HỌC TỐT SO SÁNH LTVC LỚP 3 - Trường Tiểu Học An Bình B - Violet

MỞ ĐẦU

  1. 1. Lí do chọn đề tài

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học.một trong những nhiệm vụ của dạy học hiện nay là : hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước.

So sánh là một vấn đề mới và khó đối với học sinh lớp 3. Mặc dù có cấu trúc đơn giản và gần gũi với học sinh song nó lại là một hình thức, một phương diện diễn đạt nghệ thuật mà muốn có nó đòi hỏi chúng ta phải trải qua một quá trình tư duy - thao tác tư duy - tưởng tượng - liên tưởng - quan sát… So sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm. Và để có được những điều kiện trên đòi hỏi con người phải có vốn kinh nghiệm sống bao nhiêu thì khả năng liên tưởng , tưởng tượng ra những hình ảnh so sánh càng phong phú ý vị và độc đáo bấy nhiêu. Học sinh tiểu học có đủ điều kiện cần thiết để có thể tiếp nhận và sử dung so sánh trong hoạt động nói và viết của bản thân. Như vậy, chúng ta thấy nội dung so sánh là một nội dung mới nhưng vô cùng quan trọng đối với học sinh lớp 3. Nó không những cung cấp cho các em vốn từ ngữ phong phú mà còn giúp các em làm quen dần với cách nói nghệ thuật, cách diễn đạt có hình ảnh, biểu cảm sinh động… đồng thời cũng nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách các em, giúp các em trở thành những con người có tâm hồn nhân hậu, biết yêu thiên nhiên cây cỏ, yêu con người, yêu quê hương đất nước. Vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta phải có tổ chức như thế nào và phải biết khởi nguồn như thế nào để các em có thể phát huy được tối ưu khả năng học tập của mình.

Chính vì vậy, việc sử dụng “ Một số biện pháp giúp HS học tốt phép tu từ So sánh trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3” giúp các em hiểu và cảm nhận được những cái hay trong ngôn từ của Tiếng việt. Từ đó góp phần mở mang tri thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng Việt giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt cho học sinh. Chính vì những lí do trên mà tôi đã quyết định chọn đề tài này.

2. Mục đích của đề tài

* Đề xuất việc ứng dụng một số phương pháp dạy học vào việc những hiểu biết ban đầu và rèn kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3.

* Thiết kế quy trình dạy học các dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nhận thức rõ mục đích của đề tài tôi đặt cho mình nhiệm vụ sau:

* Tìm hiểu và điều tra thực trạng việc học biện pháp so sánh trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3

* Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó.

* Đề ra biện pháp giúp các em học tốt môn học này.

* Kiểm tra kết quả thu được khi áp dụng những biện pháp đó.

* Rút ra bài học kinh nghiệm và những đề xuất giúp học sinh biết thực hành, áp dụng trong quá trình học tập.

4. Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu lí luận

* Phương pháp điều tra

* Phương pháp thống kê số học...

5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3.3, trường Tiểu học An Bình B.

6 Đối tượng nghiên cứu

* Sách giáo khoa Tiếng việt 3 tập 1

* Học sinh lớp 3.3 trường tiểu học An Bình B

7. Tính mới của đề tài:

Tôi thiết nghĩ, việc dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3 đã được hầu hết các giáo viên chúng ta thực hiện hàng ngày. Nhưng làm thế nào để giúp các em học sinh học tốt và tạo cho các em hứng thú khi học về phép tu từ so sánh ở lớp 3 chính là tính mới của đề tài này.

NỘI DUNG

A. Cơ sở khoa học

* Ngôn ngữ nói chung, Tiếng Việt nói riêng có mối quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học tiếng Việt. Ngôn ngữ bao gồm một hệ thống các bộ phận ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Mỗi bộ phận của ngôn ngữ là một hệ thống nhỏ, có cơ cấu tổ chức riêng, có quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống ngôn ngữ.

* “ So sánh” là cách nói rất quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương. Nhờ phép so sánh người viết có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe. So sánh được xem là một trong những phương thức tạo hình hiệu quả nhất, có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá con người. Mặt khác nó còn làm cho tâm hồn và trí tuệ con người thêm phong phú, giúp con người cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế, sâu sắc hơn.

* Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ môn của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này. Lí luận dạy học đại cương cung cấp cho phương pháp dạy học Tiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học môn học. Nó vận dụng nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học theo đặc trưng của mình.

B. Thực trạng

1. Thuận lợi

* Về phía giáo viên

- Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao từ phía Ban giám hiệu nhà trường nên tôi dần dần quen với môi trường dạy học nơi đây và đang cố gắng hết mình để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của nhà trường đề ra.

- Phần lớn phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến việc học của con em mình.

- Tổ chuyên môn luôn quan tâm, dự giờ đóng góp ý kiến về việc dạy học của các thành viên trong tổ để chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

- Về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối khang trang, đầy đủ.

- Riêng bản thân tôi thì tôi luôn cố gắng học hỏi đồng nghiệp để trau dồi thêm kiến thức, kinh nghiệm cho mình.

* Về phía học sinh

Hầu hết các em đều có ý thức học tập, biết nghe lời thầy cô và bố mẹ.

2. Khó khăn

* Trường học đóng nơi đông dân cư và học sinh là con em của cư dân khắp mọi vùng miền.

* Phần lớn phụ huynh học sinh làm nghề công nhân nên họ ít có thời gian quan tâm đến học sinh.

