Kangaroo – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Kangaroo[1] | |
|---|---|
| Tình trạng bảo tồn | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Mammalia |
| Phân lớp (subclass) | Marsupialia |
| Bộ (ordo) | Diprotodontia |
| Phân bộ (subordo) | Macropodiformes |
| Họ (familia) | Macropodidae |
| Chi (genus) | MacropusShaw, 1790 |
| Các loài | |
| Macropus rufus Macropus giganteus Macropus fuliginosus Macropus antilopinus | |
Kangaroo, còn được Việt hóa thành Kăng-gu-ru hay Chuột túi, là một nhóm các loài thú có túi thuộc họ Chân to (Macropodidae). Từ kangaroo thường dùng để chỉ một số loài lớn nhất trong họ này như Kangaroo đỏ, Kangaroo Antilopin và Kangaroo xám. Kangaroo còn có nhiều loài nhỏ hơn. Kangaroo cùng với Đà điểu Emu là biểu tượng của Úc, xuất hiện trên quốc huy.
Sa mạc nước Úc vào ban ngày rất nóng, nhưng Kangaroo có thể sống được lâu dài trên đó. Khi quá nóng, chúng sẽ liếm cặp chân trước (vốn có ít lông). Khi nước bọt bay hơi, nó sẽ làm mát máu bên dưới lớp da, từ đó giúp điều hoà nhiệt độ cho toàn toàn cơ thể.
Phân loại và mô tả
[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có bốn loài còn tồn tại thường được gọi là kangaroo:
- Kangaroo đỏ (Osphranter rufus)[2] là loài thú có túi lớn nhất còn tồn tại trên thế giới. Chúng sinh sống tại vùng trung tâm khô hạn và bán khô hạn của lục địa Úc. Mật độ quần thể kangaroo đỏ cao nhất tập trung ở các vùng đồng cỏ chăn thả phía tây New South Wales. Kangaroo đỏ thường bị nhầm lẫn là loài phổ biến nhất, nhưng thực tế kangaroo xám phương Đông mới là loài có số lượng đông đảo hơn.[3] Một con đực lớn có thể cao tới 2 mét (6 foot 7 inch) và nặng 90 kg (200 lb).[4]
- Kangaroo xám phương Đông (Macropus giganteus)[2] ít được biết đến hơn so với loài đỏ (khi ở ngoài phạm vi nước Úc), nhưng lại là loài thường xuyên bắt gặp nhất do địa bàn của chúng bao phủ vùng phía đông màu mỡ của đất nước. Phạm vi sinh sống của kangaroo xám phương Đông trải dài từ đỉnh Bán đảo Cape York ở phía bắc Queensland xuống tận Victoria, cũng như các khu vực phía đông nam Úc và Tasmania. Mật độ quần thể của chúng thường đạt đỉnh gần 100 con trên mỗi km2 tại các môi trường sống phù hợp trong rừng thưa. Số lượng cá thể thường hạn chế hơn ở những khu vực đất đai đã khai phá như đất nông nghiệp, nơi môi trường rừng và rừng thưa bị thu hẹp về quy mô hoặc số lượng.[3]
- Kangaroo xám phương Tây (Macropus fuliginosus)[2] có kích thước nhỏ hơn một chút, với con đực lớn nặng khoảng 54 kg (119 lb). Loài này được tìm thấy ở phần phía nam của Tây Úc, Nam Úc gần bờ biển và Lưu vực Murray–Darling. Mật độ quần thể cao nhất tập trung ở quận Riverina phía tây New South Wales và các khu vực phía tây của đồng bằng Nullarbor ở Tây Úc. Số lượng quần thể có thể đã sụt giảm, đặc biệt là tại các khu vực canh tác nông nghiệp. Loài này có khả năng chịu đựng cao với độc tố thực vật Natri fluoroacetat, một dấu hiệu cho thấy nguồn gốc có thể bắt nguồn từ vùng tây nam nước Úc.[3]
- Kangaroo linh dương (Osphranter antilopinus)[2] về cơ bản là loài đại diện ở vùng cực bắc tương đương với kangaroo xám phương Đông và phương Tây. Đôi khi chúng được gọi là wallaroo linh dương, nhưng về tập tính và môi trường sống, chúng gần gũi với kangaroo đỏ và hai loài kangaroo xám hơn. Giống như các loài kể trên, đây là sinh vật của các đồng cỏ và rừng thưa, có tính bầy đàn cao. Tên gọi của chúng bắt nguồn từ bộ lông có màu sắc và cấu trúc tương tự như các loài linh dương. Đặc điểm đặc trưng là phần mũi của con đực thường sưng phồng ở phía sau lỗ mũi; cấu tạo này giúp mở rộng đường dẫn khí, cho phép chúng giải phóng nhiều nhiệt hơn trong khí hậu nóng ẩm.[3]
Sinh học và tập tính
[sửa | sửa mã nguồn]Sự vận động
[sửa | sửa mã nguồn]Kangaroo là loài động vật có vú lớn duy nhất sử dụng việc nhảy bằng hai chân làm phương thức di chuyển chính.[5] Tốc độ nhảy thong thả của một con kangaroo đỏ là khoảng 20–25 km/h, nhưng chúng có thể đạt tốc độ lên tới 70 km/h trên những quãng đường ngắn, và có khả năng duy trì tốc độ 40 km/h trong quãng đường gần 2 km.[6]
