triều đại của Việt với những con người nói tiếng Việt. Dân nhà Hạ, vì bất mãn với chính sách bạo ngược của vua nên lấy bộ phận sinh dục nam để miệt thị gọi là kiệt, âm này phải đọc đúng âm tiếng việt mới rõ hết nỗi phẩn uất đó. Thơ Vương phong trong Kinh Thi có câu 雞棲于桀 kê tê vu kiệt (gà đậu trên cọc), Kiệt, cọc, c.c cận âm. Cũng thế Trụ để chỉ động thái giao cấu mà chỉ có âm tục của tiếng Việt mới đọc đúng và gọi đúng sự ví von đó. Trụ đi đôi với Đắc Kỷ. Đắc kỷ đọc theo phiên thiết là đĩ.Nguồn gốc họ Nguyễn góp phần cho thấy người Việt ở đất Trung Hoa hiện nay trước người Hoa nhiều nghìn năm trước. Khi Hoàng Đế thắng Viêm Đế, diệt Si Vưu, một phần người Việt ở lại chịu đồng hóa, một phần khác thiên cư về phía nam phân rả thành Bách Việt dần dần cũng bị đồng hóa nhưng dấu vết Việt không phai nhập với dân bản địa sinh sống ở vùng Hoa Nam, một bộ phận khác chạy về Việt Nam nhập với người bản địa cũng là người Việt quyết tâm giữ vững bản sắc chủng tộc, chống lại sự đồng hóa và xâm lược của Trung Quốc.Họ Nguyễn ở Việt Nam phát thành họ lớn đã đóng góp rất nhiều công sức trong công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước.Nguyễn Thiếu DũngNguồn: http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=3241 Nhãn: Biên khảo Không có nhận xét nào:
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ Đăng ký: Đăng Nhận xét (Atom)Giới thiệu về tôi
Kinh Việt - Trầm Tĩnh Nguyện Mấy mươi năm, hỏi cuộc đời. Hỏi mưa hỏi nắng ít lời vu vơ. Mấy mươi năm, hỏi nhạc thơ. Hỏi trầm hỏi bổng vẩn vơ những lời. Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi ĐẠI DIỆN CÁC VÙNG
- Bà Rịa-Vũng Tàu: Hoàng Ngọc Thuần - 0962.500.563 - [email protected]
- Suối Nghệ: Nguyễn Văn Dũng - 0933.755.145 - [email protected]
- Quảng Thuận: Hoàng Mỹ Ái - 0683.850.078
- Đà Lạt: Nguyễn Kim Phụng - 0633.532.999 - [email protected]
- Quảng Biên: Nguyễn Văn Tích - 0613.866.343
- Long Khánh: Hoàng Cảnh - 0613.756.688
- Sài Gòn: Nguyễn Văn Thông - 0902.728.016 - [email protected]
***
Tác giả - thể loại bài đăng
- Ảnh (48)
- Audio (1)
- Bản đồ (2)
- Bảng gia phả (1)
- Biên khảo (39)
- Cáo phó (41)
- Cây gia phả (1)
- Chúc mừng (46)
- Dương Bỉnh - biên khảo (3)
- Dương Bỉnh - gia phả (1)
- Dương Bỉnh - thơ (1)
- Dương Bỉnh - tùy bút (5)
- Giáo dục (16)
- Giáo dục gia đình (35)