* Bước đầu các em được cung cấp một số kiến thức về phép tu từ so sánh mà ở các lớp 1, lớp 2 học sinh chưa được làm quen với biện pháp nghệ thuật này nên còn nhiều bỡ ngỡ đối với học sinh.

C. NỘI DUNG

1. Khái niệm “so sánh”

Theo từ điển Tiếng Việt thì so sánh được định nghĩa như sau: So sánh là tìm ra những điểm giống, tương tự hoặc khác biệt nhau về mặt số lượng, kích thước, phẩm chất…

2. Mục tiêu của việc dạy học phép tu từ so sánh ở Tiểu học

Thống nhất với mục tiêu của chương trình Tiếng Việt ở tiểu học, mục tiêu của việc dạy học biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 là rèn kĩ năng. Thong qua việc giải bài tập, HS nhận diện phép tu từ so sánh tức là chỉ ra được hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết được sử dụng trong bài đồng thời hiểu được tác dụng của phép tu từ so sánh và vận dụng được chúng vào trong giao tiếp hàng ngày.

Ngoài việc nắm được dấu hiệu và hiểu được giá trị biểu cảm của phép tu từ so sánh , chương trình còn yêu cầu học sinh biết vận dụng tu từ so sánh vào việc nói và viết. Như là biết dùng hình ảnh so sánh sinh động trong giao tiếp, trong làm văn hay khi kể lại một câu chuyện mà các em được nghe, được đọc. đây cũng là một cách chuẩn bị dần để các em sử dụng thành thạo hơn phép so sánh tu từ khi làm các bài văn, kể chuyện, miêu tả ở lớp 4 , lớp 5 sau này.

Mặc dù những kiến thức về so sánh được dạy cho học sinh lớp 3 còn ở mức độ sơ giản, song thong qua đó chương trình còn muốn bước đầu trang bị cho học sinh những cách nói, cách nhìn giản dị mà sâu sắc, tinh tế về đời sống, văn hóa, văn học của con người Việt Nam. Từ đó, góp phần hình thành và phá triển tư tưởng, tình cảm và nhân cách học sinh.

3. Nội dung dạy học phép tu từ so sánh

* Nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong chương trình lớp 3 được học trong 7 tiết ở học kì I, cứ 2 tuần 1 tiết, chiếm khoảng 1/5 tổng số thời gian của chương trình học kì 1. Cụ thể như sau:

Tuần

Chủ điểm

Nội dung dạy học

Trang

1

Măng non

Làm quen với phép so sánh

8

3

Mái ấm

Tìm hình ảnh so sánh và tìm các từ chỉ sự so sánh

24

5

Tới trường

So sánh hơn kém, cách thêm các từ so sánh vào những câu chưa có từ so sánh

43

7

Cộng đồng

So sánh sự vật với con người

58

10

Quê hương

Làm quen so sánh âm thanh với âm thanh

79

12

Bắc – Trung -Nam

So sánh hoạt động với hoạt động

98

15

Anh em một nhà

Đặt câu có hình ảnh so sánh

126

* Phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 có các dạng so sánh sau:

- So sánh: Sự vật - Sự vật.

Mô hình này có các dạng sau:

A như B.

A là B.

A chẳng bằng B.

Trong đó:

+ A là sự vật thứ 1.

+ B là sự vật thứ 2.

Ví dụ:

"Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

(TV3, t.1, tr. 8)

- So sánh: Sự vật - Con người.

Dạng của mô hình so sánh này là:

A như B: + A có thể là con người.

+ B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh.

Ví dụ:

"Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan"

(TV3, t.1, tr.60)

- So sánh: Hoạt động - Hoạt động.

Cái so sánh và cái được so sánh đều là những hoạt động. Hoạt động của những con vật, của cây cối, của những loài tưởng chừng như vô tri vô giác song trong phép so sánh chúng lại trở nên sinh động, có hồn. Với yêu cầu nhận diện những hoạt động được so sánh với nhau, học sinh có cơ hội thâm nhập vào thế giới vô tri đó, biến chúng có tâm hồn để làm bầu bạn. Điều này, không chỉ kích thích hứng thú học tập của các em mà còn cung cấp cho các em những nhìn mới lạ về loại vật, cây cỏ... Những vật như tàu cau, như chiếc xuồng qua phép so sánh bỗng trở nên sống động như là những người bạn gần gũi và thân thiết đối với con người.

Ví dụ: Trong những đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau:

“Xuồng con đậu quanh thuyền lớn giống như đàn con nằm quanh bụng mẹ. Khi có gió, thuyền mẹ cót két rên rỉ, đám xuồng con lại húc húc vào mạn thuyền như đòi bú tí.”

(TV3, t.1, tr.98)

- So sánh: Âm thanh - Âm thanh.

Mô hình này có dạng sau:

A như B: + A là âm thanh thứ 1.

+ B là âm thanh thứ 2.

Cái so sánh và cái được so sánh là âm thanh đó là tiếng suối với tiếng đàn, tiếng chim với tiếng xóc của những rổ tiền đồng... Bất kì một âm thanh quen thuộc hay không quen thuộc đều trở thành đối tượng của phép so sánh miễn là chúng ta có một thính giác nhạy bén, một tâm hồn tế nhị và một trình độ thẩm âm nhất định.