Trong mỗi bước nhảy, các cơ bắp chuối mạnh mẽ sẽ nâng cơ thể khỏi mặt đất, trong khi cơ gan chân nhỏ hơn (bám gần ngón chân thứ tư lớn) được dùng để tạo lực đẩy. Có tới 70% thế năng được lưu trữ trong các gân có tính đàn hồi.[7] Kangaroo có thể đạt được độ cao đáng kể khi nhảy. Theo Kỷ lục Thế giới Guinness, cú nhảy cao nhất từng được ghi nhận của một con kangaroo đỏ là khoảng 10 ft (3 m), trong khi đối với kangaroo xám phương Đông là 8 ft (2,4 m).[8]
Chế độ ăn
[sửa | sửa mã nguồn]Kangaroo có dạ dày đơn ngăn, cấu tạo này hoàn toàn khác biệt so với dạ dày bốn túi của các loài gia súc như bò và cừu.[9][10] Thỉnh thoảng, chúng sẽ đưa phần thức ăn đã ăn ngược trở lại miệng để nhai lại cho kỹ, sau đó mới nuốt xuống để tiêu hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, so với các loài động vật nhai lại, hoạt động này ở kangaroo tốn nhiều sức lực hơn và không diễn ra thường xuyên bằng.[11]
Mặc dù tất cả các loài kangaroo đều là động vật ăn thực vật thuần túy, nhưng mỗi loài lại có chế độ ăn khác nhau. Kangaroo xám phương Đông chủ yếu là động vật gặm cỏ với thức ăn là nhiều loại cỏ đa dạng; trong khi đó, các loài khác như kangaroo đỏ lại tiêu thụ một lượng đáng kể các loại cây bụi. Những loài kangaroo có kích thước nhỏ hơn còn ăn cả các loại nấm mọc dưới lòng đất. Nhiều loài có tập tính hoạt động về đêm[12] hoặc hoạt động vào lúc bình minh và hoàng hôn.[13][14] Chúng thường dành những khoảng thời gian nóng bức trong ngày để nghỉ ngơi dưới bóng râm, và chỉ bắt đầu di chuyển, kiếm ăn khi tiết trời mát mẻ vào buổi tối, ban đêm hoặc sáng sớm.
Không giải phóng khí mê-tan trong quá trình tiêu hóa
[sửa | sửa mã nguồn]Dù có chế độ ăn thực vật tương tự các loài động vật nhai lại như bò – vốn thải ra lượng lớn khí mê-tan qua hơi thở và sự ợ hơi – nhưng kangaroo hầu như không giải phóng loại khí này. Thay vào đó, sản phẩm phụ hydro từ quá trình lên men được chuyển hóa thành axetat, sau đó được cơ thể sử dụng để cung cấp thêm năng lượng. Các nhà khoa học hiện đang rất quan tâm đến khả năng chuyển loại vi khuẩn chịu trách nhiệm cho quá trình này từ kangaroo sang gia súc. Điều này được kỳ vọng sẽ giảm thiểu hiệu ứng khí nhà kính từ lượng mê-tan do vật nuôi thải ra, một yếu tố quan trọng góp phần gây biến đổi khí hậu do con người gây ra.[15]
Tập tính xã hội và sinh sản
[sửa | sửa mã nguồn]
Các nhóm kangaroo được gọi trong tiếng Anh là mob, court hoặc troupe, thường bao gồm từ 10 cá thể trở lên. Việc sống theo bầy đàn giúp bảo vệ những thành viên yếu thế hơn trong nhóm.[16] Kích thước và tính ổn định của các bầy này thay đổi tùy theo khu vực địa lý,[17][18][19] trong đó khu vực miền đông nước Úc thường có các bầy lớn và ổn định hơn so với các vùng khô hạn xa xôi phía tây.[17] Những nhóm tập trung lớn có mức độ tương tác cao và cấu trúc xã hội phức tạp.[17]
Một hành vi phổ biến là chạm mũi và ngửi, hành động này thường xảy ra khi một cá thể mới gia nhập nhóm.[20] Thông qua việc ngửi, kangaroo thu thập được nhiều thông tin từ các dấu hiệu mùi hương. Hành vi này giúp củng cố sự gắn kết xã hội mà không dẫn đến các cuộc xung đột. Trong quá trình ngửi nhau, nếu một con kangaroo có kích thước nhỏ hơn, nó sẽ hạ thấp cơ thể gần mặt đất và run rẩy đầu, đây có thể là một hình thức biểu thị sự phục tùng.[20] Sự chào hỏi giữa con đực và con cái cũng rất phổ biến, trong đó những con đực lớn thường chủ động gặp gỡ con cái nhiều nhất. Hầu hết các hành vi không mang tính đối kháng khác diễn ra giữa mẹ và con. Mẹ và kangaroo con tăng cường mối liên kết thông qua việc chải chuốt (liếm lông). Kangaroo mẹ sẽ chải lông cho con khi nó đang bú hoặc sau khi đã bú xong.[20] Một con kangaroo con (joey) sẽ dùng mũi rúc vào túi của mẹ nếu muốn vào bên trong.
