Hôn ước Trong Lịch Sử Pháp Luật Việt Nam - Ben's Wordpress
Có thể bạn quan tâm
Hôn ước trong lịch sử pháp luật Việt Nam
June 24, 2010 at 4:40 am Leave a comment
Xin mời đọc bài Giới thiệu về hôn ước hay còn gọi là hôn khế trước khi đọc bài viết này Không giống như các chế định pháp luật khác, hôn ước “nhập cư”, “tồn tại” và bị “trục xuất” khỏi pháp luật Việt Nam một cách lặng lẽ, không dựa vào cơ sở xã hội nào . Mặc dù trong xã hội phong kiến Việt Nam, các qui định về hôn nhân gia đình chiếm một vị trí quan trọng trong các văn bản pháp luật song tuyệt nhiên chế độ tài sản vợ chồng không được qui định như một chế định riêng rẽ và cụ thể . Pháp luật thời kì phong kiến lại càng không hề biết đến một qui định mang nội hàm như hôn ước đang nói tới ở đây . Đến thời thực dân Pháp xâm lược, hôn ước mới cùng thiên chúa giáo lần đầu du nhập vào Việt Nam. 1. Hôn ước trong pháp luật thời kì Pháp thuộc Trong thời kì Pháp thuộc, với chính sách “chia để trị” thực dân Pháp chia nước ta thành ba miền và ở từng miền cho ban hành và áp dụng các bộ luật riêng để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình. – Ở Bắc kì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (Dân luật Bắc kì) – Ở Trung kì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1936 (Dân luật Trung kì) – Ở Nam kì cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (Dân luật giản yếu Nam kì) Hôn ước được ghi nhận trong Dân luật Bắc kì, Dân luật Trung kì, riêng tập Dân luật giản yếu Nam kì không có ghi nhận về hôn ước cũng như vấn đề tài sản vợ chồng tuy nhiên án lệ ở Nam kì trong thời kì này lại “luôn luôn nhắc lại nguyên tắc tự do lập hôn ước mà các tòa án Pháp coi là lẽ đương nhiên được áp dụng trong khi không có luật viết” . Điều 104 Tiết thứ IV thiên thứ V quyển thứ nhất Dân luật Bắc kì qui định rằng: “Về đường tài sản, pháp luật chỉ can thiệp đến toàn thể vợ chồng là khi nào vợ chồng không có tùy ý lập ước riêng với nhau mà thôi, miễn là ước riêng ấy không được trái với phong tục và trái với quyền lợi người chồng là người chủ trương trong đoàn thể”. Điều 105 lại qui định rằng: “Phàm tư ước về tài sản giá thú phải làm thành chứng thư tại trước mặt “no-te” , hoặc do Lý trưởng thị thực, mà phải làm trước khi khai giá thú. Đã khai giá thú rồi thì không được thay đổi gì nữa. Hôn ước phải do các người có quyền ưng thuận trong việc giá thú ký nhận cho mới được. Phàm tư ước về tài sản giá thú, phải biện chú vào chứng thư giá thú thì mới có thể đem đối dụng với người ngoài được. Ai muốn xin trích lục chứng thư giá thú về khoản biên chú các tư ước ấy, thì sẽ do bộ lại cấp phát cho”. Có thể thấy hôn ước đã được thừa nhận trong Dân luật Bắc kì với đầy đủ các đặc điểm, tiêu chí cần có của một hôn ước. Về hình thức, hôn ước dưới thời này cũng buộc phải lập bằng văn bản và được xác nhận bởi công chứng viên hoặc lí trưởng; hôn ước phải lập trước khi kết hôn và không thể thay đổi trong suốt thời kì hôn nhân. Về nội dung, hôn ước không được trái với phong tục tập quán và quyền lợi của người chồng, trong giai đoạn này, quyền gia trưởng của người chồng được coi là một thứ trật tự công cần được bảo vệ. Dân luật Trung kì cũng qui định về hôn ước, nhưng cách sắp xếp cũng như nội dung đã chép theo bộ Dân luật Bắc kì, cả những nét chính và những nguyên tắc vẫn được giữ nguyên. Điều 102 và 103 của Dân luật Trung kì có nội dung hệt như Điều 104 và 105 Dân luật Bắc kì, có chăng là chỉ khác nhau về ngôn từ và sự khác nhau này không ảnh hưởng gì đến nội dung của qui định . * Mặc dù là qui định của pháp luật Việt Nam, nhưng những qui định này đã chép gần như nguyên văn