Ví dụ: Hãy tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong câu thơ dưới đây:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

(TV3, t.1, tr.80)

4. Các dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3

4.1. Bài tập nhận diện phép tu từ so sánh

Ở loại bài tập này, hình thức bài tập thường là nêu ngữ liệu (câu văn, câu thơ; đoạn văn, đoạn thơ) trong đó, có sử dụng phép tu từ so sánh; yêu cầu học sinh chỉ ra các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh, các vế so sánh, các từ so sánh, các đặc điểm so sánh... với nhau trong các ngữ liệu đó. Sau đây, là một số dạng bài tập trong loại bài tập nhận biết.

Dạng 1: Tìm những sự vật được so sánh

Đây là dạng bài tập giúp học sinh bước đầu nắm được cấu trúc của phép so sánh. Với yêu cầu tìm những sự vật được so sánh với nhau các em sẽ tìm ra “cái so sánh” và “cái được so sánh” trong phép so sánh. Đây là những sự vật tồn tại xung quanh các em, gần gũi và quen thuộc đối với cuộc sống của các em, giúp các em dễ dàng liên tưởng đến sự tương đồng giữa chúng

Ví dụ: Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ dưới đây:

Ơ, cái dấu hỏi

Trông ngồ ngộ ghê,

Như vành tai nhỏ

Hỏi rồi lắng nghe

(TV3, t.1, tr.8)

Dạng 2: Tìm những hình ảnh so sánh:

Dạng bài tập này không chỉ yêu cầu học sinh tìm những sự vật được so sánh với nhau một cách riêng lẻ mà còn phải tìm cả hình ảnh so sánh. Tức là, các em phải tìm cả cấu trúc có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ của phép so sánh. Những hình ảnh so sánh này sẽ đem lại cho các em những cảm xúc tốt đẹp, những cách nhìn mới mẻ về sự vật, về cuộc sống xung quanh.

Ví dụ: Tìm hình ảnh so sánh trong câu văn dưới đây:

Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

(TV3, t.1, tr.24)

Dạng 3: Tìm các từ so sánh

Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta thường dùng từ như khi muốn so sánh một thứ gì đó. Chẳng hạn đẹp như tiên, xấu như ma, hiền như bụt... Tuy nhiên, trong phép tu từ so sánh có rất nhiều những từ dùng để so sánh như: là tựa, giống, như thể, như là,... Để giúp các em nhận ra được sự phong phú, đa dạng cũng như sự tinh tế của so sánh tu từ, sách giáo khoa đã cung cấp cho các em dạng bài tập tìm các từ so sánh.

Ví dụ: Hãy ghi lại các từ chỉ sự so sánh trong những câu sau

a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

Bác nhìn đến tận Cà mau cuối trời

b. Em yêu nhà em

Hàng xoan trước ngõ

Hoa xao xuyến nở

Như mây từng chùm

c. Mùa đông

Trời là cái tủ ướp lạnh

Mùa hè

Trời là cái bếp lò nung

(TV3, t.1, t.43)

4.2. Bài tập vận dụng phép tu từ so sánh

Dạng này có 2 loại bài tập nhỏ. Đó là, tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh và tập đặt câu có dùng phép so sánh. Ở loại thứ nhất, chương trình không yêu cầu cụ thể học sinh phải chỉ ra tác dụng của phép so sánh mà học sinh phải cảm nhận được cái hay của hình ảnh so sánh và diễn đạt cảm nhận ấy thành lời. Ở loại thứ hai, sách giáo khoa đã cung cấp sẵn nội dung so sánh qua các tranh vẽ từng cặp sự vật có đặc điểm giống nhau (hoặc gần giống nhau) về hình thức, học sinh chỉ cần xác định đối tượng so sánh và đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh ở từng cặp. Cũng loại bài tập này còn có dạng bài điền từ thích hợp vào chỗ trống, bài tập cho trước cái so sánh yêu cầu học sinh tìm ra cái để làm chuẩn so sánh. Cái khó là các em phải tìm được những hình ảnh so sánh hợp lí và sinh động.

* Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh

Để nhận biết được tác dụng của phép so sánh, bài tập đã mở ra cho học sinh một hướng tiếp nhận mới đó là tự mình đưa ra những đánh giá, những nhận xét của riêng mình dưới dạng như phát biểu cảm nghĩ. Chính vì mọi so sánh đều mang đậm dấu ấn cá nhân của người so sánh nên mỗi học sinh sẽ có một cách cảm thụ của riêng mình.

Ví dụ: Trong những hình ảnh so sánh ở bài tập, em thích hình ảnh nào? Vì sao?

a. Hai bàn tay em

Như hoa đầu cành.

b. Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.

c. Cánh diều như dấu “á

Ai vừa tung lên trời

d. Ơ, cái dấu hỏi

Trông ngồ ngộ ghê,

Như vành tai nhỏ

Hỏi rồi lắng nghe.

(TV3, t.1, tr.8)

Đây cũng là loại bài tập kích thích sự tưởng tượng, khả năng liên tưởng của các em, tạo cơ hội cho các em hoá thân vào phép so sánh để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của phép so sánh.

Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau:

Đã có ai lắng nghe

Tiếng mưa trong rừng cọ

Như tiếng thác dội về

Như ào ào trận gió

Qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng mưa trong rừng cọ ra sao?

(TV3, t.1, tr.80)

* Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh

Đây là yêu cầu cao nhất mà các em phải thực hiện khi học phép so sánh. Với những kiến thức đã được học, cộng với sự tri giác qua các bức tranh học sinh sẽ tìm được sự giống nhau giữa các sự vật trong tranh từ đó viết ra những câu có hình ảnh so sánh. Hoặc từ những cấu trúc cho trước, học sinh sẽ tìm những từ phù hợp điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh thành câu

Ví dụ 1: Quan sát từng cặp sự vật được vẽ dưới đây rồi viết những câu có hình ảnh so sánh các sự vật trong tranh...

