Irrational Exuberance - Lạc Quan Tếu - Robert J. Schiller

Thứ Ba, Tháng Hai 10, 2026
Review sách
Không kết quả Xem tất cả kết quả Review sách
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác
Không kết quả Xem tất cả kết quả Review sách Không kết quả Xem tất cả kết quả Home Review sách Sách tài chính - đầu tư - chứng khoán Irrational Exuberance – Lạc quan tếu – Robert J. Schiller

Irrational Exuberance - Lạc quan tếu - Robert J. Schiller

nguyenminhhanh bởi nguyenminhhanh Tháng Mười Một 23, 2020 in Sách tài chính - đầu tư - chứng khoán Thời gian đọc:49phút 2 Irrational Exuberance – Lạc quan tếu – Robert J. Schiller

Irrational Exuberance – Lạc quan tếu – Robert J. Schiller Đây là cuốn sách muốn đọc từ lâu, 1 cuốn sách tiêu biểu về nghiên cứu tâm lý thị trường chứng khoán. Hiểu biết tâm lý thị trường theo cá nhân tôi chiếm 50% chiến thắng trong đtu, 25% do kỹ năng phân tích, đánh giá và 25% còn lại do phương pháp, triết lý đầu tư đúng đắn phù hợp với mỗi cá nhân khi tham gia đtu. 1. Thị trường chứng khoán dưới góc nhìn lịch sử Cụm từ “lạc quan tếu” đc phát biểu bởi cựu chủ tịch FED, Alan Greenspan vào năm 1996 và trở lên nổi tiếng sau đó. Lạc quan tếu là nền tảng tâm lý của bong bóng đầu cơ. Schiller định nghĩa bong bóng đầu cơ là 1 tình huống mà tin đồn giá tăng thúc đẩy lòng nhiệt tình của nđt rồi đc lây lan trg giới đtu như bệnh dịch, và trg qtrinh đó, khuếch đại lên những câu chuyện nhằm biện minh cho sự tăng giá và thu hút ngày 1 nhiều hơn tầng lớp các nđt đổ xô vào, những ng dẫu có nghi ngờ về gtri thật của khoản đtu, vẫn bị lôi kéo vì ganh tị với thành công của ng khác, và 1 phần vì máu mê cờ bạc. Tuy vậy, chính Alan Greenspan cũng ko thật sự hiểu rõ “Lạc quan tếu” khi năm sau đó ông ta lại bày tỏ sự lạc quan quá độ về nền kt mới, về năng suất lao động liên tục đc cải thiện tạo ra động lực cho nền kt Mỹ. Thị trg chứng khoán Mỹ đã trải qua nhiều đợt tăng giá dữ dội nhất trong lịch sử của mình. Trg đó đợt tăng giá kéo dài từ 7/1982-2000 là đợt tăng giá mạnh mẽ nhất sau điều chỉnh lạm phát với mức tăng 7,7 lần, tiếp đến là đợt tăng giá từ 1920-1929 với mức tăng 5,5 lần, từ 1949-1968 đạt 5,1 lần, hiện nay từ 2009-2020 đang có mức tăng 4,9 lần, và từ 2003-2007 tăng 1,5 lần. Bong bóng lớn nhất lịch sử là bong bóng thiên niên kỷ năm 2000, gđoạn 2003-2007 là bong bóng bùng nổ xh sở hữu, gđoạn hiện nay từ 2009-now đc gọi là Cuộc bùng nổ bình thường mới mà nhà sáng lập PIMCO, Bill Gross đã gọi đợt tăng giá hiện nay. Trong các đợt tăng giá này, xét về mqh giữa giá và thu nhập và mức đỉnh cape (chỉ số s&p 500 điều chỉnh lạm phát/trung bình động thu nhập trg 10 năm) cao nhất năm 2000 là 47,2 lần, các mức đỉnh thấp hơn như năm 1929 là 32,6 lần, năm 2014 là khoảng 25 lần. Tương tự với chỉ số p/e theo tháng cũng cho các kết quả tương tự. 2. Thị trường trái phiếu dưới góc nhìn lịch sử Thị trg trái phiếu Mỹ gần đây cũng liên tục tăng giá mạnh và cũng phần nào thể hiện sự bong bóng tài sản trái phiếu. Mặc dù FED có quyền lực khá lớn trong điều chỉnh lãi suất ngắn hạn nhưng ls dài hạn đc cho là rất khó để ksoat đc. Ls dài hạn tại Mỹ, EU, Nhật Bản gần đây đều cho mức ls thực âm (ls thực là ls danh nghĩa trừ đi lạm phát). Việc ls thực âm và thậm chí hiện nay ls danh nghĩa cũng âm đã đẩy cao định giá cổ phiếu lên ngày càng cao hơn đặc biệt ở thị trg Mỹ. Ls trái phiếu dài hạn ngày càng thấp (giá trái phiếu ngày càng cao) thể hiện lợi nhuận kỳ vọng cực thấp trong tương lai với các thị trg tài chính. Từ những năm 80s của thế kỷ 20, thị trg trái phiếu ls điều chỉnh theo lạm phát ra đời nhưng vẫn chưa thực sự thu hút đc nđt, nhưng sản phẩm ls điều chỉnh theo lạm phát là 1 sp tốt hơn nhiều so với trái phiếu thông thường đang chịu ls thực âm hiện nay. 3. Thị trường bất động sản (bđs) dưới góc nhìn lịch sử Tại Mỹ, thị trg chứng khoán và thị trg traia phiếu tạo ra động lực dẫn dắt tâm lý con người và từ đó lan sang thị trg bđs. Thị trg bđs, mà đặc biệt là nhà ở, đã tạo thành nhiều đợt bùng nổ giá cả trg quá khứ, bên cạnh đó chúng ta tập trung chú ý vào giá nhà quanh nơi chúng ta ở và là chủ đề thường xuyên đc đem ra thảo luận hàng ngày. Các đợt tăng giá lớn đc biện hộ bởi nhiều lý lẽ nhưng ko có gì thật sự thuyết phục về mặt logic. Từ cuối thập niên 90s, giá nhà có đợt bùng nổ mạnh mẽ mà đc giải thích là do áp lực dân số gia tăng, đất đai hữu hạn và bị cạn kiệt từ đó giá nhà phải tăng. Nhưng thực tế, tới cuối thập niên 90s, dân số đã ổn định và tăng trưởng rất chậm, ko thể do áp lực dân số được. Giả thuyết khác chi rằng do chi phí xd tăng, nhưng thực tế cfi ko hề tăng mà nằm trong xu hướng dài hạn ngày càng giảm giá trị thật (trừ lạm phát). Cũng có giat thuyết do ls thấp gây ra nhưng dù có đóng góp 1 phần nhưng trg ls rất nhiều gđ ls rất thấp nhưng ko có bùng nổ giá bđs. Các câu hỏi lớn: liệu có tồn tại 1 xu hướng đi lên mạnh mẽ và vững chắc trg thời gian dài mà mọi người đều tin vào hay chỉ là tưởng tượng? Lịch sử nói gì về khởi nguồn các cuộc bùng nổ bđs? Đầu cơ giá nhà đang đc thiết lập vững chãi hơn bao giờ hết trên phạm vi quốc gia và quốc tế? Lịch sử lâu dài của giá nhà: Tác giả cùng 1 số nhà nghiên cứu khác xd nên chỉ số giá nhà ở (S&P/Case-Schiller) với chuỗi thời gian lâu nhất tại Mỹ từ năm 1890-nay, trg suốt chiều dài ls đó, giá nhà thực tế tại Mỹ ko thật sự quá cao trên phạm vi quốc gia và chỉ thực sự bùng nổ mạnh mẽ từ cuối những năm 90s tới khoảng 2006 và kết thúc bằng cuộc khủng hoảng nhà đất tồi tệ thứ 2 trg lịch sử sau cuộc khủng hoảng 1929-1932. Giá nhà thực tại Mỹ tăng 85% từ 1997-2006. Đợt bùng bổ mạnh mẽ về giá nhà trước đó là vào khoảng năm 1942-1954, khi chính sách ưu đãi mua nhà cho 17tr ng từ chiến tranh thế giới thứ 2 trở về đac kích hoạt mãnh mẽ thị trg bđs tại Mỹ. Trong khi đó các giai đoạn khác thị trg bđs lại chủ yếu suy giảm và đi ngang là chính dù thị trg chứng khoán có rất nhiều sự biến động lớn. Thị trg bđs tại Mỹ vẫn đc mọi ng coi là ko có thị trg cấp quốc gia mà chỉ có thị trg địa phương. Các đợt tăng giá thường xảy ra ở trên quy mô nhỏ các tp riêng biệt. Nhưng từ những năm 2000s trở đi thị trg chung toàn quốc có xu hướng đúng hơn thay vì các đợt tăng giá cục bộ. Trong giai đoạn bong bóng 2000-2006, người mua nhà trở lên hung hăng hơn và hối hả đấu thầu mua các ngôi nhag dù họ chưa hề thấy tận mắt vì lo ngại sẽ bị ng