- Giáo huấn (24)
- Giỗ Tộc 2009 (3)
- Giỗ Tộc 2010 (5)
- Giỗ Tộc 2011 (5)
- Giỗ Tộc 2012 (3)
- Giỗ tộc 2013 (3)
- Giỗ tộc 2014 (1)
- Giỗ tộc 2018 (1)
- Giỗ tộc 2019 (5)
- Giỗ tộc 2024 (2)
- Giỗ tôc 2025 (1)
- Hoàng Đức - gia phả (1)
- Hoàng Ngọc Bường - gia phả (1)
- Hoàng Ngọc Lượng - thư ngỏ (1)
- Hoàng Thị Thái - gia phả (1)
- Hoàng Thị Tư - gia phả (1)
- Kinh nguyện (1)
- Lê Văn Gioang - gia phả (1)
- Lê Văn Gioang - giáo dục (1)
- Lê Văn Gioang - Tuỳ bút (1)
- Mục vụ (133)
- Mục vụ gia đình (26)
- Nguyễn Công Thọ - thơ (1)
- Nguyễn Thị Thanh - bút ký (2)
- Nguyễn Thị Thơm - gia phả (1)
- Nguyễn Tộc - thiệp mời (5)
- Nguyễn Trang - gia phả (1)
- Nguyễn Văn Bửu - bút ký (1)
- Nguyễn Văn Chỉ - gia phả (1)
- Nguyễn Văn Thông - gia phả (1)
- Nguyễn Văn Thông - sưu tầm (1)
- Nguyễn Văn Thông - thiệp mời (1)
- Nguyễn Văn Thông - thư ngỏ (1)
- Nguyễn Văn Trung - gia phả (1)
- Quỹ Gia Tộc (1)
- Thành hôn (20)
- Thánh vịnh (1)
- Thông báo (1)
- Thơ (2)
- Tin tức (52)
- Tuần san gia đình (5)
- Văn (4)
- Video (25)
Điện thư liên lạc
Xin Quý Bà Con trong NGUYỄN TỘC - AN DU BẮC vui lòng đóng góp ý kiến và cung cấp thêm tư liệu để chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện trang blog này.Các góp ý và tư liệu xin vui lòng gởi về:Nguyễn Văn Tị[email protected]Đăng ký cập nhật
Liên Kết
- ỦY BAN MỤC VỤ GIA ĐÌNH / HĐGMVN
- CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC
- GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
- GIAO DUYÊN
- HỌ TỘC NGUYỄN THANH
- VĂN NGHỆ QUẢNG TRỊ
Lưu trữ Blog
- ► 2025 (7)
- ► tháng 12 (1)
- ► tháng 9 (1)
- ► tháng 5 (1)
- ► tháng 4 (1)
- ► tháng 2 (1)
- ► tháng 1 (2)
- ► 2024 (7)
- ► tháng 12 (1)
- ► tháng 11 (1)
- ► tháng 8 (1)
- ► tháng 6 (1)
- ► tháng 4 (1)
- ► tháng 3 (1)
- ► tháng 2 (1)
- ► 2023 (6)
- ► tháng 12 (1)
- ► tháng 8 (1)
- ► tháng 7 (2)
- ► tháng 3 (1)
- ► tháng 1 (1)
- ► 2022 (2)
- ► tháng 12 (1)
- ► tháng 10 (1)
- ► 2021 (10)
- ► tháng 12 (1)
- ► tháng 11 (1)
- ► tháng 9 (2)
- ► tháng 4 (2)
- ► tháng 3 (3)
- ► tháng 2 (1)
- ► 2020 (5)
- ► tháng 10 (2)
- ► tháng 3 (2)
- ► tháng 1 (1)
- ► 2019 (10)
- ► tháng 10 (1)
- ► tháng 7 (2)
- ► tháng 5 (3)
- ► tháng 4 (1)
- ► tháng 3 (1)
- ► tháng 2 (1)
- ► tháng 1 (1)
- ► 2018 (7)
- ► tháng 12 (1)
- ► tháng 10 (2)
- ► tháng 9 (1)
- ► tháng 4 (1)
- ► tháng 2 (2)
