Huyện Sỹ – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ. (tháng 11/2025) (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này) |
| Philípphê Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ) | |
|---|---|
| Sinh | Philipphê Lê Phát Đạt20/01/1838Cầu Kho, thôn Tân Hòa, tổng Bình Trị Trung, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định |
| Mất | 24/11/1900Cầu Kho, thôn Tân Hòa, tổng Dương Minh, tỉnh Chợ Lớn |
| Nơi an nghỉ | Nhà thờ Huyện Sĩ |
| Tên khác | Sĩ |
| Nghề nghiệp | Nghiệp chủ |
| Nổi tiếng vì | Đóng góp xây dựng nhà thờ Huyện Sĩ, nhà thờ Chí Hòa |
| Phối ngẫu | Agnes Huỳnh Thị Tài (1845-1920) |
| Cha mẹ |
|
| Danh hiệu | Tri huyện Danh dự (1874), Đệ Ngũ Đẳng Cao Miên Bội Tinh (1890), Đệ Ngũ Đẳng Đại Nam Long Tinh (1892) |
Huyện Sĩ là tên gọi quen thuộc để chỉ ông Lê Phát Đạt (chữ Hán: 黎發達; 1838 - 1900), một trong những người giàu nhất Sài Gòn xưa. Ông cũng là là ông ngoại của Nam Phương Hoàng hậu, phu nhân của Hoàng đế Bảo Đại.
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]Huyện Sĩ sinh ngày 20 tháng 1 năm 1838 tại Cầu Kho, thuộc thôn Tân Hòa, tổng Bình Trị Trung, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định; tên thánh là Philípphê. Ông là con của ông Tađêô Lê Văn Thiềng, quê ở Tân Triều, Biên Hòa và bà Mađalêna Nguyễn Thị Tin, quê ở Lái Thiêu. Hiện nay, tại hai nhà thờ Tân Triều và Lái Thiêu đều có mộ phần của ông bà nội ngoại của ông Huyện Sĩ.
Từ thuở ấu thơ, ông Huyện Sĩ được vào ở trong nhà một linh mục để học chữ và tu đức, đến khi đủ tuổi, ông được gửi sang học ở chủng viện Penang, Mã Lai - bấy giờ là nơi đào tạo những tu sĩ Công giáo cho xứ Đông Dương và các nước vùng Đông Nam Á. Vì thế sau này, ông rất thông thạo tiếng Latinh, tiếng Pháp, tiếng Hoa và chữ Quốc ngữ (khi ấy còn rất sơ khai). Do trùng tên với một người thầy dạy nên từ đó Sĩ đổi tên thành Lê Phát Đạt. Sau khi về nước với vốn ngoại ngữ thông thạo, năm 1862, ông được chính quyền thuộc địa Nam Kỳ bổ nhiệm làm thông ngôn cho Tòa Bố Hạt Tham Biện Tân An, khi ấy vừa mới được thành lập trên cơ sở tương đương một tỉnh, với tỉnh lỵ đặt tại thôn Bình Lập.
Năm 1863, ông kết hôn với bà Agnes Huỳnh Thị Tài, sinh năm 1845 tại Thủ Đức, là con của ông Gioan Baotixita Huỳnh Văn Tứ và bà Agatha Nguyễn Thị Tư. Cha của bà đã bị lưu đày vì theo đạo Công giáo và đã chịu tử đạo ở ngoài Miền Bắc năm 1861. Hiện nay, tại nhà thờ Thủ Đức vẫn còn mộ phần của mẹ bà.
Tại Bình Lập, Tân An, ông bà đã hạ sinh ra tám người con, bốn trai, bốn gái gồm: Jean-Baptiste Lê Phát Thanh (1864), Nicolas Lê Phát Tân (1866), Denis Lê Phát An (1868), Lucie Lê Thị Long (1870), Pierre Lê Phát Vĩnh (1875), Marie Lê Thị Bình (1879), Marie Lê Thị Hòa (1881), Lucie Lê Thị Long (1882). Tất cả đều sinh tại Tân An, trong đó, tại họ đạo Tân An, vẫn còn sổ rửa tội của bốn người con út.
Sau đó, ông lần lượt được bổ nhiệm vào Hội đồng hạt Tham biện Tân An ngày 14 tháng 5 năm 1863, phó tổng Hưng Long vào ngày 19 tháng 10 rồi thăng lên làm chánh tổng ấy vào ngày 9 tháng 12 cùng năm. Đến năm 1864, ông xin nghỉ làm thông ngôn để làm kinh tế, trong khi vẫn giữ chức chánh tổng thêm một thời gian rồi sau đó cũng xin bãi nhiệm.