khác cướp mất cơ hội và giá nhanh chóng tăng vượt qua khả năng mua của họ. Bên cạnh đó các tổ chức cho vay mua nhà quá dễ dãi cung bơm thêm sinh lực cho làn sóng đầu cơ mua nhà của mọi ng dân trg xh Mỹ gđoạn đó. Nhìn lại ls thị trg Mỹ, từ 1890-2014, thực sự giá nhà tại Mỹ chỉ tăng +0,3%/năm, đây thật sự ko phải con số lợi nhuận đáng mong đợi của mọi nđt. Trong khi đó, đại đa số mọi ng nghĩ rằng họ lãi to nhờ đtu bđs, vì người ta mua xong để đó 10-20 năm sau đó giá nhà tăng gấp 2 và nghĩ rằng họ có món lợi nhuận khổng lồ, nhưng thực tế mức lợi nhuận rất thấp. Trong khi thị trg cp các dno thường xuyên chia tách cp nên giá cp thường ko quá cao trg khi market cap các dno đã rất lớn sau 10-20 năm nhưng mọi người lại ko nhận ra điều đó. Con số thống kê khác có thể cho mức lợi nhuận thực khoảng 2%/năm với đtu bđs tại Mỹ. Và mức tăng giá nhà điển hình này còn thấp hơn mức tăng gdp tại Mỹ cùng thời kỳ. Trong khi đó, tại châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc (cả Việt Nam, Thái Lan, Hong Kong,…) đều tư tư tưởng thâm căn cố đế tin rằng: “huyền thoại bất động sản”. Chẳng phải đất đau là tài nguyên khan hiếm hay sao, và chẳng phải giá đất sẽ tăng đều đặn cùng với sự gia tăng dân số cũng như sự thịnh vượng của dân chúng đó sao? Thực sự các lập luận trên ko mạnh, vì chu phí xây dựng ngày càng giảm đi và giá nhà sẽ dần về sát cfi xd các ngôi nhà. Người dán chỉ chú ý tới giá nhà tại các thành phố lớn với dân cư đông đúc, vốn còn rất ít đất để xd và giá đất tại đây có thể lên rất cao. Nhưng hầu hết các tp khác vẫn còn rất nhiều đất đai. Các tp có quỹ đất lớn này giá thường ko vượt quá xa chi phí xd các ngôi nhà. Khi giá nhà tăng quá cao và khoản nợ trả mua nhà chiếm ~50% thu nhập hộ gđình họ sẽ có xu hướng chuyển đến khu vực rẻ hơn để sinh sống, van an toàn này về lâu dài sẽ tự điều chỉnh giá nhà tại khu vực đắt đỏ. Các to có nhiều đất trống xung quanh sẽ có nhiều lợi thế với van an toàn này. Ngoài ra, việc sông trong ngôi nhà tại trung tâm hoa lệ thường làm mọi ng kích thích hưng phấn, họ hãnh diện đc ở cạnh những ng giầu có và nổi tiếng nên muốn đổ xô vào ở, chỉ khi quá đắt đỏ quá trình tự điều chỉnh mới diễn ra mạnh mẽ. Phần I. Những yếu tố cấu trúc 4. Các yếu tố xúc tác: internet, sự bùng nổ tư bản và các sự kiện khác Các yếu tố xúc tác tiềm năng trong các đợt bùng nổ tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, bđs là rất đa dạng. Mặc dù đã tìm hiểu đc nhiều nhưng rất khó có thể dự báo đc tương lai tương đối chắc chắn cho các dự báo này. Nhiều yếu tó dẫn đến sự bùng nổ mang trg mình 1 cơ chế tự hoàn thiện, và do đó rất khó, nếu ko muốn nói là ko thể nắm bắt đc bằng cách giải thích theo khoa học dự báo. Các yếu tố bàn sau đây mang yếu tố tâm lý chủ quan mà ko phải mang yếu tố duy lý như sự gia tăng thu nhập, sự thay đổi ls thực tác động tích cực tới thị trg ck. 12 yếu tố xúc tác đã thúc đẩy thị trường tặg trưởng gđ bùng nổ 1982-2000: – Sự xuất hiện của internet tại thời điểm tăng trưởng thu nhập vững chắc: sau gđ suy thoái nhẹ năm 1990-1991, kt Mỹ tăng trưởng mạnh mẽ với lợi nhuận tăng 36% na 1994, 8% năm 1995 và 10% năm 1996. Sự tăng trưởng mạnh mẽ này lại đi kèm sự ra đời và nhanh chóng phổ cập internet rộng rãi đạo tạo ra sự tưởng tượng internet đóng góp vào sự tăng trưởng lợi nhuận này và tạo ra cuộc cách mạng trong năng suất lđ, và tương lai rộng lớn của nó đem lại cho mọi dno. Trg câu chuyện này có 1 phần sự thật còn phần lớn là sự ảo tưởng nđt tự tạo ra và tin tưởng vào nó để rồi đầu cơ vô tội vạ các dno internet ko hề có lợi nhuận hay doanh thu vô cùng thấp. – Chiến thắng hân hoan và sự suy giảm của các đối thủ kt nc ngoài: khi nền kt nc ngoài đặc biệt Nhật Bản suy sụp năm 1991, khủng hoảng tài chính Châu Á, Nga năm 1997-1998 đc nđt coi là chiến thắng của nc Mỹ và ngày 1 tin tưởng hơn vào nền kt Mỹ và mạnh bạo chi cho đtu hơn nữa. – Thay đổi văn hoá và chính trị ủng hộ thành công kdoanh: quan niệm tôn sùng vật chất sự giầu có tăng nhanh tại Mỹ, trong quan điểm điều gì quan trọng nhất trong cuộc sống, việc có rất nhiều tiền là yếu tố số 1 trong ng dân từ mức 38% năm 1975 lên mức 63% năm 1994, ng ta thần tượng những ng giầu có, ng ta nhận ra nhiều ng làm giầu nhanh chóng và giầu có nhờ sở hữu cp và chạy đua mua cp để làm giầu làm đẩy nhu cầu mua cp lên cao và từ đó kéo giá cp lên. – Đảng Cộng hoà và cắt giảm thuế capital gaint: việc cắt giảm thuế capital gaint cũng có ảnh hưởng tới nđt khi họ cố gắng nắm giữ cp nhiều hơn để đợi giảm thuế mới bán nhằm thu đc lợi nhuận sau thuế nhiều hơn. Việc này cũng đac thực sự diễn ra vào năm 97 khi thuế giảm từ 28% xuống 20%. – Thế hệ Baby Boom và những tác động nhận thức của nó trên thị trường: thế hệ Baby Boom là thế hệ sinh ra từ khoảng 1946-1966 khi dân số Mỹ thực sự bùng nổ và người ta lo ngại về an sinh nên tập trung tích luỹ và đtu để về hưu an nhàn. Gđoạn đẩy mạnh đầu tư diễn ra khoảng từ những năm 70s và đặc biệt mạnh mẽ từ sau năm 82s trở đi đã kích thích mạnh mẽ việc đtu cổ phiếu kéo tỷ lệ pe lên quá cao sau đó. Thế hệ này ko ainh ra trg chiến tranh hay đại khủng hoảng như thế hệ nđt cũ nên họ sẵn sàng thử nghiệm và chấp nhận mạo hiểm mù quáng hơn rất nhiều thế hệ cũ tạo ra sự mù quáng thiếu cẩn trọng lan rộng khắp nơi đẩy mạnh đầu cơ – Sự nở rộ báo cáo truyền thống viết về tin tức dno: sau khi cnn ra đời, hàng loạt các kênh tài chính khác như cnbc, Bloomberg ra đời đã liên tục cập nhật tin tức trực tuyết real time làm nđt nhiều khi còn update nhanh hơn các nhà môi giới ck, sự dội boon thông tin cũng giúp nđt tiếp cận thông tin dễ dàng hơn và tạo đc niềm tin cho nđt về đtu hơn. Bên cạnh đó, các nhà môi giới cũng rất hạn chế ra khuyến nghị bán dù thị trg tăng tới đỉnh điểm do lo ngại cty sẽ ko còn cung cấp thông tin cho họ để update sau đó, các từ bán thường đc lái thành nắm giữ và tạo ra sự hiểm lầm cho nđt khi đọc báo cáo phân tích. – Sự nở rộ các chương trình hưu trí có mức đóng xđịnh: với việc ra đời các quỹ hưu trí tự nguyện 401k, 403b,.. đã giãn thời gian đóng thuế làm ng lđ hào hứng chuyển tiền vào các quỹ hưu trí tự nguyện cố định hàng tháng. Dòng tiền này đều đặn mua vào cp trên thị trg và ngày càng đóng góp lớn trg tổng dòng tiền mua trên thị trg đặc biệt mua các quỹ chỉ số chi phí thấp. Các chương trình này hầu như ko mua bđs mà chỉ tập trung chính vào