(TV3, t.1, tr.126)

Ví dụ 2: Tìm những từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống:

a. Công cha nghĩa mẹ được so sánh như... , như...

b. Trời mưa, đường đất sét trơn như...

c. Ở thành phố có nhiều toà nhà cao như...

(TV3, t.1, tr.126)

5. Một số biện pháp nhằm hướng dẫn học sinh học tốt phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3

Nhìn chung, cách dạy hai loại bài tập này đều được thực hiện theo các bước sau:

* Giáo viên giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng câu hỏi, bằng lời giải thích).

* Giáo viên giúp học sinh chữa một phần của bài tập để làm mẫu.

* Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài.

* Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về phép tu từ so sánh.

Qua quá trình tìm hiểu một số phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học và nghiên cứu tính khả thi của chúng trong việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3, tôi đưa ra một cách ứng dụng như sau:

5.1. Ứng dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ vào việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3

Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học phép tu từ so sánh nói riêng. Giáo viên có thể vận dụng phương pháp này vào việc dạy các loại bài tập về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày cách sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ vào dạy 2 loại bài tập cơ bản của phép tu từ so sánh: Bài tập nhận diện và bài tập vận dụng.

5.1.1. Đối với loại bài tập nhận diện

Cách tiến hành

Ví dụ: Tiết luyện từ và câu tuần 1 (Tiếng Việt 3)

Bài tập 2: Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn dưới đây:

a. Hai bàn tay em

Như hoa đầu cành.

b. Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.

c. Cánh diều như dấu “á”

Ai vừa tung lên trời.

d. Ơ, cái dấu hỏi

Trông ngồ ngộ ghê,

Như vành tai nhỏ

Hỏi rồi lắng nghe.

(TV3, t.1, tr.8)

Bước 1: Giáo viên nêu nhiệm vụ và phổ biến hình thức tổ chức hoạt động

Thao tác 1: Học sinh đọc to ngữ liệu trong sách giáo khoa, cả lớp đọc thầm bằng mắt.

Thao tác 2: Giáo viên nêu nhiệm vụ: Các em hãy đọc kĩ các câu thơ, câu văn rồi tìm ra những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn đó.

Thao tác 3: Phổ biến hình thức tổ chức hoạt động (làm việc theo nhóm hoặc cá nhân)

Thao tác 4: Phát phiếu giao việc cho học sinh

Bước 2: HS tiến hành phân tích ngữ liệu và ghi kết quả vào phiếu

Bước 3: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả

Thao tác 1:Giáo viên treo bảng phụ có ghi những câu thơ, câu văn làm ngữ liệu trong sách giáo khoa

Thao tác: Học sinh báo cáo kết quả. Giáo viên dùng phấn gạch chân dưới những sự vật được so sánh với nhau.

Thao tác: Học sinh cả lớp theo dõi phân tích kết quả của bạn, nêu nhận xét bổ sung

Bước 4: Giáo viên tổ chức cho học sinh rút ra bài học, thông qua các câu hỏi dẫn dắt, gợi ý.

Đây là loại bài tập thực hành, nhưng mục đích là hình thành kiến thức mới về phép tu từ so sánh nên tiến hành phân tích - phát hiện là chủ yếu. Hướng phân tích tập trung vào cấu trúc cơ bản của phép so sánh và nhận diện ra 2 yếu tố quan trọng của phép tu từ so sánh là cái so sánh và cái được so sánh.

Hình thức tổ chức

Khi sử dụng này với hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, GV cần phối hợp vận dụng các hình thức dạy học như: dạy học theo nhóm, học cá nhân có sự hỗ trợ của phiếu giao việc.

5.1.2. Đối với loại bài tập vận dụng

Với loại bài này, khi sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ chủ yếu là thao tác phân tích chứng minh và phân tích phán đoán. Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh các điều kiện cần thiết khi tiến hành các mức độ phân tích đó.

Cách tiến hành

Ví dụ: Tiết Luyện từ và câu tuần 15 (Tiếng Việt 3)

Bài 3: Quan sát từng cặp sự vật được vẽ dưới đây rồi viết những câu có hình ảnh so sánh các sự vật trong tranh.

Bước 1: Xác định rõ yêu cầu bài tập

Nhiệm vụ 1: Quan sát từng cặp sự vật trong tranh

Nhiệm vụ 2: Viết những câu có hình ảnh so sánh các sự vật trong tranh

Bước 2: Quan sát kĩ các cặp trong tranh, viết tên từng cặp sự vật được so sánh trong tranh.

Bước 3: Nhớ lại những kiến thức về phép tu từ so sánh (cách so sánh)

Bước 4: Học sinh tiến hành làm việc và ghi kết quả vào phiếu

Bước 5: Học sinh trình bày kết quả

Dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh rút ra kiến thức cần củng cố: Muốn viết được những hình ảnh so sánh, trước hết ta cần quan sát kĩ các sự vật được so sánh với nhau, sau đó tìm ra sự giống nhau giữa chúng và từ đó viết hình ảnh so sánh.