Tương truyền vào thời đó, dân cư bỏ ruộng đất đi tản mát khắp nơi tránh Pháp, chính quyền cho đấu giá rẻ mạt mà cũng không có người mua. Vì làm việc cho chính quyền nên bất đắc dĩ ông phải mua theo yêu cầu, nào ngờ gặp may, ruộng đất ông mua trúng mùa liên tiếp mấy năm liền nên ông trở nên giàu có.[1] Khi được mùa, ông bà tiếp tục mua thêm đất đai trồng lúa ở khắp các tỉnh Gia Định, Mỹ Tho, Gò Công, Tân An, liên kết làm ăn với các doanh nhân người Hoa, cũng như mua các dãy nhà tại Sài Gòn nằm trên các tuyến có điện, đường, trạm... mới mở của đô thị này để cho thuê. Bà Huyện Sĩ, vốn là người vén khéo, "giữ tay hòm chìa khóa" đã lên Cầu Kho xây lẫm lúa, kho bãi để vận chuyển lúa gạo từ miền Tây lên Sài Gòn, rồi phân phối cho các đại lý xuất khẩu gạo, cũng như xuất khẩu sang các nước Viễn Đông.

Ngày 1 tháng 1 năm 1874, ông được chính quyền thuộc địa phong hàm Tri huyện danh dự. Kể từ đây, người ta gọi ông là Huyện Sĩ. Đến năm 1880, ông được bầu vào Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, song chủ yếu ông chuyên tâm làm kinh tế và đóng góp cho Giáo hội Công giáo.
Năm 1876, ông bị dính vào vòng lao lý, khi một bà tên Thị Mười khởi kiện ông Huyện Sĩ vì ông chưa thanh toán tờ kỳ phiếu trị giá 300 đồng. Khi ra tòa, ông cho rằng mình chưa bao giờ ký vào tờ kỳ phiếu nào cả, và yêu cầu tòa giám định chữ ký. Tuy nhiên, tòa bác yêu cầu đó và tuyên án ông ba năm tù vì tội lừa gạt. Khi ông bị xử án oan, vợ cùng với mẹ ông Huyện Sĩ, khi ấy đã 76 tuổi, làm đơn kêu nài khắp nơi. Sau nhiều lần kêu nài và vận động, ngày 20 tháng 5 năm 1878, ông được Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký quyết định phóng thích ông và phục hồi lại chức huyện hàm. Trên thực tế, theo lệnh của Nha Nội vụ, ông được thả vào ngày 10 tháng 4, sớm hơn 40 ngày so với quyết định chính thức.
Sau cơn gia biến, ông bà Huyện Sĩ càng tiếp tục thăng tiến trong con đường làm ăn kinh tế của mình. Đặc biệt, ông bà cho các con trai đi du học bên Pháp, sau đó về nước để kế thừa gia sản của mình. Đại gia đình như một tập đoàn lớn, mỗi người phụ trách một mảng đầu tư và tính toán để chu toàn thực hiện những việc đóng góp cho cộng đồng. Ông Jean Baptiste Lê Phát Thanh với vai trò trưởng nam sẽ đứng ra lo liệu các việc nội vụ trong gia đình, ông Nicolas Lê Phát Tân phụ trách gìn giữ đất hương hỏa mà ông bà gầy dựng tại Tân An, ông Denis Lê Phát An đại diện gia đình lo các việc phước thiện cho Giáo hội Công giáo và Xã hội, ông Pierre Lê Phát Vĩnh đảm nhận các khoản đầu tư của gia đình tại nước ngoài. Ngày 8 tháng 5 năm 1897, các con Jean Baptiste Lê Phát Thanh, Nicolas Lê Phát Tân và Denis Lê Phát An được nhập quốc tịch Pháp. Một năm sau, ngày 12 tháng 3 năm 1898, ông được nhập quốc tịch Pháp.
Với những đóng góp của ông trong việc phát triển kinh tế tại Nam Kỳ, ông đã được trao tặng Cao Miên Bội Tinh ngày 14 tháng 7 năm 1890 và Đại Nam Long Tinh vào ngày 11 tháng 4 năm Thành Thái thứ 4 (tức năm 1892).