cổ phiếu và 1 phần là trái phiếu. – Sự tăng trưởng của các quỹ tương hỗ: khởi đầu gđ bùng nổ thiên niên kỷ, tại Mỹ mới có 340 quỹ tương hỗ và 8,9tr tài khoản cổ đông quỹ, thì tới cuối gđ bùng nổ thiên niên kỷ đã có 3.513 quỹ tương hỗ với 145m tài khoản quỹ, còn nhiều hơn số hộ gđình tại Mỹ. Quỹ tương hỗ đã thực sự phổ cập như điện thoại di động tới từng hộ gđình Mỹ. Sự gia tăng mạnh mẽ dòng tiêng các quỹ cũng đóng góp lớn vào đà tăng của chỉ số ck. – Sự suy giảm của lạm phát và ảnh hưởng của ảo giác tiền bạc: trg gđoan 1982, lạm phát bình quân tại Mỹ là 4% và lợi nhuận danh nghĩa 8%, người ta chỉ để ý lợi nhuận danh nghĩa và mong muốn về sau cũng đạt mức đó dù lạm phát chỉ còn 2%, tức lợi nhuận thực đòi hỏi cao hơn hẳn quá khứ. Phản ứng của thị trg thật ra lại đi ngược lại về mặt kt, lẽ ra khi lạm phát cao lợi nhuận cũng phải cao đề bù đắp và khi lạm phát thấp lợi nhuận danh nghĩa cũng giảm theo, nhưng thị trg lại đang vận hành theo cách ngược lại. – Sự nở rộ của khối lg giao dịch: các nhà môi giới chiết khấu, nhà giao dịch hàng ngày và giao dịch 24h: tỷ lệ quay vòng tăng mạnh trong thời gian từ 1982-2000 từ mức 42% lên 78%, và Nasdaq từ 88% lên 221%, sự ra đời các nhà môi giới ck giá rẻ giúp cắt giảm cfi giao dịch càng kích thích thị trg giao dịch sôi động hơn, từ đó ngày càng thu hút thêm nđt tham gia vì để ý tới thanh khoản là xu hướng của nđt hiện tại. Số tk giao dịch trực tuyến cũng tăng mạnh tại Mỹ đi kèm làn sóng mua mạnh mẽ của các tk này. – Sự trỗi dậy của các cơ hội đánh bạc: ngành công nghiệp cờ bạc hợp pháp như sòng bạc, đua ngựa, cá cược bùng nổ tại Mỹ và thu hút rất nhiều người và tiền bạc vào đó. Sự đam mê kiếm đc tiền nhờ may mắn cũng bùng nổ nhờ các lời quảng cáo cũng như các tấm gươm giầu có từ cờ bạc đã kich thích lòng than của mọi người. Các hành động này đã khuyến khích sự chấp nhận rủi ro cao hợ trên ttck của nđt khi tham gia thị trường. Các yếu tố xúc tác thúc đẩy bùng nổ xã hội sở hữu trg giai đoạn 2003-2007 – Xã hội sở hữu: đây là slogan tranh của của tổng thống W Bush giúp ông thành công tái cử năm 2004. Việc sở hữu 1 ngôi nhà sẽ nâng tầm địa vị xh của mọi người và hiện thực hoá giấc mơ Mỹ. Nc Mỹ đã mở rộng cho vay tới nhiều đối tượng thu nhập thấp, tk thấp và rất dễ tổn thương nếu mất việc làm. Các chính sách cũng kích thích đtu mạnh vào thị trg ck và tạo ra niềm tin tài sản tăng mạnh và sự giầu có ngày càng tới gần và ko có gì phải lo ngại cho khoản vay mua nhà của mình khi các khoản đtu đem lại lợi nhuận lớn nhờ giá chứng khoán tăng nhanh. – Chính sách tiền tệ hỗ trợ: chủ tịch FED, Alan Greenspan là người đã thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ, lãi suất thấp dài nhất và vô tội vạ nhất trg lịch sử Hoa Kỳ và đã hỗ trợ nguồn vốn hoá rẻ cho các hoạt động đtu và đầu cơ chứng khoán lan tràn khắp nơi tại Mỹ. Dù ông có lo lắng về đầu cơ chứng khoán nhưng lại ko làm gì để ngăn chặn mà còn bơm thêm vốn cho đầu cơ ngày càng lớn hơn nữa. Các yếu tố xúc tác thúc đẩy bùng nổ bình thường mới hiện nay: gđoạn này chứng kiến các yếu tố xúc tác ko có gì quá nổi trội hào nhoáng như các lần bùng nổ trước, nó diễn ra khi ng ta vẫn còn lo sợ về khủng hoảng tài chính và nỗi lo về chính trị từng khu vực. – Từ sợ hãi khủng hoảng tới bình thường mới: tại đáy cuộc khủng hoảng 2009, đại đa số ng dân và nđt bi quan nghĩ về năm 1929 với đại khủng hoảng lạo xảy ra. Nhưng năm đó các dno cắt giảm mạnh chi phí đac giúp tăng trưởng lợi nhuận trở lại và tạo ra cú tăng mạnh mẽ sau đó. Và bình thường mói ra đời khi ng ta chấp nhận 1 sự tăng trưởng chậm chạp sẽ diễn ra trong 10-20 năm tới. – Chính sách tiền trẹ cực kỳ lỏng lẻo và nới lỏng định lượng: ls ngắn hạn đc đẩy về ~0% qua chính sách thị trg mở, sau đó ls dài hạn cũng đc kéo về ~1,4%. Các chương trình nới lỏng định lượng đc tung ra với việc FED mua chứng khoán thế chấp và chứng khoán kho bạc. Nđt chán nản với ls thấp của trái phiếu và đổ xô đi mua cổ phiếu. – Nỗi lo chấm dứt sự nghiệp: tỷ lệ lao động sụt giảm và nhiều ng bị loại khỏi lđ, nhưng thái độ hướng tới lợi suất đc đề cao, ng ta tìm kiếm cách có thu nhập cao trong tương lai dù cho ko có việc làm. Và ls trái phiếu quá thấp trg khi hiệu quả đtu cổ phiếu quá lớn đã kích thích dòng tiền chẩy mạnh vào đtu cp. – Bất bình đẳng gia tăng: tại Hoa Kỳ, 1% dân số giầu nhất hiện đang nắm tới 40% lượng cổ phiếu đang niêm yết tại Mỹ. Rõ ràng bất bình đẳng đang cao hơn bất kỳ gđoạn nào và càng kích thích ng khác theo đuổi đtu cổ phiếu để làm giầu tham gia vào clb 1% này. – Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và khuấy động chiến tranh: nhiều cuộc xung đột cục bộ xảy ra, lo lắng bất ổn đã làm nhiều dòng vốn tràn vào Mỹ nơi đc coi là ổn định nhất thế giới 5. Cơ chế khuếch đại: quy trình xảy ra tự nhiên của quy trình Ponzi Cơ chế vòng lặp phản hồi đc kích hoạt tự nhiên trên thị trường bởi niềm tin, kỳ vọng của nđt với hiệu suất thị trường trong tương lai và các ảnh hưởng liên quan đến nhu cầu của nđt. Thay đổi niềm tin của nđt: Niềm tin thị trg ck là khoản đtu tốt nhất lên rất cao khi thị trg ck bùng nổ như những năm đầu 70-73 hay gđoạn 1982-2000, và sụp giảm nghiêm trọng trg những năm thị trường suy giảm mạnh như 2000-2003, 2007-2009, 1973-1974,… tương tự với thị trg bđs đc coi là khoản đtu tốt nhất cho những ng nắm giữ lâu dài ở hầu hết thời gian nhưng cũng thất bại nặng nề trong gđoạn 2007-2009 hay nhiều hđoạn khác. Các quan điểm sự đồng thuận này luôn có sự cùng pha với đỉnh và đáy của các thị trường ck và bđs. Một số phản ánh về niềm tin của nđt: Nđt qua trải nghiệm thực tế trong quá khứ tại thị trg của mình sẽ có niềm tin rất lớn vào việc thị trg sẽ đảo ngược lại sau khi sụp đổ và lịch sử nc Mỹ đã từng như vậy và quá trình đạo ngược ngày càng nhanh hơn. Đại đa số nđt chưa trải qua cảm giác năm 1929 phải mất 30 năm thị trg ck mới quay lại mức đỉnh 1929, hay như thị trg ck Nhật Bản đã sụp đổ gần 30 năm và điểm số vẫn cách đỉnh cũ 40%. Lịch sự ko thật sự vững chắc ủng hộ quan điểm thị trg sẽ nhanh chóng phục hồi sau khủng hoảng nhưng noa vẫn tạo đc niềm tin đó trong lòng nđt. Thêm vào đó, báo chí thường xuyên đưa các câu chuyện thành công từ làm giầu nhờ đtu chứng khoán càng kích thích tâm lý sợ bỏ lỡ, mong muốn làm giầu nhanh chóng của nđt và họ sẵn sàng tham gia đầu cơ ck. Ở Việt Nam, thì đầy dẫy câu chuyện