Huỳnh Phú Sổ – Wikipedia Tiếng Việt

 
Chân dung Huỳnh Phú Sổ tại chùa An Hòa Tự (TT. Phú Mỹ, Phú Tân, An Giang)

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, tức ngày 4 tháng 7 năm 1939, Huỳnh Phú Sổ tổ chức lễ "Đền linh Khứu Sơn trung thọ mạng", khai đạo tại tư gia, sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo, lấy tên theo làng Hòa Hảo, nơi ông sinh ra, vừa có ý nghĩa là "hiếu hòa" và "giao hảo". Từ đó, ông đi chữa bệnh, tiên tri, thuyết pháp và sáng tác thơ văn, kệ giảng. Văn chương của ông bình dân nên dễ đi vào lòng người. Ông được tín đồ suy tôn là “Thầy tổ”, và được gọi “Đức Tôn Sư”, “Đức Thầy”, "Đức Huỳnh Giáo chủ".[3]

Chỉ trong một thời gian ngắn số tín đồ và ảnh hưởng của ông càng ngày càng gia tăng và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ khiến Thực dân Pháp lo ngại.[cần dẫn nguồn]

Ngày 18 tháng 8 năm 1940, Thực dân Pháp đưa Huỳnh Phú Sổ đi quản thúc tại Sa Đéc.[cần dẫn nguồn]

Ngày 23 tháng 5 năm 1940, Thực dân Pháp chuyển ông sang quản thúc ở làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ nhưng cả hai nơi này đều được đông đảo quần chúng đến xin nghe thuyết pháp và quy y Phật giáo Hòa Hảo.[cần dẫn nguồn]

Vì vậy ngày 28 tháng 7 năm 1940, nhà cầm quyền Pháp đưa Huỳnh Phú Sổ vào bệnh viện Cần Thơ và sau đó chuyển lên nhà thương điên Chợ Quán tại Sài Gòn.[cần dẫn nguồn]

Tháng 6 năm 1941, Huỳnh Phú Sổ bị đưa đi quản thúc ở Bạc Liêu. Tại đây ông không được phép trị bệnh và thuyết pháp.[cần dẫn nguồn]

Tháng 10 năm 1942, trước tin tức người Pháp sẽ đưa Huỳnh Phú Sổ đi đày ở Ai Lao (Lào), các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hiến binh Nhật đã giải cứu ông đem về Sài Gòn.[cần dẫn nguồn]

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1945, Huỳnh Phú Sổ đi thuyết pháp và khuyến nông tại 107 địa điểm ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.[cần dẫn nguồn]

Ngày 21 tháng 9 năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng một số trí thức có khuynh hướng dân tộc, dân chủ thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng (còn gọi là Dân Xã đảng).[4]

Từ khóa » Giảng đạo đức Huỳnh Giáo Chủ