Hoạt động sinh dục của kangaroo diễn ra theo hình thức cặp đôi tạm thời.[21] Những con cái đang trong thời kỳ động dục sẽ đi lang thang trên diện rộng và thu hút sự chú ý của các con đực bằng các tín hiệu rõ rệt.[21] Con đực sẽ theo sát và quan sát mọi cử động của con cái. Nó ngửi nước tiểu của con cái để kiểm tra xem liệu con cái đã sẵn sàng giao phối hay chưa qua phản ứng flehmen. Sau đó, con đực tiến lại gần một cách chậm rãi để tránh làm con cái hoảng sợ.[17] Nếu con cái không bỏ chạy, con đực sẽ tiếp tục liếm, dùng chân vỗ nhẹ và gãi lên người con cái trước khi thực hiện hành vi giao phối.[17] Khi quá trình giao phối kết thúc, con đực sẽ chuyển sang tìm kiếm con cái khác. Việc kết đôi này có thể kéo dài vài ngày và quá trình giao phối cũng diễn ra khá lâu. Do đó, một cặp đôi đang kết đôi rất dễ thu hút sự chú ý của những con đực đối thủ khác.[21] Trong khi các con đực lớn bận rộn thiết lập liên kết với những con cái sắp đến kỳ động dục, các con đực nhỏ hơn sẽ tìm đến những con cái chưa tới kỳ.[17] Những con đực thống trị có thể tránh được việc phải kiểm tra từng con cái một bằng cách tìm kiếm những cặp đôi đã được thiết lập bởi con đực lớn nhất mà chúng có khả năng đánh bại.[17]
Hành vi đánh nhau đã được ghi nhận ở tất cả các loài kangaroo. Các cuộc chiến giữa chúng có thể diễn ra chóng vánh hoặc kéo dài và mang tính nghi thức.[20] Trong những tình huống cạnh tranh cao, chẳng hạn như tranh giành quyền tiếp cận con cái đang động dục hoặc tại các nguồn nước khan hiếm, cuộc chiến thường diễn ra rất nhanh.[20] Cả hai giới đều sẽ chiến đấu để giành chỗ uống nước, nhưng những cuộc chiến kéo dài, mang tính nghi thức hay còn gọi là "đấm bốc" (boxing) chủ yếu diễn ra giữa các con đực. Những con đực nhỏ thường đánh nhau thường xuyên hơn gần những con cái đang động dục, trong khi những con đực lớn đã có cặp đôi dường như ít tham gia vào các cuộc ẩu đả này hơn. Những cuộc chiến mang tính nghi thức có thể nảy sinh đột ngột khi các con đực đang cùng nhau gặm cỏ. Tuy nhiên, hầu hết các trận đấu đều bắt đầu bằng việc hai con đực gãi và chải lông cho nhau.[20] Một hoặc cả hai sẽ đứng thẳng người ở tư thế cao nhất, sau đó một con sẽ đưa ra lời thách đấu bằng cách dùng chân trước túm lấy cổ đối phương. Đôi khi, lời thách đấu bị từ chối; những con đực lớn thường phớt lờ lời thách thức từ những đối thủ nhỏ hơn. Trong trận chiến, các đối thủ đứng thẳng, dùng chân vỗ vào đầu, vai và ngực của nhau. Chúng cũng sẽ khóa tay nhau, vật lộn, đẩy đối phương và giữ thăng bằng trên đuôi để tung ra những cú đá bằng hai chân sau vào bụng đối thủ.[20]
Những cuộc chiến ngắn cũng diễn ra tương tự, ngoại trừ việc không có hành động khóa tay. Con thua cuộc dường như sử dụng cú đá thường xuyên hơn, có lẽ để đỡ những đòn tấn công từ kẻ thắng cuộc. Kết quả thắng bại được định đoạt khi một con bỏ cuộc và rút lui. Những con thắng cuộc có khả năng đẩy lùi đối thủ về phía sau hoặc quật ngã xuống đất. Chúng cũng có xu hướng túm lấy và đẩy đối phương ra xa khi kết thúc trận đấu.[20] Những con khơi mào trận chiến thường là những con giành chiến thắng. Các cuộc chiến này đóng vai trò thiết lập hệ thống thứ bậc thống trị giữa các con đực, vì những con thắng trận thường sẽ chiếm chỗ nghỉ ngơi của kẻ thua cuộc vào cuối ngày.[20] Những con đực thống trị cũng có thể nhổ cỏ để đe dọa các con đực cấp dưới.[17]
Kẻ thù tự nhiên
[sửa | sửa mã nguồn]Kangaroo có một vài loài kẻ thù trong tự nhiên. Loài sói túi (thylacine), vốn được các nhà cổ sinh vật học coi là kẻ thù tự nhiên chính của kangaroo, hiện đã tuyệt chủng. Các loài săn mồi đã tuyệt chủng khác bao gồm Sư tử có túi, kỳ đà khổng lồ Megalania và trăn khổng lồ Wonambi. Tuy nhiên, kể từ khi con người đặt chân đến Úc ít nhất 50.000 năm trước và loài chó dingo xuất hiện cách đây khoảng 5.000 năm, kangaroo đã phải học cách thích nghi để sinh tồn.