điều 1387 dân luật Pháp. Hôn ước và nguyên tắc tự do lập hôn ước không hề xuất phát từ nhu cầu của xã hội Việt Nam thời bấy giờ mà được du nhập vào Việt Nam dưới sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp. Sự cấy ghép pháp luật không có tính toán này đã khiến cho các qui định về hôn ước trở nên thừa và vô tác dụng. Hầu như dân chúng đều chưa biết gì đến qui định pháp lí mới mẻ này . Hơn nữa, dưới chế độ phong kiến dẫu có quan tâm đến tài sản trong hôn nhân thì người ta cũng chỉ quan tâm đến sự môn đăng hộ đối của hai gia đình chứ không hề đề cập đến quyền lợi vật chất một cách quá rõ ràng và thiếu tinh thần giao hiếu như những gì qui định trong hôn ước. Mặt khác có lẽ cũng vì hôn ước không phù hợp với tình hình xã hội Việt Nam đương thời nên các nhà làm luật cũng chỉ qui định một cách “lấy lệ” khiến cho chúng ta dễ dàng thấy được tính không hoàn chỉnh, không chặt chẽ của qui định hôn ước khi xem xét toàn bộ các qui định về chế độ tài sản vợ chồng ở đây. Theo qui định thì khi sử dụng quyền tự do lập hôn ước, hai vợ chồng có thể tùy ý ấn định điều lệ mà sau này hai bên sẽ phải theo, song luật Việt Nam không nói rõ rằng: nếu không theo chế độ pháp định thì họ có thể chọn theo chế độ tài sản nào, mà tự bắt họ phải xây dựng toàn bộ qui định điều chỉnh tài sản của mình; thêm nữa là không hề có hướng dẫn thêm nào về hôn ước trong toàn bộ các qui định pháp luật thời đó. Trong khi bộ luật dân sự của Pháp thì có rất nhiều chế độ tài sản về nội dung cho vợ chồng lựa chọn nếu như vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản ước định. Chỉ việc qui định bỏ lửng đó của pháp luật Việt Nam đã khiến cho hôn ước vốn đã chẳng phù hợp với xã hội Việt Nam lại càng trở thành một chế định bất khả thi trong hệ thống pháp luật. 2. Hôn ước theo hệ thống pháp luật ở miền nam nước ta trước ngày thống nhất đất nước (1954 – 1975) Trong thời gian cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thông qua hai văn bản pháp luật mang tính pháp điển đó là Luật Gia đình năm 1959 và Bộ luật Dân sự năm 1972. * Luật Gia đình năm 1959 Mặc dù trong phiên họp thông qua Luật Gia đình năm 1959, các nghị viên cũng đề cao tính mẫu mực của dân luật Pháp, song Luật Gia đình 1959 khác biệt đáng kể so với Dân luật Bắc kì và Dân luật Trung Kì. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một văn bản pháp luật chỉ qui định riêng về Gia đình và kết cấu cũng không hoàn toàn giống với dân luật Pháp. Điều 45 Luật Gia Đình 1959 qui định: “Luật lệ chỉ qui định phu phụ tài sản khi nào vợ chồng không có lập hôn ước mà họ muốn làm ra sao cũng được miễn là không trái với phong hóa, trật tự công và quyền lợi của con”. Nguyên tắc luật chỉ can thiệp vào chế độ tài sản vợ chồng khi vợ chồng không lập hôn ước đã được thể hiện ngay tại đây, đây cũng là một qui định tương đối tiến bộ bởi quyền gia trưởng của người chồng đã không còn là một trật tự công cần được bảo vệ mà thay vào đó là quyền của con . Hôn ước trong Luật Gia Đình 1959 đã được qui định một cách tỉ mỉ hơn. Hôn ước phải được lập bằng văn bản trước khi kết hôn, được công chứng và phải được công bố. Điều 46 Luật Gia Đình qui định: “hôn ước phải làm bằng chứng thư trước mặt trưởng khế hay một viên chức có thẩm quyền thị thực”, việc thị thực ở đây thực chất là công chứng . Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn và phải được ghi vào trong giấy giá thú, vì như thế mới đảm bảo cho hôn ước có giá trị với người thứ ba. Riêng đối với những người buôn bán, thì hôn ước của họ phải được niêm yết tại tòa thương mại và chủ cước vào sổ thương mại do phòng lục sự tòa này giữ . Luật Gia đình còn qui định cả về sự vô hiệu của hôn ước, hôn ước sẽ vô hiệu nếu như không đảm bảo các điều kiện về nội dung và hình thức; hôn ước không công bố thì không vô hiệu, nó chỉ không có hiệu lực với người thứ ba mà thôi; khi hôn ước vô hiệu thì chế độ tài sản của vợ chồng sẽ là chế độ tài sản pháp định (cộng đồng toàn sản); sự vô hiệu của hôn ước không ảnh hưởng tới việc kết hôn, nhưng ngược lại nếu việc kết hôn bị vô hiệu thì đương nhiên hôn ước cũng vô hiệu, Luật cũng qui định là hôn ước chỉ có hiệu lực trong thời kì hôn nhân. Trong suốt thời kì hôn nhân, hôn ước không thể được sửa đổi. Khác với Dân luật Trung kì và Bắc kì, Luật Gia đình 1959 qui định tương đối kĩ về vấn đề li thân, Luật Gia đình 1959 cấm li hôn (chỉ được li hôn khi được sự chấp thuận của tổng thống) và qui định tương đối tỉ mỉ về chế định li thân cho nên có thể coi rằng hôn ước là một giải pháp để cho những cặp đôi sống li thân có điều kiện để tiếp tục sống thoải mái. * Bộ luật dân sự năm 1972 Ngày 20/12/1972 chính quyền Việt Nam cộng hòa có ban hành Bộ luật Dân sự năm 1972 trong đó phần phu phụ tài sản cũng dành các Điều từ 144 đến 149 để qui định về hôn ước với những qui định tương đối chung chung và không được tỉ mỉ như Luật Gia đình năm 1959. Bộ luật này cũng chỉ được áp dụng trong thời gian rất ngắn. Hôn ước được qui định trong Bộ luật Dân sự 1972 với những nét cơ bản sau: – Luật pháp chỉ qui định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước. – Vợ chồng được tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn là không trái với trật tự công cộng và thuần phong mĩ tục. – Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn và được công chứng – Hôn ước không thể thay đổi trong thời kì hôn nhân – Hôn ước có thể sửa đổi trước khi kết hôn nhưng bản sửa đổi cũng phải được công chứng – Hôn ước sẽ không có hiệu lực với người thứ ba nếu như không được ghi và giấy đăng kí kết hôn. 3. Hôn ước trong pháp luật Hôn nhân và gia đình của nhà nước ta từ Cách mạng Tháng tám (1945) đến nay Như đã phân tích, những qui định về hôn ước trong Dân luật Bắc kì và Dân luật Trung kì vốn không hề được người dân biết đến, bởi thế mà có lẽ sự biến mất của nó khi thay đổi chế độ cũng là điều không được những người thời đó để ý. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên qui định điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình: sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 qui định về vấn đề li hôn, sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật. Sắc lệnh số 97-SL là văn bản duy nhất điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân trước khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Nói về quan hệ giữa vợ và chồng sắc lệnh chỉ có qui định tại Điều 5 “Chồng vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” và Điều 6 “Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ”. Sắc lệnh này không hề đề cập đến việc công nhận hay không công nhận hôn ước. Tuy nhiên Điều 1 Sắc lệnh qui định “Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành sự nó đúng với quyền lợi của nhân dân”, Điều 14 lại qui định “Tất cả những điều khoản trong dân pháp điển Bắc kì, dân pháp điển Trung kì, Pháp qui giản yếu 1883 (sắc lệnh ngày 3/10/1883) thi hành ở Nam kì, và những luật lệ theo sau, trái với những điều khoản ở trên này đều bị bãi bỏ.” Vậy nên nếu hôn ước được lập mà không trái với quyền lợi của người vợ, không trái với quyền lợi của người chồng thì vẫn được coi là không trái với quyền bình đẳng của vợ chồng và được công nhận là có hiệu lực. Vậy nên theo nguyên tắc, hôn ước vẫn có thể được coi là không