trở thành tỷ phú nhanh chóng nhờ đầu cơ bđs và toàn câu chuyện phá sản, nhẩy lầu do đầu cơ chứng khoán nên điều này ngược lại với thị trg Mỹ. Nhờ số liệu quá khứ ng ta chứng minh đc lợi nhuận trg quá khứ của các loại tài sản nhưng nó ko thể khẳng định tương lai cũng như vậy. Tại Việt Nam, thị trg bđs quá thiếu thông tin và sự minh bạch để xđịnh đc thực sự tỷ lệ lãi bình quân là bao nhiêu so với tài sản cổ phiếu. Nhận thực chung là bđs lãi vô cùng lớn nhưng nếu bình quân các thị trg tại các tỉnh lại là con số khác. Giống như ta đem so các mảnh đất vi trí tốt nhất với chỉ số chung VNIndex thì rõ ràng đất hơn, đảo ngược lại bạn lấy các cp tốt nhất so với giá đất bình quân cả Việt Nam bạn nghĩ cái gì sẽ có perf tốt hơn? Không nên quá bias về 1 loại tài sản nào cả để tránh nhận thức niềm tin mù quá như đại đa số nđt. Thêm vào đó, có vẻ mọi nđt trên mọi thị trg quá chú trọng vào lợi nhuận cá biệt để gán cho lợi nhuận chung của thị trường và nghĩ rằng thị trg chung sẽ đem lại lợi nhuận bình quân như thế, thực tế mức lợi nhuận có thể thấp hơn rất nhiều đặc biệt nếu tiếp tục trừ đi lạm phát, con số lợi nhuận thực có thể ko như bạn mong muốn. Việc phân bổ ts cần đc xem xét kỹ càng bởi lợi nhuận tiềm năng và xs xảy ra của chúng. Nhưng thông thươngg nđt sẽ ko làm vậy, nđt sẵn sàng thoả mãn cưỡi trên các con sóng và giả định sẽ rutd ra đúng lúc khi thuỷ triều rút và ko thật sự lo lắng về khả năng thua lỗ xảy ra. Hoặc như tư tưởng “đánh bạc bằng tiền nhà cái” làm họ cực kỳ chấp nhận rủi ro quá lớn và sẵn sàng đánh mất tất cả lợi nhuận có đc trước đó. Sự quan tâm của công chúng cũng diễn biến theo xu hướng thị trg và phản hồi qua lại với nhau. Thị trg lên báo chí viết về thị trg rất lớn, các buổi gặp mặt nc vs nhau đều chủ yếu nói về thị trg ck và ngược lại khi thị trg xuống mối quan tâm của công chúng cũng suy giảm đáng kể theo. Lý thuyết phản hồi của bong bóng: Ký thuyết này mô tả: việc tăng giá ban đầu đc kích hoạt bởi các loại yếu tố xúc tác ở trên dẫn tới nhu cầu của nđt tăng lên, phản hồi lại làm cho giá bị đẩy lên cao do a/h của lần tăng giá đầu. Vòng tăng thứ 2 này phản hồi lại tạo nên vòng tăng giá thứ 3, sau đó là thứ tư,… do đó, tác động ban đầu của xúc tác đc khuếch đạu, dẫn tới tăng giá lớn hơn nhiều so với kết quả tự các yếu tói xúc tác ấy có thể đem lại. Các vòng phản hồi như vậy xuất hiện ở cả thị trg giá lên và thị trg giá xuống cũng như thị trg bđs hay các thị trg khác. Lý thuyết phản hồi là 1 khái niệm phổ biến hay còn đc gọi là 1 vòng luẩn quẩn, 1 lời tiên tri tự thành, 1 hiệu ứng đoàn tầu. Khi đó ng ta tiếp nhận 1 dạng hành vi, phong cách hay thái độ nào đó đơn giản chỉ bởi vì người khác đang làm như vậy. Nó có thể là dựa trên kỳ vọng những gì sẽ xảy ra trg tương lai dựa trên những gì đã xảy ra trg quá khứ, phản hồi tăng giá diễn ra vì giá đã tăng trg quá khứ tạo ra kỳ vọng giá còn tiếp tục tăng tiếp. Có thể niềm tin nđt gia tăng vì giá đã tăng trg quá khứ, cũng có thể do hiệu ứng chơi bằng tiêng nhà cái làm giảm xu hướng bán của nđt… Bong bóng đầu cơ ko thể phát triển mãi mãi. Nhu cầu của nđt về ts đầu cơ ko thể tăng trưởng mãi mãi và khi nó ngừng tăng, giá sẽ ngừng tăng. Tuy nhiên, thực tế nó ko nổ đột ngột, vì chúng dựa trên nền tảng giá tăng liên tục. Phải có 1 động tĩnh gì đó làm thay đổi nhu cầu của nđt, 1 số phản ứng khó lường trước những thay đổi giá trg quá khứ, 1 sự thiếu đồng bộ nào đó giữa các nđt. Các nđt sẽ liên tục nhìn lại giá trong nhiều ngày, tuần, tháng để xem xét hiệu suất gần đây lôi cuốn hay không. Khi tiêu cực xảy ra, vòng xoáy phản hồi giảm giá đi xuống cũng diễn ra theo chiều hướng tương tự. Giá ban đầu giảm làm nản lòng nđt, khiến giá giảm hơn nữa và cứ như thế. Giá tiếp tục giảm cho tới khi dường như ko thể giảm hơn dc nữa, tại thời điểm đó, ko có lú do gì để mọi ng tránh xa khỏi cp và bong bóng tiêu cực kết thúc. Dù tích cực hay tiêu cực thì nó cũng sẽ ko bùng nổ đột ngột. Trong quá trình bong bóng hình thành, rõ ràng nđt ko thực sự tin vào việc thị trg hợp lý mà việc đánh giá thị trg đang quá cao/quá thấp có tỷ lệ rất cao, nhưng mọi ng đều chấp nhận vòng phản hồi đó và tích cực tham gia vào với suy nghĩ sẽ rút ra kịp lúc khi xu hướng đảo chiều. Mô hình Ponzi như mô hình phản hồi và bong bóng đầu cơ Mô hình Ponzi thật sự ko khó hiểu, tài sản của nđt đc các tay lừa đảo chủ yếu dungg tri trả lợi nhuận lớn cho chính họ và từ đó thu hút lôi kéo nhiều nđt mới tham gia và cứ liên tục như vậy. Các chiến lc đtu đc đưa ra dù có 1 phần sự thật thì hoặc nó ko đủ lớn để tạo ra lợi nhuận lớn như vậy và các tay lừa đảo cố gắng hi vọng sẽ ôm đc món tiền lớn nhất vào gđoạn cuối cùng rồi bỏ trốn với khoản tiền đó. Nđt rất khó thoát khỏi cái bẫy tâm lý đố ký khi thấy ng khác kiếm đc rất nhiều tiền trong khi mình đứng yên tại chỗ và họ lao vào đưa tiền cho các tay lừa đảo để nhận lại 1 phần tiền của chính bản thân mình. Họ luôn tự huyễn bản thân rằng mình sẽ chỉ tham gia 1 thời gian ngắn và chắc chắn sẽ rút ra kịp lúc trước khi các mô hình đó sụp đổ. Điều này là có khả năng nhưng rất khó để biết khi nào rút ra kịp để thoát khỏi lừa đảo. Bong bóng đầu cơ trên thị trg tài chính cũng hoạt động tương tự như mô hình Ponzi nhưng nó thường tự hình thành bởi sự cổ vũ và niềm tin của những ng tham gia thị trg rằng thị trg còn thuận lợi và tiếp tục đi lên, và họ luôn nghĩ rằng sẽ bán ra kịp trước khi thị trg sụp đổ. Phần II. Những yếu tố văn hoá 6. Phương tiện truyền thông Truyền thông luôn săn lùn tin tức và giật tít chúng với nhiều thông tin thổi phồng hay nhìn với các góc nhìn để tìn ra những điều đc coi là “kỷ lục” hay bất thường so với trung bình. Tuy nhiên thông tin ko thật sự đóng góp quá lớn vào diễn biến chung của thị trường. Điều có tác động lớn nhất tới thị trường chung luôn là diễn biến giá trước đó của thị trường. Rất nhiều đợt sụt giảm lớn mạnh nhất trên thị trường như năm 1929 và 1987 hầu như ko có tin tức gì gây sốc tại quanh giai đoạn đó. Vai trò của phương tiện truyền thông trong trck ko chỉ là công cụ đưa tin cho nđt mà còn tích cực định hình sự chú ý của công chúng và các phạm trù tư tưởng, và chúng tạo ra môi trường diễn ra các sự kiện thị trg đầu cơ mà chúng ta nhìn thấy. Các phương tiện truyền thông là nguồn tuyên truyền chủ yếu về biến động giá đầu cơ thông qua những nỗ lực làm cho tin tức trở nên thu hút