Bên cạnh chó dingo, các loài du nhập như cáo, mèo hoang, cùng cả chó nhà và chó hoang cũng đang đe dọa các quần thể kangaroo. Kangaroo và wallaby là những tay bơi lội cừ khôi; chúng thường chọn cách tháo chạy xuống các vực nước nếu có cơ hội. Nếu bị truy đuổi xuống nước, một con kangaroo lớn có thể dùng hai chân trước nhấn chìm kẻ thù xuống dưới mặt nước cho đến khi đối phương chết ngạt.[22] Một chiến thuật phòng thủ khác được các nhân chứng ghi lại là kangaroo sẽ dùng chân trước kẹp chặt con chó đang tấn công, sau đó dùng đôi chân sau cực khỏe tung cú đá để xé toạc bụng kẻ thù.
Sinh sản và vòng đời
[sửa | sửa mã nguồn]
Quá trình sinh sản của kangaroo có nhiều nét tương đồng với các loài thú túi opossum. Trứng (vẫn nằm trong màng vỏ mỏng chỉ vài micromet và chứa một lượng noãn hoàng rất nhỏ) di chuyển từ buồng trứng vào tử cung. Tại đây, trứng được thụ tinh và nhanh chóng phát triển thành một con non sơ sinh (neonate). Ngay cả với loài kangaroo lớn nhất là kangaroo đỏ, con non cũng ra đời chỉ sau 33 ngày thai nghén. Thông thường, mỗi lứa chúng chỉ sinh một con duy nhất. Con non mới đẻ bị mù, không có lông và chỉ dài vài centimet; đôi chân sau lúc này mới chỉ là những mẩu thịt nhỏ, vì vậy nó phải dùng đôi chân trước phát triển hơn để tự leo qua lớp lông dày trên bụng mẹ vào trong túi. Quá trình này mất khoảng từ ba đến năm phút.
Khi đã vào được trong túi, con non sẽ bám chặt vào một trong bốn núm vú và bắt đầu bú. Gần như ngay lập tức, chu kỳ sinh dục của mẹ lại bắt đầu. Một quả trứng khác sẽ di chuyển xuống tử cung và kangaroo mẹ lại sẵn sàng giao phối. Nếu việc thụ tinh diễn ra thành công, sự phát triển của phôi thứ hai này sẽ tạm thời bị đình chỉ. Hiện tượng này được gọi là đình phôi (embryonic diapause), thường xảy ra trong thời kỳ hạn hán hoặc ở những vùng khan hiếm thức ăn. Trong khi đó, con non trong túi lớn lên rất nhanh. Sau khoảng 190 ngày, kangaroo con đã đủ lớn và phát triển để bắt đầu thò đầu ra ngoài trong vài tuần trước khi cảm thấy đủ an toàn để rời túi hoàn toàn. Sau đó, nó sẽ dành thời gian ở thế giới bên ngoài nhiều hơn và cuối cùng, sau khoảng 235 ngày, nó sẽ rời túi mẹ lần cuối cùng.[23]
Tuổi thọ của kangaroo trung bình khoảng 6 năm trong tự nhiên[24] và có thể vượt quá 20 năm trong môi trường nuôi nhốt, tùy thuộc vào từng loài.[25] Tuy nhiên, phần lớn các cá thể trong tự nhiên thường không sống sót được đến tuổi trưởng thành.[26][27]
Đặc điểm thích nghi
[sửa | sửa mã nguồn]

Kangaroo đã phát triển một loạt các đặc điểm thích nghi để sinh tồn trong một vùng đất khô hạn, cằn cỗi với khí hậu biến đổi thất thường. Giống như tất cả các loài thú có túi khác, con non sinh ra khi mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển—sau thời gian thai nghén chỉ từ 31–36 ngày. Ở giai đoạn này, chỉ có các chi trước là phát triển đôi chút để con non có thể tự leo vào túi và bám vào núm vú. Khi mới sinh, kangaroo con (joey) chỉ nhỏ bằng một hạt đậu ngự. Joey thường ở trong túi khoảng 9 tháng (từ 180–320 ngày đối với loài Kangaroo xám phương Tây) trước khi bắt đầu ra ngoài trong những khoảng thời gian ngắn. Nó thường được mẹ nuôi dưỡng cho đến khi đạt 18 tháng tuổi.