Cuối đời, ông cùng bà về lại ở tại căn nhà nằm ở đường Hạ Chợ Lớn (Route Basse de Cholon, nay là Đại lộ Võ Văn Kiệt) tại quê nhà Cầu Kho, khi ấy là thôn Tân Hòa, tổng Dương Minh, tỉnh Chợ Lớn, sau này sáp nhập vào thành phố Sài Gòn. Tại đây, ông bà đã dâng chuông cho các nhà thờ Tân An (1892), nhà thương Thị Nghè (1896), nhà thờ Cha Tam (1899 và 1903), nhà thờ Chợ Đũi (1904)... Riêng các con của ông dâng hai quả chuông cho nhà thờ Chợ Quán (1899, do ông bà Lê Phát Thanh và ông bà Lê Phát An dâng), nhà thờ Chợ Đũi (1904, do ông bà Lê Phát Thanh, Lê Phát Tân, Lê Phát An dâng), nhà thờ Hạnh Thông Tây (1925, do ông bà Lê Phát An dâng)... cũng như đóng góp cho việc xây dựng nhà thờ Thủ Đức và nhà thờ Lái Thiêu hiện nay.

Bốn tháng trước khi qua đời, ông bị căn bệnh ung thư vòm họng hành hạ khiến ông rất đau đớn. Dù chữa trị bởi biết bao các thầy thuốc Tây cũng như Nam, song cũng không chữa chạy được. Nhất là một tuần trước khi qua đời, ông đau đến mức không thể nói được, phải ghi ra giấy. Lúc này, ông đã để lại di chúc như sau: bốn người con trai được ông để lại mỗi người một khoảng thu nhập hằng năm từ 30.000 đến 35.000 piastres, ba người con gái mỗi người được 20.000 đến 25.000 piastres, với điều kiện là cả bảy người con phải chu cấp cho mẹ mình một khoảng trị giá 50.000 piastres hằng năm. Tài sản ông có được khi ấy chủ yếu là các thửa ruộng rộng vài trăm mẫu trải dài ở Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Chợ Lớn, Gia Định và Biên Hòa, cùng với gần 150 lẫm lúa tại Chợ Lớn, ba phần tư bất động sản tại đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi)... Ông cũng để lại 30.000 piastres cho Giáo phận Sài Gòn để xin lễ cầu nguyện và thực hiện các việc phước thiện của Địa phận, trong đó có dự án nhà thờ Chợ Đũi và nhà thờ Chí Hòa với nhà hưu dưỡng có bất động sản sinh lời dành cho các cha Nam già yếu.[2] Hiện nay, nhà thờ Chí Hòa có mộ phần của bà Mađalêna Nguyễn Thị Tin là mẹ ông, và con gái thứ bảy là Maria Lê Thị Hòa, qua đời khi chỉ mới 10 tuổi.
Lúc 3 giờ sáng ngày 24 tháng 11 năm 1900, ông Lê Phát Đạt qua đời tại tư gia của mình tại Cầu Kho. Tang lễ của ông có nhiều quan khách Tây Nam đến dự, và đặc biệt là đông đảo tá điền làm công cho ruộng đất của ông cũng đến viếng tang ông, đến mức người ta phải dựng một ngôi nhà tranh lớn để đón tiếp họ. Ngày 28 tháng 11, Thánh lễ an táng của ông được cử hành tại nhà thờ Chợ Quán. Sau Thánh lễ, ông được an táng tạm tại phòng áo nhà thờ Chợ Quán, vì khi ấy nhà thờ Chợ Đũi chưa xây dựng xong. Đến năm 1906, khi nhà thờ đã xây xong, gia đình đã họp bàn việc cải táng ông về nhà thờ Chợ Đũi, theo di nguyện của cha lúc sanh tiền. Sau khi phân chia các công việc rõ ràng, vào lúc 6 giờ sáng ngày 26 tháng 4 năm 1906, đoàn rước với xe tang của ông di chuyển từ nhà thờ Chợ Quán, đi dọc theo đường Thượng Chợ Lớn (Route Haute de Cholon, nay là đường Nguyễn Trãi) để đến nhà thờ Chợ Đũi lúc 7 giờ. Sau đó, một Thánh lễ cầu hồn đã được cử hành do Giám mục Lucien-Emile Mossard (Mão) cử hành, với sự chầu lễ của cha sở Chợ Quán Anselme Delignon Cao và cha sở Chợ Đũi Léon Lambert Lương, cùng đông đảo quý quan khách. Sau Thánh lễ, ông được an táng tại đầu nhà thờ Chợ Đũi, nơi đã xây huyệt mộ sẵn. Vì thế, người ta quen gọi nhà thờ Chợ Đũi là nhà thờ Huyện Sĩ.