- ► 2017 (11)
- ► tháng 12 (2)
- ► tháng 10 (1)
- ► tháng 9 (2)
- ► tháng 5 (1)
- ► tháng 3 (2)
- ► tháng 2 (2)
- ► tháng 1 (1)
- ► 2016 (11)
- ► tháng 12 (2)
- ► tháng 6 (1)
- ► tháng 3 (4)
- ► tháng 2 (1)
- ► tháng 1 (3)
- ► 2015 (11)
- ► tháng 12 (1)
- ► tháng 10 (1)
- ► tháng 9 (2)
- ► tháng 5 (1)
- ► tháng 4 (2)
- ► tháng 2 (1)
- ► tháng 1 (3)
- ► 2014 (19)
- ► tháng 12 (5)
- ► tháng 10 (1)
- ► tháng 7 (1)
- ► tháng 5 (4)
- ► tháng 4 (2)
- ► tháng 3 (1)
- ► tháng 2 (2)
- ► tháng 1 (3)
- ► 2013 (57)
- ► tháng 12 (3)
- ► tháng 8 (5)
- ► tháng 7 (9)
- ► tháng 6 (11)
- ► tháng 5 (3)
- ► tháng 4 (7)
- ► tháng 3 (7)
- ► tháng 2 (5)
- ► tháng 1 (7)
- ► 2011 (133)
- ► tháng 12 (16)
- ► tháng 11 (9)
- ► tháng 10 (10)
- ► tháng 9 (10)
- ► tháng 8 (12)
- ► tháng 7 (9)
- ► tháng 6 (7)
- ► tháng 5 (13)
- ► tháng 4 (15)
- ► tháng 3 (24)
- ► tháng 2 (4)
- ► tháng 1 (4)
- ► 2010 (63)
- ► tháng 12 (12)
- ► tháng 11 (8)
- ► tháng 10 (1)
- ► tháng 9 (1)
- ► tháng 8 (3)
- ► tháng 7 (1)
- ► tháng 6 (3)
- ► tháng 5 (3)
- ► tháng 4 (12)
- ► tháng 3 (8)
- ► tháng 2 (8)
- ► tháng 1 (3)
- ► 2009 (63)
- ► tháng 12 (4)
- ► tháng 11 (7)
- ► tháng 10 (8)
- ► tháng 9 (4)
- ► tháng 8 (4)
- ► tháng 7 (3)
- ► tháng 6 (5)
- ► tháng 5 (7)
- ► tháng 4 (10)
- ► tháng 3 (3)
- ► tháng 2 (2)
- ► tháng 1 (6)
- ► 2008 (76)
- ► tháng 12 (3)
- ► tháng 11 (10)
- ► tháng 10 (4)
- ► tháng 9 (3)
- ► tháng 8 (13)
- ► tháng 7 (15)
- ► tháng 6 (4)
- ► tháng 5 (3)
- ► tháng 4 (4)
- ► tháng 3 (4)
- ► tháng 2 (5)
- ► tháng 1 (8)
Đại Gia Đình DƯƠNG TỘC và NGUYỄN TỘC - AN DU BẮC (1913)
Ông Bà Nội Tổ
Song thân Từ khóa » Trần Lưu Quận Chữ Hán
-
Trần Lưu – Wikipedia Tiếng Việt
-
Giải Mã “Trần Lưu Quận” ở Bia Mộ Tổng Đốc Tổng Quản Quân Thủy
-
Mật Mã TRẦN LUƯ QUẬN
-
Tìm Hiểu Về Đường Hiệu, Quận Hiệu
-
LỄ GIỖ CỦA TỘC HỌ ĐẶNG - Viện Nghiên Cứu Hán Nôm
-
Gia Phả & Nguồn Gốc Một Số Họ Tộc - Welcome To IVCE
-
Cùng Tìm Hiểu Về Cách Lập Gia Phả Chữ Hán
-
Ý Nghĩa Của Tên Trần Lưu
-
Giải Mã “Trần Lưu Quận” ở Bia Mộ Tổng Đốc Tổng Quản Quân Thủy
-
Dòng Họ Nguyễn ở Trương Lưu (Hà Tĩnh): Lịch Sử Và Văn Hóa
-
DANH NHÂN XỨ THANH - CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ...
-
Xem Tranh Trần Lưu Mỹ Nghĩ Về Tranh Trừu Tượng - Báo Lao động
-
Nguồn Gốc Họ Lê Việt Nam Qua Các Nguồn Phả, Ngọc Phả Của Một ...