bị xóa bỏ trong pháp luật xã hội chủ nghĩa từ năm 1945 tới năm 1959. Hoặc có thể nói rằng một chế định bất khả thi thì việc xóa bỏ hay không xóa bỏ cũng không ảnh hưởng gì, nhưng điều đó cũng có nghĩa là người ta không hề quan tâm đến sự tồn tại của hôn ước vốn có trong dân luật và nếu như vậy thì càng có nghĩa rằng sự tồn tại của hôn ước không hề mâu thuẫn với chế độ xã hội chủ nghĩa vì nếu nó mâu thuẫn về lí thuyết thì ngay lập tức người ta sẽ xóa bỏ nó. Từ khi có Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận chế độ tài sản pháp định, qui định về hôn ước hoàn toàn không còn tồn tại trong pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 qui định “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” vậy là trong một khoảng thời gian hơn 25 năm (thời gian Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực), pháp luật Việt Nam không thừa nhận tài sản riêng của vợ chồng. Đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời, chế độ tài sản vợ chồng ở Việt Nam là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản thì tài sản riêng của vợ chồng mới được thừa nhận. Luật cũng cho phép vợ chồng được chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân (việc chia tài sản này phải có bản án của tòa án). Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, vợ chồng cũng không được thỏa thuận bất cứ vấn đề gì về sở hữu tài sản trừ vấn đề nhập tài sản riêng có trước hoặc trong thời kì hôn nhân thành tài sản chung. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời kèm theo đó là Nghị định số 70/2001/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Nghị định 70) đã tạo ra một sự thay đổi cơ bản gây nhiều tranh cãi về chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Theo những qui định này vợ chồng có thể thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, thậm chí việc thỏa thuận chia tài sản này trong nhiều trường hợp chỉ cần lập bằng văn bản không có sự công chứng, chứng thực. Vợ chồng còn có thể thỏa thuận về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản này, nếu không thỏa thuận thì chế độ tài sản của vợ chồng dường như được đặt ở chế độ biệt sản . Qui định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn qui định về các thỏa thuận trong vấn đề tài sản vợ chồng đã tạo nên một sự khác biệt đáng kể so với chế độ tài sản pháp định thuần túy vẫn thường thấy.
Lưu ý: Bài viết được trích từ khóa luận tốt nghiệp của Ben. Hiện tại wordpress không còn hỗ trợ footnote nên Ben không thể đặt chú thích tại đây Xin mời xem khóa luận tốt nghiệp của Ben tại đây để đọc phần bài viết có đầy đủ chú thích
Share this:
- X
Related
Entry filed under: Ben's post, Prenup.
Leave a comment Cancel reply
Trackback this post | Subscribe to the comments via RSS Feed
Từ khóa » Bộ Dân Luật Giản Yếu Nam Kỳ
-
BỘ LUẬT DÂN SỰ NAM KỲ - Hệ Thống Pháp Luật
-
Sắc Lệnh 97/SL - Trung ương
-
1. Bộ Luật Dân Sự Bắc Kỳ Là Gì
-
Luật Khoa Thư Quán - [Download Link Below] "[...] Hai Bộ Dân Luật ...
-
Việt Nam Dân Luật Lược Khảo - Luật Sư Đà Nẵng
-
(DOC) Luật Dân Sự Việt Nam | Hoan NGUYEN
-
Sự ảnh Hưởng Của Pháp Luật Pháp Tới Luật Tư ở Việt Nam
-
Dân Luật Thi Hành Tại Các Tòa Nam Án Bắc Kỳ (NXB Hà Nội 1931)
-
Những Khía Cạnh Pháp Lý Của Quyền Hưởng Dụng
-
Sắc Lệnh 97/SL Sửa đổi Quy Lệ Chế định Dân Luật
-
Bộ Luật Dân Sự Qua Các Thời Kỳ
-
Luật Dân Sự Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt
-
Hình Thức Của Di Chúc Trong Pháp Luật Dân Sự Việt Nam Qua Các Thời Kỳ
-
Luận Văn: Đặc Trưng Cơ Bản Của Bộ Dân Luật Bắc Kì Năm 1931, HOT
-
Quan điểm Và định Hướng Lớn Trong Xây Dựng Bộ Luật Dân Sự (sửa đổi)