5.2. Ứng dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu vào việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3

Đây là một phương pháp quan trọng trong việc dạy phép tu từ so sánh. phương pháp rèn luyện theo mẫu thường được sử dụng trong việc tạo ra các hình ảnh so sánh. Để áp dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu, giáo viên có thể tiến hành theo các bước sau đây:

* Cung cấp mẫu lời nói hoặc hành động lời nói.

* Hướng dẫn học sinh phân tích mẫu theo một số yêu cầu.

* Học sinh mô phỏng mẫu để tạo ra lời nói của mình.

* Kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm.

Sau đây, chúng tôi giới thiệu cách sử dụng phương pháp này vào việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh.

Ví dụ:. Hãy tìm các từ so sánh có thể thêm vào những câu chưa có từ so sánh ở bài tập 3.

M: Tàu dừa như chiếc lược chải vào mây xanh.

(TV3, t.1, tr.43)

Cách tiến hành:

Bước 1: Giáo viên treo bảng phụ có ghi bài tập lên bảng, gọi 1 học sinh đọc yêu cầu bài tập. Sau đó gọi tiếp 1 số học sinh đọc mẫu.

Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu

* Ở câu trên, sự vật nào được so sánh với sự vật nào?

* Từ nào là từ so sánh trong câu trên?

* Vì sao hai sự vật đó được so sánh với nhau?

* Khi so sánh các sự vật có đặc điểm giống nhau thì sẽ có những từ nào đẻ so sánh?

* Giáo viên lưu ý: Có thể tìm nhiều từ so sánh cùng nhgiax thay cho dấu gạch nối trong cùng một câu: “Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao”; “Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.”

* Dựa vào câu trên, em hãy tỡm thờm những từ so sánh vào các câu cho phù hợp.

Bước 3: Học sinh làm bài

Ví dụ:

* Quả dừa như là đàn lợn con nằm trên cao.

* Quả dừa như thể đàn lợn con nằm trên cao.

* Quả dừa tựa như đàn lợn con nằm trên cao.

……………………………………………….

Bước 4: Nhận xét, bổ sung.

Hay khi dạy dạng bài tập vận dụng phép tu từ so sánh cho học sinh , giáo viên có thể đưa ra bài tập sau để củng cố cho học sinh về dạng này:

Ví dụ: Em hãy đặt 3 câu trong đó có sử dụng biện pháp tu từ so sánh với từ sau:

a. Con đường

M: Con đường uốn cong như một dải lụa

Cách tiến hành: Cũng tương tự giống trên:

Bước 1: GV treo bảng phụ có ghi bài tập và hình ảnh so sánh mẫu lên bảng

Bước 2: GV hướng dẫn HS phân tích mẫu

- Ở câu trên, sự vật nào được so sánh với sự vật nào?

- Con đường và dải lụa có đặc điểm gì giống nhau?

- Ở câu trên, từ nào là từ dùng để so sánh?

- Con đường còn có thể so sánh với những sự vật nào?

- Dựa vào câu trên, với từ con đường em hãy đặt một câu trong đó có sử dụng phép tu từ so sánh

Bước 3: HS tập đặt câu

Ví dụ:

- Con đường thân thiết như một người bạn

- Con đường thẳng tắp như nét vẽ của một hoạ sĩ khổng lồ

Bước 4: Nhận xét, bổ sung.

5.3. Ứng dụng phương pháp thực hành giao tiếp vào việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3

Sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp trong dạy học phép so sánh là giáo viên đưa ra những bài tập tình huống để học sinh đặt mình vào hoàn cảnh nói năng, sản sinh ra những câu có sử dụng hình ảnh so sánh phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Những hình ảnh so sánh học sinh đưa ra là những hình ảnh so sánh thoã mãn nhu cầu giao tiếp cụ thể.

Hằng ngày, chúng ta vẫn thường xuyên so sánh cái này với cái kia, người này với người kia. Bất kì sự biểu đạt nào cũng có thể chuyển thành hình thức so sánh. Vì vậy, đây là phương pháp rất gần gũi đối với học sinh, tích cực hoá được hoạt động học tập của học sinh.

5.4. Ứng dụng phương pháp thảo luận nhóm vào việc dạy phép tu từ so sánh cho HS lớp 3

Mục đích của việc thảo luận nhóm là đặt học sinh vào trong giao tiếp, đưa các em vào từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, yêu cầu các em hoạt động giao tiếp để từ đó tự hình thành, củng cố, khắc sâu kiến thức và rèn luyện kĩ năng sử dụng phép so sánh trong giao tiếp. Qua hoạt động nhóm, giáo viên đánh giá được khả năng nắm kiến thức và vận dụng kiến thức về so sánh tu từ trong giao tiếp của học sinh.

Phương pháp thảo luận nhóm rất phù hợp với việc dạy phép so sánh tu từ cho học sinh. Có thể sử dụng phương pháp này để dạy cả 2 loại bài tập cơ bản của phép tu từ so sánh: Bài tập nhận diện và bài tập vận dụng. Tuy nhiên, phương pháp thảo luận nhóm được tiến hành trên 2 loại bài tập này gần giống nhau nên chúng tôi chỉ trình bày một cách thức tổ chức thảo luận nhóm.

Ví dụ: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để dạy loại bài tập nhận diện.

Bài: Luyện từ và câu Tuần 3 (TV3, t.1, tr.24)

Cụ thể các bước tiến hành như sau:

Bước 1: Phân nhóm (nhóm cùng bàn)

Bước 2: Phát phiếu giao việc, học sinh thảo luận và cùng nhau giải quyết các câu hỏi trong phiếu.