Kangaroo cái thường ở trong tình trạng mang thai liên tục, ngoại trừ ngày sinh con; tuy nhiên, chúng có khả năng tạm dừng sự phát triển của phôi thai cho đến khi con non (joey) trước đó đủ lớn để rời túi. Hiện tượng này được gọi là đình phôi, thường xảy ra vào thời kỳ hạn hán hoặc ở những vùng khan hiếm thức ăn. Thành phần sữa do mẹ sản xuất cũng thay đổi linh hoạt theo nhu cầu của con non. Thêm vào đó, kangaroo mẹ có khả năng sản xuất đồng thời hai loại sữa khác nhau: một loại cho con non mới sinh và một loại khác cho con lớn hơn vẫn còn đang ở trong túi.
Một điểm đặc biệt là trong thời kỳ khô hạn, con đực sẽ ngừng sản sinh tinh trùng, và con cái chỉ thụ thai nếu có đủ mưa để cây cỏ xanh tốt trở lại.[28] Kangaroo đực có nhiều tuyến mồ hôi trên bìu và một cơ bìu mạnh mẽ có thể kéo tinh hoàn về phía thành cơ thể để điều chỉnh nhiệt độ. Dương vật được thu lại trong bao quy đầu và lộn ra ngoài qua lỗ huyệt.[29]
Kangaroo và wallaby có đôi chân sau với hệ thống gân to khỏe và cực kỳ dẻo dai. Những sợi gân này hoạt động hệt như những chiếc lò xo: chúng tự động tích trữ năng lượng khi chân chạm đất và bung tỏa lực bật mạnh mẽ khi nhảy lên. Nhờ cơ chế này, phần lớn lực đẩy của mỗi bước nhảy đến từ sức bật tự nhiên của gân thay vì phải tiêu tốn quá nhiều sức lực từ cơ bắp.
Mối quan hệ với con người
[sửa | sửa mã nguồn]
Kangaroo luôn đóng vai trò là một loài động vật đặc biệt quan trọng đối với Người Úc bản địa, không chỉ để lấy thịt, da, xương mà cả gân. Da kangaroo đôi khi cũng được sử dụng cho các mục đích giải trí; cụ thể là có những ghi chép về việc một số bộ lạc (như người Kurnai) đã nhồi các túi bìu của kangaroo để làm bóng cho trò chơi bóng đá truyền thống Marngrook.[30] Bên cạnh đó, kangaroo còn xuất hiện trong các nghi lễ và truyền thuyết Thời mộng mơ quan trọng. Tại Lãnh thổ Bắc Úc, Aherrenge hiện vẫn là một địa điểm tâm linh gắn liền với các câu chuyện về kangaroo.[31]
Khác với nhiều loài chân to kích thước nhỏ, kangaroo lại phát triển rất tốt kể từ khi người châu Âu đến định cư. Những người định cư đã phát quang rừng để tạo ra các vùng đồng cỏ rộng lớn phục vụ chăn thả cừu và gia súc, xây dựng thêm các điểm cấp nước ở vùng khô hạn, đồng thời cắt giảm đáng kể số lượng chó dingo. Sự bùng nổ số lượng này dẫn đến quan điểm cho rằng kangaroo là một loài vật gây hại, cần phải được tiêu hủy định kỳ hoặc áp dụng các hình thức quản lý khác. Hiện đang có những lo ngại rằng các phương pháp quản lý hiện tại có thể gây ra những hệ lụy tiêu cực đối với phúc lợi của kangaroo, tính bền vững của cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học, khả năng phục hồi sản xuất nông nghiệp cũng như sức khỏe và văn hóa của người bản địa.[32]

Kangaroo vốn có bản tính nhút nhát, thích ẩn dật và thường không gây nguy hiểm cho con người trong điều kiện bình thường. Năm 2003, Lulu – một con kangaroo xám phương Đông được con người nuôi dưỡng từ nhỏ – đã cứu sống một người nông dân bằng cách báo động cho gia đình khi thấy ông bị thương do cành cây đổ đè trúng. Vào ngày 19 tháng 5 năm 2004, Lulu đã được trao tặng Giải thưởng Động vật Dũng cảm Quốc gia của RSPCA Australia.[33][34][35]
Các ghi chép về việc kangaroo tấn công con người mà không bị kích động là rất hiếm; tuy nhiên, một vài vụ tấn công không rõ nguyên nhân vào năm 2004 đã làm dấy lên nỗi lo ngại về một loại bệnh tương tự như bệnh dại có thể đang ảnh hưởng đến loài thú có túi này. Tại Úc, chỉ có hai trường hợp tử vong do kangaroo tấn công được ghi nhận một cách xác đáng. Vụ việc đầu tiên xảy ra tại New South Wales vào năm 1936, khi một người thợ săn bị giết chết trong lúc cố gắng giải cứu hai con chó của mình khỏi một cuộc ẩu đả kịch liệt với kangaroo.[36] Vụ thứ hai xảy ra vào tháng 9 năm 2022 tại Redmond (bang Tây Úc), nạn nhân là một cụ ông 77 tuổi bị tấn công bởi một con kangaroo nuôi làm cảnh.[37]