với khá giả của họ. Họ thường gắn câu chuyện tin tức vào biến động giá mà công chúng có thể quan sát thấy, do đó tăng cường sự nổi bật của các bước dịch chuyển này và đưa sự chú ý dồn vào chúng. Or họ nhắc nhở công chúng về các giai đoạn thị trg trong quá khứ, or các chiến lc giao dịch có thể xảy ra của ng khác. Do vậy, phương tiện truyền thông có thể thúc đẩy phản hồi mạnh mẽ hơn từ những thay đổi giá trg quá khứ đến thay đổi hơn nữa và họ cũng thúc đẩy chuỗi các sự kiện khác, tạo ra dòng thác thông tin. 7. Tư duy kinh tế kỷ nguyên mới Sự mở rộng đầu cơ thường đc liên kết với nhận thức phổ biến rằng tương lai tươi sáng hơn và ít bất định hơn so với hiện tại. Điều này còn hay đc gắn mác là “kỷ nguyên mới”, sự thật là có 1 phần trong đó là đúng, cuộc sống có tăng trưởng tốt đẹp hơn, mọi thứ tốt đẹp hơn trg gđoạn đó đi kèm với sự ra đời mang tính đột phá đã làm mọi ng liên tưởng sự tăng trưởng này do sự độ phá công nghệ nào đó đen lại tạo ra những đợt đầu cơ mạnh mẽ trên thị trg. Sự lạc quan năm 1901: đỉnh cao thế kỷ 20 Thị trg ck Mỹ có sự tăng trưởng liên tục trong suốt 12 tháng trước, các bài báo lạc quan về triển vọng kt vô cùng sáng sủa tại Mỹ đc mở ra chào đón thế kỷ mới với trung tâm là cuộc cách mạng về điện khí hoá với các câu chuyện đc vẽ ra tưởng như đã đã rất gần vào năm 1901 như: xe lửa chạy 150 dặm/h, xb báo chỉ cần nút bấm, robot trả tiền thừa, phát sóng lên sao hoả, bay lên sao hoả bằng khinh khí cầu,… thời đại công nghệ cao, khám phá vũ trụ dường như đã rất gần. Trên ttck Mỹ, năm đó ra đời siêu tổng cty thép Mỹ (United Steel) từ JP Morgan mua lại cty thép của Carnegie và nhiều cty thép khác, hệ thống đường sắt bị Morgan thâu tóm,… hình thành lợi thế theo quy mô hùng hậu thúc đẩy giá cp đi lên mạnh mẽ đặc biệt các cty độc quyền thâu tóm lớn. Tuy nhiên, tháng 9/1901, tổng thống McKinley bị ám sát và tổng thống Roosevelt lên thay đã cho ra đời đạo luật chống độc quyền và dần giải tán các tổ chức độc quyền lớn lúc đó làm tiêu tan đợt hưng phấn đầu thế kỷ 20. 1 niềm tin thứ 2 trên thị trg đó là niềm tin các ông trùm tài chính luôn hỗ trợ đảm bảo vho thị trg đi lên với vai trò lớn của JP Morgan, Standard Oil, và các nhóm ông trùm khác như Kuhn Loeb-Gould-Harriman Interest. Nhưng cuối cùng thị trg cũng sụp đổ vào năm 1907 dù lúc đó mọi ng đều tin thị trg ko thể sụp đổ. Lạc quan những năm 1920 Thời điểm những năm 20s này chứng kiến sự nhiệt tình cao độ của công chúng tới ttck Hoa Kỳ, hầu hết mọi ng đều quan tâm tới giá cp biến động hàng ngày ra sao từ cậu bé đánh giầy tới cô giúp việc trg gia đình hay tài xế taxi,…nhưng năm này điện khí hoá đã bao phủ hầu hết tại Mỹ, phát thanh ra đời, oto đc phổ cập từ 1,9tr chiếc năm 1914 lên 23,1tr chiếc năm 1929, đg cao tốc đc mở rộng khắp nơi, chính sách tiền tệ của FED ủng hộ duy trì thúc đẩy kt và ttck phát triển….sự kết thúc kỷ nguyên này là sự thất vọng với cntb và sự lên ngồi của cncs và cn phát xít. Tư duy kỷ nguyên mới những năm 1950-1960 Sau vài năm trì trệ đầu những năm 50s, thị trg ck Mỹ tăng mạnh mẽ +94,3% trong 2 năm từ 1953-1955 mà ko thật sự có tin tức gì quá lớn xảy ra. 1 lần nữa niềm tin kỷ nguyên mới lại hình thành khi ng ta nghĩ FED đã ksoat tốt lạm phát ở mức thấp,m giúp nhu cầu mua cp ổn định, phát minh ra truyền hình và phổ cập rộng rãi tại Mỹ nhanh chóng từ 3% hộ dân sở hữu năm 1948 lên 76% năm 1955. Số ng nắm giữ cp cũng tăng vọt lên 7,5tr người, tiền đổ vào các quỹ từ 1,3bil $ lên 7,2bil $, thế hệ baby boomer hứa hẹn sẽ thúc đẩy nền kt phát triển mạnh mẽ trg tương lai… sự kết thúc kỷ nguyên này là nỗi sợ hãi bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên và lạm phát cao. tổng thống Kennedy đắc cử sau khi thắng lợi lớn với chính sách bđs tại California đã tạo ra niềm tin lớn lao cho ng dân Mỹ về việc vhinh phục mặt trăng năm 1970, cảm hứng từ ông lan truyền ra khắp ttck Mỹ để xd nên xh vĩ đại theo tầm nhìn của mình. Ng dân coi ttck là khoản đtu tốt nhất trong các loại ts ở gđoanh những năm 60s này. Nđt coi cp là chống lạm phát và khi lạm phát tăng giá cp sẽ tăng cao hơn đề bù cho lạm phát. Nđt nhìn vào mốc chủ số DJ 1.000 điểm và liên tục kỳ vọng đầu cơ vượt qua mức đó, dù thực sự nó đã có lúc vượt mốc 1.000 điểm nhưng ko thể giữ đc cho tới tận năm 1982 mới vượt qua đc mốc này. Nỗi lo sợ lạm phát cao bùng nổ cuối những năm 60s và mạnh mẽ vào gđ 1973-1974. Những năm 80s là lo sợ sự tụt hậu so với Nhật Bản,… Tư duy kỷ nguyên mới trong ttck những năm 1990 Trong gđoạn bùng nổ này ng ta giải thích do: toàn cầu hoá gia tăng, sự bùng nổ công nghệ cao, lạm phát thấp, ls giảm, lợi nhuận tăng. Vì vậy, giá cp đi lên và mức giá là hoàn toàn hợp lý. Gđoạn này chứng kiến sự trái ngược với gđ 1950-1960 khi lạm phát cao giá cp lên theo, gđ từ những năm 90s trở đi chỉ có lạm phát thấp mới giúp thị trg đi lên còn lạm phát cao sẽ đẩy thị trg đi xuống. Mức tăng năng suất lđ ấn tượng của hoa kỳ trong suốt gđ đó đi cùng với sự ra đời của internet làm ng ta nhầm lẫn nhờ internet mà có sự tăng năng suất lđ này và đầu cơ cao độ các cp có internet và .com. Nhưng sau đó niềm tin tan biến khi ng ta thấy các dno internet non trẻ này ko có lợi nhuận và chẳng đóng góp bao nhiêu vào tăng trưởng hay năng suất các dno cũng như mức định giá bình quân >100 lần của chúng. Tư duy trong bùng nổ bđs Đợt bùng nổ bđs đầu tiên tại Mỹ diễn ra năm 1880-1887 tại California với sự kích động do thời tiết nắng ấm tuyệt vời của khu vực này đã kích thích ng ta đổ dồn về đây đầu cơ, giao thông đg sắt thông suốt càng củng cố niềm tin này. Tuy nhiên, sau đó ng ta nhận ra cơ sở công nghiệp hạ tầng thiếu thốn tại đây và giá đất sụp đổ từ 1888-1889. Tuy nhiên, đây chỉ là cuộc bùng nổ cục bộ ko lây lan ra toàn quốc. Đợt bùng nổ cục bộ thứ 2 diễn ra tại Florida, Miamin và cao trào vào năm 1925, khi ng ta nghĩ rằng khu vực này để nghỉ dưỡng tuyệt vời trú lạnh cho mùa đông. Giá đất lên khắp nơi, tuy nhiên 1 trận bão thổi qua tà phá khu vực đã làm cơn đầu cơ đột ngột chấm dứt nhanh chóng. Đợt bùng nổ mạnh mẽ có ảnh hướng tới toàn quốc đầu tiên tại Hoa Kỳ là gđoạn 1975-1980 ở California rồi lan ra các khu vực khác cho tới năm 1989. Rất nhiều khu vực lớn giá nhà tăng mạnh như Bang California tăng 60% trong 1975-1980 và bắt đầu suy giảm từ giữa 80s, sự tăng này bắt nguồn từ hạn chế nguồn cung mới do ksoat chặt việc xây