Phiếu giao việc

1. Tìm các hình ảnh so sánh trong những câu thơ, câu văn dưới đây:

a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

Bác nhìn đến tận Cà mau cuối trời.

b. Em yêu nhà em

Hàng xoan trước ngõ

Hoa xao xuyến nở

Như mây từng chùm

c. Mùa đông

Trời là cái tủ ướp lạnh

Mùa hè

Trời là cái bếp lò nung

d. Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

(TV3,t.1, tr.8)

2. Hãy ghi các từ chỉ sự so sánh trong những câu thơ trên

Bước 3: Thông qua thảo luận nhóm giải quyết các bài tập trong phiếu giao việc, dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh sẽ rút ra những kiến thức sau:

1. Các hình ảnh so sánh trong câu thơ, câu văn là:

a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

b. Hoa xao xuyến nở

Như mây từng chùm

c. Trời là cái tủ ướp lạnh - Trời là cái bếp lò nung

d. Dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

2. Các từ chỉ sự so sánh trong câu trên là: Tựa – như – là – là - là.

Tóm lại, phương pháp thảo luận nhóm có một vai trò rất quan trọng trong việc dạy kĩ năng nhận diện và vận dụng phép tu từ của học sinh. Phương pháp này góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp và giáo dục cho học sinh tính tập thể trong học tập.

5.5. Ứng dụng phương pháp trò chơi học tập tiếng Việt vào việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3

Qua nghiên cứu các bài dạy về phép so sánh, chúng tôi nhận thấy, phương pháp trò chơi học tập tiếng Việt có thể sử dụng trong các tiết học phép so sánh với mục đích ôn luyện kiến thức và kĩ năng sử dụng phép so sánh. Ngoài ra, sử dụng phương pháp này còn nhằm phát triển trí thông minh, khả năng sáng tạo để đáp ứng yêu cầu giao tiếp hàng ngày và phục vụ cho việc học tập đạt kết quả tốt.

Yêu cầu khi xây dựng trò chơi học tập

* Về mục đích: Trò chơi phải hướng vào việc củng cố kiến thức về phép tu từ so sánh, rèn luyện kĩ năng vận dụng phép so sánh trong giao tiếp.

* Về nội dung: Trò chơi phải chứa nội dung về phép so sánh. Thực chất, đây là những bài tập vui và nhẹ nhàng về phép so sánh.

* Hình thức chơi: Các trò chơi thường được tiến hành thi theo nhóm hay cả lớp tuỳ vào nội dung trò chơi. Trò chơi có thể do giáo viên hướng dẫn hoặc do học sinh tự tổ chức, góp phần rèn luyện tinh thần tập thể và sự hỗ trợ lẫn nhau trong học tập.

* Về cách chơi: Cách chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Tuỳ hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thực hiện trò chơi đơn giản (không cần chuẩn bị công phu) hay trò chơi có phần phức tạp (phải chuẩn bị trước) song phải đạt đựoc cái đích cuối cùng là củng cố kiến thức và tăng hứng thú học tập.

Ví dụ: Trò chơi Thử tài so sánh

Trò chơi này được tiến hành sau khi học xong bài Luyện từ và câu tuần 15, (TV3, t.1, tr.124) (Phần củng cố).

1. Mục đích:

* Rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ bằng cách tạo nhanh các cụm từ có hình ảnh so sánh đúng

* Luyện phản ứng nhanh, trau dồi trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng.

2. Chuẩn bị:

* Làm các tấm bìa bắng giấy cứng (kích thước khoảng 3x4 cm) ghi 6 từ sau: đọc, nói, trắng, đỏ, đẹp, nhanh đánh số thứ tự từ 1 đến 6 đính lên bảng

.* Cử trọng tài theo dõi cuộc thi, có giấy bút để ghi lại kết quả.

3. Cách tiến hành:

* Cho cả lớp tham gia, chia lớp làm hai đội, trọng tài cho bốc thăm xem đội nào chơi trước.

* Đội nào chọn thẻ số nào thì đội đó đọc thật nhanh cụm từ có hình ảnh so sánh có chứa từ có trong tấm bìa. Nếu đọc đúng thì có quyền chỉ định 1 bạn bất kì trong đội bạn tiếp tục cuộc chơi.

* Mỗi trường hợp đúng được 5 điểm; sai hoặc không trả lời được thì không được điểm và bị mất lượt chơi..

Trọng tài cùng các bạn chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai:

* Dựa vào điểm số của từng đội “thử tài so sánh’’ biểu dương đội thắng cuộc

Ví dụ:

* Đọc: đọc như quốc kêu, đọc như cháo chảy, đọc như nói thầm...

Tôi đã tiến hành vận dụng linh hoạt một số phương pháp dạy học nêu trên vào dạy học phép tu từ so sánh. Sau đây là một ví dụ:

KẾ HOẠCH BÀI DẠY (tuần 15)

Môn: Luyện từ và câu

Bài: Mở rộng vốn từ: Các dân tộc

Đặt câu có hình ảnh so sánh

I.Mục đích yêu cầu:

* Biết tên một số dân tộc thiểu số ở nước ta (BT1). Điền đúng từ ngữ thích hợp vào chỗ trống (BT2)

* Dựa theo tranh gợi ý, viết(hoặc nói) được câu có hình ảnh so sánh (BT3). Điền được từ ngữ thích hợp vào câu có hình ảnh so sánh (BT4)

* Giáo dục Hs thương yêu các dân tộc trên cùng một đất nước ViệtNam

II.Đồ dùng dạy học:

* Giấy khổ to viết tên 1 số dân tộc thiểu số ở nước ta phân theo khu vực: Bắc TrungNam.