Sau khi ông qua đời, bà Agnes Huỳnh Thị Tài tiếp tục những công việc phước thiện, giúp đỡ cho Giáo hội và xã hội. Bà là một người khiêm nhường, chan hòa với mọi người. Những hôm bà không đi lễ, đọc kinh, cầu nguyện, thì bà luôn đi thăm viếng, giúp đỡ những người khốn khó, trong đó phải kể đến việc giúp xây trường tư thục của họ đạo Cầu Kho và tài trợ trường câm điếc Lái Thiêu. Song bà giúp đỡ âm thầm, không phô trương, khi ai chịu ơn bà thì bà dặn đừng nói cho ai biết. Bà cũng là người sống tiết kiệm, luôn chừa phần ra để giúp kẻ khó, và dặn con cháu phải sống tiết kiệm và có lòng bác ái. Bà cũng là thành viên nhiệt thành của dòng ba Cát Minh. Cuối đời, bà lãnh nhận sứ vụ đỡ đầu cho người cháu ngoại Jeanne Mariette, con của ông Pierre Nguyễn Hữu Hào và bà Maria Lê Thị Bình, con gái thứ sáu của ông bà Huyện Sĩ, cùng hướng dẫn cách ăn nếp ở, nữ công gia chánh... Người cháu ngoại ấy sau này là Nam Phương Hoàng Hậu. Vì tuổi cao sức yếu, nên bà đã qua đời lúc 16 giờ ngày 14 tháng 9 năm 1920, và bà được quàn tại tư gia ở Cầu Kho, trong bộ áo Dòng Ba Cát Minh. Ngày 21 tháng 9, Thánh lễ an táng của bà được cử hành tại nhà thờ Chợ Đũi. Sau Thánh lễ, bà được an táng tại phần mộ được xây sẵn cho bà trong nhà thờ, đối diện với mộ ông Huyện Sĩ.
Trước kia, tại quận Tân Bình có con đường Lê Phát Đạt, dài 250m. Đến năm 1999, con đường này được đổi tên là Đặng Lộ. Ngoài ra, trước năm 1975, tại trung tâm tỉnh lỵ Tân An có một con đường cũng mang tên Lê Phát Đạt, nay là đường Ngô Quyền.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Vương Hồng Sển, "Sài Gòn Năm Xưa", 1960.
- ^ Nguyễn Thị Thanh Thúy, "Gia Tộc Huyện Sĩ - Dấu Ấn Còn Ghi", 2025.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]Từ khóa » Mộ ông Huyện Sỹ
-
Chùm ành: Lăng Mộ Của Huyện Sỹ - Người Giàu Nhất Sài Gòn Xưa
-
Độc đáo Mộ Cổ Sài Gòn: Nơi An Nghỉ Của đệ Nhất ... - Báo Thanh Niên
-
Lăng Mộ Cổ Tráng Lệ Của đại Gia Sài Gòn Xưa - Báo Kiến Thức
-
Ông Huyện Sỹ, Một Trong Tứ đại Hào Phú Sài Gòn đầu Thế Kỷ 20
-
Lăng Mộ Cổ Tráng Lệ Của đại Gia Sài Gòn Xưa - Vietnamnet
-
Ông Huyện Sỹ - Người Giàu Nhất Đông Dương Một Thuở - Vietnamnet
-
'Đại Gia' đất Nam Kỳ - Bài 2: Ông Huyện Sỹ - Người Giàu Nhất Đông ...
-
Độc đáo Mộ Cổ Sài Gòn: Nơi An Nghỉ Của đệ Nhất Hào Phú Nam Kỳ
-
Nhà Mồ Của đại Gia Giàu Nhất Sài Gòn Xưa Trong Nhà Thờ Huyện Sĩ
-
Giải Mã Ông HUYỆN SỸ - Người Đứng Đầu Tứ Đại Hào Phú Sài ...
-
Mộ ông Ngoại Của Nam Phương Hoàng Hậu Ông Huyện Sỹ Người ...
-
Nhà Thờ Lưu Dấu 1 Trong 4 Người Giàu Nhất Sài Gòn Xưa - Tripadvisor
-
Huyện Sỹ - Người Giàu Nhất Tứ đại Hào Phú Sài Gòn Xưa - LUXUO.VN