Những nguyên nhân khác được cho là dẫn đến hành vi bất thường và nguy hiểm của kangaroo bao gồm tình trạng cực kỳ đói hoặc khát. Vào tháng 7 năm 2011, một con kangaroo đỏ đực đã tấn công một cụ bà 94 tuổi ngay tại sân sau nhà bà, đồng thời tấn công cả con trai bà và hai sĩ quan cảnh sát đến ứng cứu. Con kangaroo này đã bị khống chế bằng bình xịt hơi cay và sau đó bị hạ sát để đảm bảo an toàn sau vụ tấn công.[38][39]
Người ta nhận thấy ngay cả những cá thể kangaroo hoang dã cũng biết dùng ánh mắt để "giao tiếp" với con người. Các nhà nghiên cứu quan sát thấy chúng thường nhìn qua lại giữa người đối diện và hộp thức ăn, một hành vi tương tự như cách tương tác quen thuộc của loài chó nhà.[40][41]
Thịt
[sửa | sửa mã nguồn]
Kangaroo đã là nguồn thực phẩm quan trọng của người Úc bản địa trong suốt hàng chục nghìn năm qua.[cần dẫn nguồn] Thịt kangaroo có hàm lượng protein cao và rất ít chất béo (chỉ khoảng 2%). So với các loại thực phẩm khác, thịt kangaroo sở hữu nồng độ axit linoleic liên hợp (CLA) rất cao, đồng thời là nguồn cung cấp vitamin và khoáng chất dồi dào.[42] Các chế độ ăn ít béo giàu CLA hiện đang được nghiên cứu về tiềm năng giúp giảm béo phì và ngăn ngừa xơ vữa động mạch.[43][44]
Thịt kangaroo được khai thác từ động vật hoang dã. Nhiều người coi đây là phương pháp tối ưu cho các chương trình kiểm soát số lượng quần thể,[45] thay vì chỉ tiêu hủy chúng như vật gây hại rồi bỏ xác lại trên đồng cỏ. Việc săn bắn kangaroo được thực hiện bởi các thợ săn có giấy phép theo đúng bộ quy tắc thực hành và được bảo hộ bởi luật pháp của cả tiểu bang lẫn liên bang.[46][47]
Hiện nay, thịt kangaroo đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, loại thịt này không được coi là kosher (phù hợp với luật ăn kiêng của người Do Thái) đối với cộng đồng người Do Thái hay tín đồ Cơ đốc Phục Lâm.[48] Ngược lại, thịt kangaroo lại được coi là halal (phù hợp) theo tiêu chuẩn ăn uống của người Hồi giáo vì chúng là động vật ăn cỏ.[49]
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- McCullough, Dale R.; McCullough, Yvette (2000). Kangaroos in Outback Australia. Columbia University Press. ISBN 978-0-231-11916-0.
- Flannery, Timothy Fridtjof; Martin, Roger (1996). Tree Kangaroos: A Curious Natural History. Melbourne: Reed Books. ISBN 978-0-7301-0492-6.
- Underhill D. (1993). Australia's Dangerous Creatures. Sydney NSW: Reader's Digest. ISBN 978-0-86438-018-0.
- Archer, Michael (1985). The Kangaroo. Sydney NSW: Kevin Weldon Press. ISBN 978-0-949708-22-9.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Groves, Colin (ngày 16 tháng 11 năm 2005). Wilson D. E. và Reeder D. M. (chủ biên) (biên tập). Mammal Species of the World . Nhà xuất bản Đại học Johns Hopkins. tr. 64 & 66. ISBN 0-801-88221-4.
- ^ a b c d "Names List for MACROPODIDAE, Australian Faunal Directory". Australian Biological Resources Study, Australian Department of the Environment and Energy. ngày 13 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2020.
- ^ a b c d Dawson, Terence (2012). Kangaroos (ấn bản thứ 2). Collingwood, VIC: CSIRO Publishing.
- ^ "Red Kangaroo". NAT GEO Wild. National Geographic Society. ngày 11 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011.