dựng mới và chính sách giảm thuế bđs của Reagan khi đó thống đốc bang. Vào năm 1980, đợt bùng nổ mạnh mẽ tại Boston giúp giá nhà tăng 38% nhờ nhiều cty phần cứng máy tính phát triển tại đây và kỳ vọng sẽ vượt qua thung lũng Sillicon đã kích thích ng dân nắm giữ bđs. Đợt tăng giá này chấm dứt so cuộc suy thoái nhẹ năm 1990-1991 và giá nhà sụt giảm tới tận năm 1997. Giá nhà Los Angeles -40% so với đỉnh năm 1989. Trong gđ từ cuối những năm 90s (từ khoảng 1997s trở đi), với sự bùng nổ internet làm ng ta tin rằng có thể làm việc từ xa, bùng nổ ngôi nhà thứ 2, thế hệ baby boomer nghỉ hưu sẽ đến các khu vực nắng ấm đẹp ven biển hay trên núi ở đã kích thích mạnh mẽ bđs du lịch ven biển và trên núi tăng giá mạnh mẽ với niềm tin các vị trí đó rất ít và bị giới hạn trong khi sự giầu có gia tăng và nhu cầu luôn tăng. Nhu cầu này là có nhưng nó ko đủ lớn để ng ta đổ sô đi đầu cơ giá lên quá cao như gđoạn 2003-2006 và thị trg bđs sụp đổ mạnh mẽ sau đó. Sự bùng nổ bđs gđ 2003-2006 còn đến từ sự thất vọng do ttck sụp đổ gđ 2000-2003 làm nhiều ng rút vốn qua đtu bđs vì nghĩ bđs an toàn hơn cổ phiếu. 8. Kỷ nguyên mới và bong bóng mới trên khắp thế giới Sự bùng nổ đầu cơ ko chỉ diễn ra tại Mỹ mà còn khắp nơi trên thế giới. Thực tế Mỹ ko phải nc có mức tăng/giảm trong 1 năm sốc nhất mà có rất nhiều nc khác có điều này. Quán quân tăng mạnh nhất trong 12 tháng thuộc về Philippine và giảm mạnh nhất trong 12 tháng cũng thuộc về nc này. Các nc khác như Đài Loan, Hàn Quốc, Venezuena, Peru, Italy, Pháp,… đều chứng kiến các đợt bùng nổ tăng giá mạnh mẽ rồi theo sau là sự sụp giảm mạnh mẽ sau đó. Hầu hết các đợt tăng này đều đến do có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chế hay chính trị đem lại làm nđt hào hứng với thời đại mới hay kỷ nguyên mới hay tên gọi gì đó tương tự làm bùng phát đầu cơ qua độ, theo sau việc đầu cơ quá độ này thưởng làm ảnh hưởng nặng nề sau đó mà rất nhiều nc mãi chưa thể hồi phục như Nhật Bản sau năm 91 tới nay. Phần III. Những yếu tố tâm lý 9. Mỏ neo tâm lý cho thị trường Ko nhiều ng đanh thời gian tìm hiểu tại sao dj lại 4.000 điểm hay 14.000 điểm và nó là cao hay thấp. Con người bị hiệu ứng mỏ neo tác động trg cuộc sống đặc biệt trg nhậy cảm hơn trong các sự kiện tài chính. Mỏ neo định lượng: con người bị neo vào mức giá của cp gần đây và trg quá khứ để qđịnh mức giá hiện tại. Mức pe của cty này đc neo với pe của cty khác, các cty trg cùng 1 nc neo với nhau thay vì so với cty cùng ngành ở nc khác… tại thành pp so sánh trg định giá neo vs nhau. Neo cảm xúc thị trường: đây là sự neo cảm giác của con ng trg việc giữ cp hay rút tiền ra chi tiêu. Khi phần cp nắm giữ giúp ng ta thành triệu phú usd thì có nên rút ea chi tiêu mua sắm như triệu phú usd hay tiếp tục sống tằn tiện để giữ khoản đtu làm giầu. Neo cảm xúc chủ yếu do yếu tố kể chuyện mà ko phải do yếu tố định lượng. Các câu chuyện lôi cuốn sẽ thu hút nđt nắm giữ và mua thêm cp. Giống như cách các khoản 401k của nhân viên các cty chủ yếu mua cp cty họ làm vì họ đc kể và nghe nhiều câu chuyện về cty họ. Con người thường có sự tự tin quá mức trong niềm tin của họ. Mọi ng sẵn sàng hành động dựa trên những câu chuyện hoặc lý do mà ng ta có thể nghĩ rằng nên đặt niềm tin vào đó. Mọi ng có xu hướng nghĩ rằng mình biết rất nhiều, dù thực tế ko như điều họ nghĩ. 10. Hành vi bầy đàn và dịch bệnh Trong thị trường nếu hàng triệu ng tham gia có suy nghĩ độc lập với nhau sẽ ra các qđịnh khác nhau và trung hoà thị trường. Nhưng thực tế nđt thường ra các qđịnh giống nhau do họ cùng tiếp nhận thộg tin phổ biến tại thời điểm đó. Áp lực xh lên hành động của con người là có nhưng đó ko phải lý do chính, lý do chính yếu đc cho là xuất phát từ dòng thác thông tin. Dòng thác thông tin này có thể do 1 số người tham gia ban đầu bởi bất kỳ lý do nào đó, sau đó truyền miệng nhau và khuếch tán câu chuyện đó ra những người cung quanh, nhưng người tiếp theo lại thấy có những người đã tham gia trước đó, trong kiểm nghiệm thực tế xh, đám đông thường thường có lựa chọn chính xác và từ đó làm những ng đến sau lựa chọn giống những ng đến trước. Thông thường trí tuệ đám đông này sẽ chính xác hơn rất nhiều 1 cá nhân nếu họ có tư duy độc lập khác biệt nhau, nhưng trg xh đại đa số mọi ng bị tư duy lẫn nhau làm theo nhau mù quáng nên đám đông chưa chắc đã đúng. Cơ chế lây lan trg đám đông có vẻ giống cơ chế lây lan virus trg dịch tễ theo 2 cách mô hình hình logarit và moi hình hình chuông, nhưng biến động trg thị trg mang tính xh nên ko tìm ra đc mô hình toán học mô tả chính xác đc diễn biến đó vì sự quá dễ thay đổi của công chúng. Người ta rất nhanh quên lý do vì sao họ đã mua cp đó và rất nhanh thay đổi khi thị trg biến động. Phần IV. Nỗ lực để hợp lý hoá sự phấn khích 11. Thị trường hiệu quả, bước đi ngẫu nhiên và bong bóng Lý thuyết thị trg hiệu quả là lý thuyết có tầm ảnh hưởng lớn lao tới kinh tế học hiện đại ngày nay và vẫn đc giảng dậy hàng ngày khắp nơi trên thế giới. Các lý luận phản đối lý thuyết bày có rất nhiều nhưng đều bị những ng ủng hộ bác bỏ mạnh mẽ vì chỉ coi đó là những hiện tượng cá biệt và ko có tác động đáng kể tới sự vận hành của lý thuyết này. Lý thuyết khẳng định mọi sự lệch lạc trg định giá sẽ đc các smart money giúp đưa về đúng định giá trg thời gian ngắn. Tuy nhiên, trên thị trường ck sự sai lệch định giá có thể diễn ra trg thời gian rất dài trước khi bị điều chỉnh giảm quá mức và rất ít khi giá tài sản lại bằng giá trị của nó. Lý thuyết này cũng khẳng định những ng thông minh nhất, năng động tự tin nhất cũng ko thể thắng đc thị trg chung nên tốt hơn hết hãy để thụ động theo thị trường. Về cơ bản đúng là đại đa số nđt thua kém thị trường và trong dài hạn chỉ có 5-10% những người xuất sắc nhất là có thể chiến thắng đc thị trg trong thời gian dài 40-50 năm đtu. Đại đa số sẽ thất bại trên con đường dài hạn này so với thị trg chung. Tuy nhiên, khi mọi ng chấp nhận điều này thì sẽ có nhiều cơ hội cho những ng đi ngược lại đám đông để tìm kiếm món hời. Tại Mỹ số ng chấp nhận thua kém đtu rất lớn và từ bỏ tưh đtu mà mua các quỹ đtu etf ngày càng nhiều. Trg khi đó, nđt tại Việt Nam đang rất ko tin thuyết thị trg hiệu quả nên 99% vẫn qđịnh tự đtu với niềm tin sẽ chiến thắng thị trường nên ko mấy quan tâm cac quỹ đtu đặc biệt các quỹ passive (etf), bản chất lợi nhuận/hay thua lỗ bin