* Bản đồ ViệtNam, tranh ảnh 1 số y phục dân tộc.

* 4 tờ giấy A4 để thi làm BT1.

* 4 băng giấy viết 4 câu văn Bt2

* Bảng lớp: ảnh câu văn Bt4.

* Các tấm bìa ghi sẵn các từ

III.Các hoạt động dạy - học:

Hoạt động giáo viên

Hoạt động học sinh

1. Ổn định:

2. Kiểm tra bài cũ: Ôn tập về từ chỉ đặc điểm. Ôn tập câu Ai thế nào?

- Gọi hs làm lại 1 số bài tập.

- GV nhận xét.

3. Dạy bài mới: Trong giờ học hôm nay, chúng ta sẽ cùng MRVT về các dân tộc sau đó tập đặt câu có sử dụng so sánh.

- Hát

- 2 hs thực hiện

Bài 1:

- Gọi HS đọc yêu cầu bài tập.

- Thế nào là dân tộc thiểu số?

- Người dân thiểu số thường sống ở đâu trên đất nước ta?

- GV phát phiếu thảo luận

- GV yêu cầu HS TLN4

- Gọi 2 nhóm trình bày bảng, các nhóm nhận xét, bổ sung.

- Chiếu slide tên 1 số dân tộc chia theo khu vực, cho xem ảnh trang phục, chỉ bản đồ nói nơi cư trú,

- Yêu cầu lớp đọc đồng thanh

Bài 2: ( Các dân tộc thiểu số thường có những phong tục, tập quán như thế nào thì cùng tìm hiểu sang bt2)

- Cho hs đọc nội dung bài tập

- Các từ cần điền vào chỗ trống là những từ nào?

- GV lần lượt chiếu tranh giới thiệu về ruộng bậc thang, nhà sàn, nhà rông.

-Yêu cầu HS làm vào VBT

- Chấm 1 số bài

- Yêu cầu HS lần lượt trình bày, HS khác nhận xét.

- GV nhận xét

Bài 3:

- Chiếu tranh, Yêu cầu HS TLN2 trả lời câu hỏi:

+ Kể tên các sự vật có trong tranh.

+ Đặc điểm giống nhau giữa 2 sự vật đó là gì?

- Nhận xét

- Gọi HS đọc đề

- Cho hs TLN đặt câu có hình ảnh so sánh.

- Gọi đại diện nhóm trình bày, nhóm khác nhận xét, bổ sung.

- GV nhận xét bài làm của HS và chốt lại.

Bài 4:

- Cho hs đọc nội dung bài tập

Hướng dẫn:a) Để điền đúng, các em cần nhớ lại các câu ca dao, tục ngữ nói về công cha, nghĩa mẹ đã học ở tuần 4.

b) Yêu cầu HS hãy tự hình dung đến những lúc phải đi trên đường đất lúc trời mưa, và tìm trong cuộc sống những chất có thể làm trơn mà em đã gặp.

c) Hướng dẫn HS có thể hình dung hình ảnh so sánh mà bạn Pac đã nói trong bài tập đọc: Nhà bố ở.

- Phát phiếu và yêu cầu HS làm vào phiếu. 1 Hs làm vào bảng phụ.

- Chấm 1 số phiếu

- Cho hs trình bày bảng phụ

- Nhận xét, sửa sai

( Chiếu Slide bài làm hoàn chỉnh)

- Cho hs sửa bài.

Bài 1:

- Đọc

- Là các dân tộc có ít người

- Sống ở vùng cao, vùng núi

- Nhóm: trao đổi và ghi kết quả.

- Dán bài lên bảng, đọc kết quả.

- Nhận xét, bình chọn nhóm có hiểu biết rộng.

+ Các dân tộc thiểu số ở phía Bắc: Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, H’Mông, Hoa, Giáy, Tà-ôi.

+ Các dân tộc thiểu số ở miền Trung: vân Kiều, Cơ-ho, Khơ-mú, Ê-đê, Ba-na, Gia-rai, Xơ-đăng, Chăm.

+ Các dân tộc thiểu số ở miềnNam: Khơ-me, Hoa, Xtiêng.

Bài 2:

- HS đọc yêu cầu

- Bậc thang, nhà rông, nhà sàn, Chăm.

- Quan sát

- Thực hiện

- Nhận xét, chốt lời giải đúng.

- 3 , 4 hs đọc lại.

Bài 3:

- Quan sát, TL và trả lời câu hỏi

(Thực hiện lần lượt từng tranh)

- Lắng nghe

- 1 hs đọc yêu cầu.

- HS tiến hành đặt câu

+ Trăng tròn như quả bóng / Trăng rằm tròn xoe như quả bóng.

+ Mặt bé tươi như hoa / Bé cười tươi như hoa.

+ Đèn sáng như sao / Đèn điện sáng như sao trên trời / Ngọn đèn thức như sao đêm không ngủ.

+ Đất nước ta cong cong hình chữ S.

- Đại diện các nhóm trình bày

- Lắng nghe

Bài 4:

- HS đọc

- Lắng nghe và thực hiện

- Làm vào phiếu

- Trình bày bảng phụ

a. núi Thái Sơn, nước trong nguồn chảy ra.

b. bôi mỡ.

c. núi/ trái núi

- 3 hs đọc a, b, c.