- ^ Briggs, Helen (ngày 6 tháng 2 năm 2019). "When did the kangaroo hop? Scientists have the answer". BBC News. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2023. Living kangaroos are the only large mammal to use hopping on two legs as their main form of locomotion.
- ^ Penny, Malcolm (2002). The Secret World of Kangaroos. Austin, Texas: Raintree Steck-Vaughn. ISBN 978-0-7398-4986-6. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2020.
- ^ Jackson, S; Vernes, K (2010). Kangaroo: Portrait of an Extraordinary Marsupial. Allen and Unwin. tr. 139–140. ISBN 9781741759037.
- ^ "Highest jump by a kangaroo". Guinness World Records. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2025.
- ^ Hume, I.D. (1984). "Principal Features of Digestion in Kangaroos" (PDF). Proceedings of the Nutritional Society of Australia. 9: 76–81. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2017.
- ^ Romer, Alfred Sherwood; Parsons, Thomas S. (1977). The Vertebrate Body. Philadelphia, Pennsylvania: Holt-Saunders International. tr. 347. ISBN 978-0-03-910284-5.
- ^ Vendl, C.; và đồng nghiệp (2017). "Merycism in western grey (Macropus fuliginosus) and red kangaroos (Macropus rufus)". Mammalian Biology. 86: 21–26. Bibcode:2017MamBi..86...21V. doi:10.1016/j.mambio.2017.03.005.
- ^ McGuinness, Keith (ngày 25 tháng 11 năm 1996). "Re: Kangaroos". MadSci Network. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011.
- ^ "From Boomers to Blue fliers: Fun facts About Kangaroos!!". Columbus Zoo and Aquarium. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2004.
- ^ "About Australia: Kangaroos". Department of Foreign Affairs and Trade. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012.
- ^ Vendl, C.; Clauss, M.; Stewart, M.; Leggett, K.; Hummel, J.; Kreuzer, M.; Munn, A. (ngày 4 tháng 11 năm 2015). "Decreasing methane yield with increasing food intake keeps daily methane emissions constant in two foregut fermenting marsupials, the western grey kangaroo and red kangaroo". Journal of Experimental Biology. 218 (21): 3425–3434. Bibcode:2015JExpB.218.3425V. doi:10.1242/jeb.128165. PMID 26538176.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Kidcyber
- ^ a b c d e f g h McCullough 2000
- ^ Green-Barber, JM; Old, JM (2018). "Town roo, country roo: a comparison of behaviour in eastern grey kangaroos (Macropus giganteus) in developed and natural landscapes". Australian Zoologist. 39 (3): 520–533. doi:10.7882/AZ.2018.019. S2CID 134213663.
- ^ Green-Barber, JM; Old, JM (2018). "The genetic relatedness of a peri-urban population of eastern grey kangaroos". BMC Research Notes. 11 (1): 856. doi:10.1186/s13104-018-3969-2. PMC 6280538. PMID 30514393.
- ^ a b c d e f g h i Dawson, Terence J. (1995). Kangaroos: Biology of the Largest Marsupials. Cornell University Press/Comstock Publishing. ISBN 978-0-8014-8262-5.
- ^ a b c Gansloßer, Udo (1995). "Courtship behaviour in Macropodoidea (kangaroos, wallabies and rat kangaroos) – phylogenetic and ecological influences on ritualization". Mammal Review. 25 (3): 131–157. Bibcode:1995MamRv..25..131G. doi:10.1111/j.1365-2907.1995.tb00453.x.
- ^ "Kangaroos". Natural History Notebooks. Canadian Museum of Nature. ngày 3 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011.
- ^ Evolution of Biodiversity Lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine, BCB705 Biodiversity, University of the Western Cape
- ^ Miller-Schroeder, Patricia (2002). Kangaroos. The Untamed World. Raintree Steck-Vaughn. ISBN 978-0-7398-4972-9. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2020.
- ^ "Kangaroo". Parks Victoria. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011.
- ^ Nowak, Ronald M. (1999). Walker's mammals of the world. Quyển 2. Johns Hopkins University Press. ISBN 978-0-8018-5789-8. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2020.
- ^ Joo, Michael S.; Wund, Matthew. "Macropus giganteus". Animal Diversity Web, University of Michigan Museum of Zoology. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011.
- ^ Burnie, David; Don E. Wilson (2001). Animal. New York: Dorling Kindersley. tr. 99–101. ISBN 978-0-7894-7764-4.
- ^ Dawson, Terence J. (1995). Kangaroos: Biology of the Largest Marsupials (bằng tiếng Anh). Cornell University Press. ISBN 978-0-8014-8262-5.
- ^ AW Howitt, "Notes on Australian Message Sticks and Messengers", Journal of the Anthropological Institute, London, 1889, p 2, note 4, Reprinted by Ngarak Press, 1998, ISBN 1-875254-25-0
- ^ "Aherrenge Road". Northern Territory Land Information System. Northern Territory Government. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011.