phóng đại do tỷ lệ leverage quá lớn chứ ko hẳn lợi nhuận của họ hơn được thị trg chung. Có 1 lý thuyết ủng hộ thị trg hiệu quả là việc thu nhập tăng kéo theo thị trg tăng, hay cổ tức tăng kéo theo thị trường tăng quanh đó. Nhưng nhìn nhận từ thị trg ck Mỹ, có vẻ thị trg có sự biến động cao hơn nhiều lần so với sự tăng trưởng của thu nhập và cổ tức các dno và thường có xu hướng tăng nhiều hơn rất nhiều so với sự tăng trưởng thu nhập thị trg. Khi pe thị trg quá cao thì thường 5 năm tiếp theo sẽ có lợi nhuận rất kém hoặc lỗ, và ngược lại khi pe thị trg (o đây là pe bình quân 10 năm) quá thấp thì lợi nhuận 5 năm tới thường rất cao. Ngoài ra, việc ls dài hạn quá thấp đẩy giá trái phiếu lên quá cao trg khi ls tiền gửi quá thấp cũng làm so sánh tương quan các loại tài sản giúp giá cp vẫn đc ưa chuộng hơn các loại ts khác. Điều này càng kích thích nđt mua và nắm giữ cp hơn đẩy thị trg ngày càng tiếp tục tăng cao. Lý thuyết thị trg hiệu quả ko thể giải thích bóng bóng thị trg do nó coi mọi mức giá đều hơp lý phản ánh ngay tin tức thị trg và dno, nhưng những gđ biến động mạnh thị trg thường ko có quá nhiều tin tức để giá cp phản ánh mạnh đến như vậy. Ko thể có sự định giá thay đổi 20% – 30% – 50% chỉ sau 1 phiên giao dịch mà đc coi là vẫn định giá đúng đc. 12. Nđt học đc gì và gạt bỏ những gì? Sau quá trình kêu gọi lâu dài, nhìn chung công chúng Mỹ có niềm tin sâu sắc rằng cổ phiếu là ts đem lại hiệu suất vượt trội hơn tất cả các loại ts khác trong khung thời gian càng dài càng tốt. Niềm tin này đc ủng hộ nhò các dữ liệu lịch sử thị trg lâu dài có đc trong hơn 100 năm qua tại Mỹ. Thêm vào đó ng ta chấp nhận rủi ro thị trg ck và nhận định rủi ro trên ttck đã khá thấp và giảm đi nhiều. Điều này gộp lại tạo thành loại tài sản: đem lại lợi nhuận tốt nhất với rủi ro tương đối thấp. Đây là ts hoàn hảo cho mọi nđt mong muốn làm giầu 1 cách an toàn. Nhưng nhìn chung niềm tin này là tương đối mù quáng vì có rất nhiều lúc thị trg giảm mạnh và kéo dài thời gian giảm này rất nhiều năm hoặc việc sụp giảm quá lớn cuốn sạch vốn đtu của mọi người đi. Điều này làm tôi luôn suy nghĩ về bđs ở Việt Nam khi nđt gần như 100% (chí ít phải 99,x%) tin rằng đtu bđs tại Việt Nam là ko thể lỗ, luôn luôn lãi và làm mọi nđt đều trở lên giầu có theo thời gian. Tỷ lệ niềm tin này ở Việt Nam dành cho bđs chắc chắn cao hơn vô khối lần niềm tin nắm giữ cổ phiếu là kênh làm giầu tốt nhất tại Mỹ. Phần V. Lời kêu gọi hành động 13. Biến động đầu cơ trong 1 xã hội tự do Thị trg tăng cao do tâm lý thờ ơ chủ quan của đại đa số nđt. Nđt đã hành động quá bản năng và bị ảnh hưởng nặng nề bởi truyền thông chỉ làm việc để thu hút độc giả, do đó hạn chế độc giả đtu 1 cách cẩn trọng, kỷ luật bằng sự phân tích định lượng rõ ràng vêg gtri cơ bản của tài sản đtu. Giá tái sản bên cạnh đc xđịnh do mqh cung – cầu nó còn bao gồm nhiều yếu tố xh và cảm xúc, đặc biệt là sự chú ý đến việc tăng giá, ấn tượng của công chúng là quá lớn với sự biến động giá của tài sản trg ngắn hạn. Hầu hết, và gần như tuyệt đại đa số nđt chỉ có ý tưởng mờ nhạt về việc xđịnh giá trị hợp lý của tài sản mà chỉ quan tâm mối tương quan so sánh cp này với cp tương tự, căn nhà này với căn nhà tương tự xung quanh, khái niệm quá cao hay quá thấp chỉ xoay quanh mqh với những tài sản tương tự mà ko mấy quan tâm tới giá trị nội tại của bản thân ts đó. Điều nổi bật trg tâm trí nđt là tốc độ tăng giá, điều họ nói vànnghe rất nhiều trg thời điểm giá thay đổi nhanh chóng, và điều đó có tác động mạnh đến nhu cầu của họ đối với ts đầu cơ. Khi giá tăng trg thời gian bong bóng diễn ra theo thời gian, mọi ng liên tục định giá lại ts của họ với giá ngày càng cao hơn. Những ng nghĩ tới bong bóng và mức định giá quá cao, đang đặt câu hỏi về những đánh giá của họ trước đây có sai lầm hay không và tự hỏi liệu có nhân tố cơ bản nào đó đang thúc đẩy giá lên cao nào mà họ đã bỏ lỡ hay không. Và nhiều chuyên gia bị cho là sai lầm khi dụe báo rất sai tình hình thị trường. Lý thuyết phản hồi hoạt động rất hiệu quả khi tạo ra các vòng xoáy phản hồi liên tục thúc đẩy giá ts đi lên hay đi xuống trg thời gian phi lý quá lâu đủ để đánh bại những ng kiên định nhất. Các bđt nội địa thường tỏ ra yêu và hào hứng hơn rất nhiều so với nđt nc ngoài và thường có cái nhìn quá lạc quan về thị trg hơn. Vì vậy, khi thị trg bong bóng sụp đổ các nđt nội địa thường thiệt hại nặng nề hơn các nđt nc ngoài. Các ý kiến kêu gọi bong bóng hay cẩn trọng của chuyên gia thường ko có mấy tác dụng kìm hãm bong bóng tài sản, các chính sách về ksoat tài chính, nâng lãi suất thường lại hay gây ra các cú gãy đổ vỡ đột ngột ttck và tạo ra vòng luẩn quẩn chính sách của các nhtw trg việc ksoat lạm phát hay tiếp tục duy trì ls thấp làm nuôi dưỡng tình trạng đầu cơ tràn nan hiện nay. Khủng hoảng, bong bóng ts hình thành và vỡ chắc chắn sẽ tiếp tục xảy ra trg tương lai, nhưng để dự báo chắc chắn khi nào xảy ra chính xác lại là yếu tố khả ngẫu nhiên và khó có thể dự báo chính xác đc. Thay vào đó, chúng ta ko đc phân tâm khỏi những nhiệm vụ, mục tiêu của ban thân đã đề ra. Bài giảng của Schiller: Bong bóng: là 1 tình huống trg đó tin tức về việc tăng giá đã thúc đẩy sự nhiệt tình của nđt, lan truyền bởi sự lây nhiễm tâm lý từ ng này sang ng khác, trg qtrinh khuếch đại những câu chuyện có thể giải thích cho việc tăng giá và thu hút nhóm nđt ngày càng lớn hơn nhảy vào thị trg, những ng này, mặc dù nghi ngờ về gtri thực của khoản đtu, bị thu hút 1 phần thông qua sự ghen tị với những thành cộg của ng khác và 1 phần thông qua sự phấn khích của con bạc. Bong bóng thể hiện sự lây lan như dịch bệnh, cảm xúc của nđt, và bản chất của tin tức và phương tiện truyền thông. Bong bóng là câu chuyện về cách nđt bị tấn công tổng lực từ 1 giả thuyết thoạt nghe có vẻ rất hợp lý về định giá quy ước này cho đến 1 giả thuyết khác. Nó giống 1 ng hùng biện giỏi có thể chiến thắng dù ở phía bên nào nếu đối thủ của họ lập luận kém hơn. Họ xoáy quanh 1 dữ kiện nào đó, rồi khuếch đại và làm tôn lên các dữ kiện khác. Trong phương pháp định giá thị trg của mình, Schiller sử dụng giả định mô hình chiết khấu cổ tức để định giá thị trg hiện tại mà ko dùng các pp so sánh pe tương đương hay pe lịch sử. Với cp đơn lẻ: ngoài yếu tố cổ tức, diễn biến giá của cp đơn lẻ còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lợi nhuận