- 4, 5 hs đọc kết quả (nhìn bảng)

4. Củng cố - dặn dò:

- Yêu cầu nhắc lại tựa bài

- Chơi trò chơi:” THỬ TÀI SO SÁNH”:

* Làm các tấm bìa bắng giấy cứng (kích thước khoảng 3x4 cm) ghi 6 từ sau: đọc, nói, trắng, đỏ, đẹp, nhanh đánh số thứ tự từ 1 đến 6 đính lên bảng

* Cử trọng tài theo dõi cuộc thi, có giấy bút để ghi lại kết quả.

TIẾN HÀNH

* Cho cả lớp tham gia, chia lớp làm hai đội, trọng tài cho bốc thăm xem đội nào chơi trước.

* Đội nào chọn thẻ số nào thì đội đó đọc thật nhanh cụm từ có hình ảnh so sánh có chứa từ có trong tấm bìa. Nếu đọc đúng thì có quyền chỉ định 1 bạn bất kì trong đội bạn tiếp tục cuộc chơi.

* Mỗi trường hợp đúng được 5 điểm; sai hoặc không trả lời được thì không được điểm và bị mất lượt chơi..

Trọng tài cùng các bạn chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai:

* Dựa vào điểm số của từng đội “thử tài so sánh’’ biểu dương đội thắng cuộc

- Nhận xét tiết học.

- Dặn dò hs về nhà xem lại BT 3, 4 ghi nhớ các hình ảnh sống động.

- Bài sau: MRVT: Thành thị, nông thôn, dấu phẩy.

- Nhắc lại tựa bài

- Lắng nghe và tiến hành chơi

- Biểu dương đội thắng cuộc

- Lắng nghe

D. HIỆU QUẢ

1. Tiến hành thực nghiệm để đối chiếu, so sánh

Với cách vận dụng một số phương pháp nêu trên, tôi nhận thấy học sinh học bài rất tích cực và làm tốt các bài tập. Từ đó chất lượng học tập về phép tu từ so sánh của các em được nâng lên rõ rệt.

2. Kết quả cụ thể khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm

Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh lớp 3.3 trường Tiểu học An Bình B năm học 2012-2013 về việc học phép tu từ so sánh và kết quả thu được như sau:

Thời gian

Khảo sát

Tổng số học sinh

Số học sinh nói được câu có hình ảnh so sánh

Số học sinh biết trả lời các câu hỏi trong bài

Số học sinh còn lúng túng khi trả lời

Đầu năm

35

3 = 8,6%

11 = 34,4%

21 = 60%

Cuối HKI

35

10 = 28,6%

20 = 57,1%

5 = 14,3%

3. Phân tích, so sánh và đánh giá kinh nghiệm đó

Đối chiếu với kết quả khảo sát đầu năm thì ta sẽ thấy rằng đã có sự thay đổi lớn trong nhận thức, sự hiểu biết và việc vận dụng phép so sánh trong nói và viết của học sinh lớp 3.3. Số học sinh nói được câu có hình ảnh so sánh từ 8,6% lên 28,6% (tăng 20%). Học sinh biết trả lời các câu hỏi trong bài từ 34,45% lên 57,1% (tăng 22,65%). Còn học sinh lúng túng khi trả lời từ 60 % giảm xuống còn 14,3%.

Qua việc nghiên cứu đề tài nàytôi thấy rằng cần hướng và rèn cho học sinh những kỹ năng sau:

* Học sinh tự củng cố vốn kiến thức của mình thông qua đọc nhiều sách báo phù hợp với lứa tuổi, xem băng hình, quan sát tranh...

* Cho học sinh giao lưu trực tiếp với các bạn trong lớp, trong trường sau mỗi bài học: "Luyện từ và câu" dạng này để học sinh khắc sâu kiến thức.

* Khi làm bài tập yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, xác định đúng yêu cầu của bài, phân biệt được chúng thuộc kiểu bài so sánh dạng nào rồi mới bắt tay vào làm bài.

KẾT LUẬN

Qua quá trình suy nghĩ và tìm tòi tôi đã tìm thấy một số biện pháp như đã nêu ở trên, để giúp các em học tốt phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3. Qua việc áp dụng những biện pháp trên tôi thấy kỹ năng nhận biết của học sinh lớp 3.3 đã được nâng lên.

Là một giáo viên đứng lớp tôi không có tham vọng gì hơn là mong cho kết quả mỗi giờ dạy của chúng tôi được học sinh tiếp thu một cách dễ dàng nhất. Làm sao để mỗi tiết dạy không có sự nhàm chán, các em có thể áp dụng những điều cô giảng trên lớp trong bất kì tiết học nào, bất kì ở đâu. Mỗi ngày một tí, chúng tôi xây cho các em những tầng tháp tri thức vươn cao để ngày sau trưởng thành các em sẽ tự tin bước vào cuộc sống. Bởi vậy tôi xin mạnh dạn đưa một số kinh nghiệm nhỏ trong quá trình giảng dạy: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3”. Rất mong nhận được đóng góp, ý kiến chỉ đạo của các đồng nghiệp, của cấp trên để sáng kiến kinh nghiệm này ngày càng hoàn thiện hơn.

Cuối cùng tôi xin chân thành cả Nhắn tin cho tác giả Trường Tiểu Học An Binh B @ 15:09 27/03/2013 Số lượt xem: 6362 Số lượt thích: 0 người

Từ khóa » Dạy So Sánh ở Lớp 3