- ^ Read, John L; Wilson, George R; Coulson, Graeme; Cooney, Rosie; Paton, David C; Moseby, Katherine E; Snape, Melissa A; Edwards, Melanie J (tháng 11 năm 2021). "Improving Kangaroo Management: A Joint Statement". Ecological Management & Restoration. 22 (S1): 186–192. Bibcode:2021EcoMR..22S.186R. doi:10.1111/emr.12467. hdl:1885/285388. S2CID 243491663. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2022.
- ^ Leung, Chee Chee (ngày 23 tháng 9 năm 2003). "Lulu the kangaroo hops to the rescue". The Age. Australia. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Life-saving kangaroo wins award". BBC News. ngày 29 tháng 4 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Skippy to the rescue". BBC News. ngày 22 tháng 9 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Kangaroo's attack causes man's death". Sydney Morning Herald. ngày 19 tháng 8 năm 1936. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Kangaroo kills man, stops paramedics from saving his life". WAtoday. ngày 12 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Rogue kangaroo attacks 94-year-old Phyllis Johnson". BBC News. ngày 26 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Pepper-sprayed kangaroo put down". ABC News. ngày 27 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011.
- ^ Duran, Paulina (ngày 16 tháng 12 năm 2020). "Kangaroos can learn to communicate with humans, researchers say". Reuters (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2020.
- ^ Duran, Paulina (ngày 16 tháng 12 năm 2020). "Kangaroos can learn to communicate with humans, researchers say". Reuters (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2020.
- ^ "Nutrition". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013.
- ^ Dow, Steve (ngày 26 tháng 9 năm 2007). "An industry that's under the gun". The Sydney Morning Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2008.
- ^ Sinclair AJ, O'Dea K, Dunstan G, Ireland PD, Niall M (tháng 7 năm 1987). "Effects on plasma lipids and fatty acid composition of very low fat diets enriched with fish or kangaroo meat". Lipids. 22 (7): 523–9. doi:10.1007/BF02540369. PMID 3626779. S2CID 4001525.
- ^ Shelby Lin Erdman, Cox Media Group National Content Desk. "Students served kangaroo meat in chili at school without their knowledge". daytondailynews. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Australians Hunt Kangaroos Commercially. Does It Make Sense?". National Geographic News. ngày 21 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2019.
- ^ Gray, David (ngày 3 tháng 4 năm 2013). "A necessary evil – the kangaroo cull". Reuters Blogs. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Is Kangaroo Kosher?". Chabad.org. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2021.
- ^ "Kangaroo meat - Islamweb - Fatwas". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2021.
Tự vệ
[sửa | sửa mã nguồn]Khi gặp nguy hiểm, kangaroo thường dựa cơ thể lên trên chiếc đuôi vững chắc của nó, dùng hai chân sau với móng nhọn sắc để đá tung kẻ thù lên hoặc ôm chặt lấy kẻ thù bằng hai chân trước, ôm đến nghẹt thở hoặc nhấn xuống nước rồi dìm cho đến chết.
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn | |
|---|---|
| Quốc tế |
|
| Quốc gia |
|
| Khác |
|
Từ khóa » Một Con Kăng Gu Ru Có Thể Di Chuyển
-
Một Con Kăng-gu-ru Di Chuyển 4200m Hết 5 Phút. Một Con Rái Cá Bơi ...
-
1 Con Kang - Gu Ru Có Thể Di Chuyển Với Vận Tốc 840 M/phút . Hỏi Với ...
-
Một Con Kăng-gu-ru Di Chuyển 4200m Hết 5 Phút ...
-
1 Con Kang - Gu Ru Có Thể Di Chuyển Với Vận Tốc 840 M/phút ... - Hoc24
-
1 Con Kang - Gu Ru Có Thể Di Chuyển Với Vận Tốc 840 M/phút ... - Hoc24
-
Kăng-gu-ru Có Thể Di Chuyển (vừa Chạy Vừa Nhảy) Với Vận Tốc 14m ...
-
Bài 4 Trang 142 Sgk Toán 5 Luyện Tập, Kăng-gu-ru Có Thể Di Chuyển ...
-
Kăng-gu-ru Có Thể Di Chuyển (vừa Chạy Vừa Nhảy ...
-
Kăng-gu-ru Có Thể Di Chuyển (vừa Chạy Vừa Nhảy) Với Vận Tốc 50 4 ...
-
Kăng – Gu – Ru Có Thể Di Chuyển (vừa Chạy Vừa Nhảy) Với Vận Tốc 14m
-
Kăng-gu-ru Có Thể Di Chuyển (vừa Chạy Vừa Nhảy ... - Luyện Thi 123
-
Một Con Kăng-gu-ru Di Chuyển 4200m Hết 5 Phút.Một Con ... - Bổ-tú
-
Một Con Kăng-gu-ru Di Chuyển 4200m