ShareTweetShare nguyenminhhanh

nguyenminhhanh

Người đam mê đọc sách để phục vụ niềm đam mê công việc, kinh doanh của mình và hi vọng giúp ích được cho người khác điều gì đó.

Bài liên quan Posts

Chiến lươc Đón đầu trong Thị trường Biến động (The Little Book of Bull’s Eye Investing) – John Maudin Sách tài chính - đầu tư - chứng khoán

Chiến lươc Đón đầu trong Thị trường Biến động (The Little Book of Bull’s Eye Investing) – John Maudin

Tháng Mười Một 4, 2024 Tâm lý học về Tiền – Những bí mật về tham vọng, sự thịnh vượng và hạnh phúc – Morgan Housel Sách tài chính - đầu tư - chứng khoán

Tâm lý học về Tiền – Những bí mật về tham vọng, sự thịnh vượng và hạnh phúc – Morgan Housel

Tháng Mười 28, 2024 Trí tuệ tài chính (Financial Intelligence) – Karen Berman & Joe Kninght, John Case Sách tài chính - đầu tư - chứng khoán

Trí tuệ tài chính (Financial Intelligence) – Karen Berman & Joe Kninght, John Case

Tháng Mười 19, 2024 Đầu tư chất lượng – Sở hữu những công ty tốt nhất trong dài hạn – Lawrence A. Cunningham, Torkell T.Eide & Patrick Hargreaves Sách tài chính - đầu tư - chứng khoán

Đầu tư chất lượng – Sở hữu những công ty tốt nhất trong dài hạn – Lawrence A. Cunningham, Torkell T.Eide & Patrick Hargreaves

Tháng Chín 16, 2024 Sai làm chết người trong đầu tư (Big Mistakes) – Michael Batnick Sách tài chính - đầu tư - chứng khoán

Sai làm chết người trong đầu tư (Big Mistakes) – Michael Batnick

Tháng Tám 29, 2024 5 sai lầm thường gặp trong đầu tư – Peter Mallouk Sách tài chính - đầu tư - chứng khoán

5 sai lầm thường gặp trong đầu tư – Peter Mallouk

Tháng Tám 3, 2024 Bài tiếp theo Chiến lược đầu tư chứng khoán – David Brow & Kassanda Bentley

Chiến lược đầu tư chứng khoán - David Brow & Kassanda Bentley

Trò đùa của sự ngẫu nhiên – Nassim Nicholas Tableb

Trò đùa của sự ngẫu nhiên - Nassim Nicholas Tableb

Bình luận 2

  1. Thanh says: 5 năm ago

    Cuốn sách phân tích sâu về bong bóng tài sản, thứ hiếm khi xuất hiện nhưng vô cùng nguy hiểm. Bài học đơn giản là tránh xa sự điên rồ của đám đông. Sách không nói nhiều về việc nhà đầu tư nên làm gì để tránh thua lỗ và lợi dụng bong bóng. Quả thực một nhà kinh tế học giỏi không hẳn là nhà đầu tư giỏi. Định mua về đọc nhưng thôi sách ở nhà nhiều quá rồi. Tôi thích những cuốn thiên về đầu tư hơn. Dù sao sách cũng khá hay.

    Trả lời
  2. Pingback: hiểu: Lạc quan tếu (Irrational Exuberance) là gì Ví dụ về lạc quan tếu-thuật ngữ kinh tế (doanh) - hieuthem

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bình luận

Tên *

Email *

Trang web

Lưu tên của tôi, email, và trang web trong trình duyệt này cho lần bình luận kế tiếp của tôi.

Giới thiệu

Nguyen Minh Hanh

Học Tin học kinh tế tại National Economics University Sống tại Hà Nội Đến từ Hà Nội

  • Xu hướng
  • Bình luận
  • Mới nhất
Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis)  – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis) – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Tháng Ba 27, 2021 45 giây tạo nên thay đổi – thấu hiểu tiếp thị mạng lưới – Don Failla

45 giây tạo nên thay đổi – thấu hiểu tiếp thị mạng lưới – Don Failla

Tháng Mười Hai 19, 2020 Momentum Masters – Những bậc thầy đầu tư theo đà tăng trưởng – Mark Minernivi

Momentum Masters – Những bậc thầy đầu tư theo đà tăng trưởng – Mark Minernivi

Tháng Tám 28, 2020 Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) – Adam Smith

Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) – Adam Smith

Tháng Mười Một 8, 2020 Hiệu ứng dòng vốn rẻ

Hiệu ứng dòng vốn rẻ

26 Ups – Big Brown

Ups – Big Brown

23 Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis)  – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis) – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

20 Quant Trading – Hoàng Tùng

Quant Trading – Hoàng Tùng

17 The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

Tháng Một 25, 2026 Sách hay năm 2025

Sách hay năm 2025

Tháng Một 1, 2026 TITAN – Gia tộc ROCKEFELLER – Ron Chernow

TITAN – Gia tộc ROCKEFELLER – Ron Chernow

Tháng Mười Hai 27, 2025 Phúc ông tự truyện – Fukuzawa Yukichi

Phúc ông tự truyện – Fukuzawa Yukichi

Tháng Mười 5, 2025
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Call us: +84 9

© 2020 Nguyenminhhanh.com

Không kết quả Xem tất cả kết quả
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác

© 2020 Nguyenminhhanh.com

Từ khóa » Ebook Lạc Quan Tếu