Katyusha (vũ Khí) – Wikipedia Tiếng Việt

Đối với các định nghĩa khác, xem Cachiusa (định hướng).
Cachiusa (Katyusha)
Dàn pháo phản lực Cachiusa BM-13, đặt trên xe tải ZiS-6, Bảo tàng chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, Kiev, Ukraina (nhìn gần).
LoạiPháo phản lực
Nơi chế tạo Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1939–hiện tại
Sử dụng bởi Liên Xô Liên bang Nga Trung Quốc Việt Nam... và một số nước khác
TrậnThế chiến thứ 2
Lược sử chế tạo
Các biến thểBM-13, BM-8, BM-31, BM-14, BM-21, BM-24, BM-25, BM-27, BM-30

Pháo phản lực Katyusha (tiếng Nga: Катю́ша, IPA: [kɐˈtʲuʂə] ), hay còn được gọi ở Việt Nam là là pháo Cachiusa, là một loại pháo phản lực (rocket - hỏa tiễn) được thiết kế bởi Georgy Langemak[1] chế tạo bởi Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai. So sánh với các loại pháo truyền thống, Katyusha có khả năng oanh tạc một diện tích rộng trong thời gian rất ngắn với sức công phá cao, đổi lại là độ chính xác thấp và thời gian chờ nạp đạn lâu. Ngoài ra, dàn phóng hỏa tiễn hàng loạt này có ưu điểm là rẻ tiền, dễ sản xuất, gọn nhẹ và cơ động. Do vậy, nó chuyên được dùng để oanh tạc các mục tiêu trên diện rộng như đội hình hành quân của bộ binh, các trận địa pháo binh, dãy nhà cửa, công sự của đối phương. Đây là loại pháo phản lực đầu tiên được sản xuất hàng loạt bởi Liên Xô[2] và thường đựoc gắn trên xe tải. Sự cơ động này giúp Katyusha như mọi pháo tự hành khác, có thể pháo kích mục tiêu bởi hỏa lực mạnh mẽ của nó và cơ động đến nơi khác để tránh phản pháo.

Trong Thế chiến thứ 2, Katyusha được tiếp tục cải tiến, bao gồm các loại dàn hạng nhẹ BM-8. Sau chiến tranh, tiếp tục xuất hiện loại dàn phóng BM-14, BM-21 được xuất khẩu sang nhiều nước, ngoài ra còn có các dàn phóng hạng nặng tầm xa như BM-27, BM-30.

Biệt danh

[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, vì vấn đề bí mật nên ngay cả bộ đội vận hành cũng không biết ký hiệu quân sự thật của dàn hỏa tiễn Katyusha. Họ gọi bằng các mật danh như pháo Kostikov, theo tên A. Kostikov, viện trưởng RNII, Viện Nghiên cứu Khoa học về Tên lửa, và sau cùng được xếp vào nhóm Súng cối Cận vệ.[3]Ký hiệu BM-13 chỉ được phép dùng trong tài liệu tuyệt mật từ năm 1942 và vẫn là bí mật cho đến sau chiến tranh.[4]

Do trên phương tiện có sơn chữ K (ý hiệu của Nhà máy Komintern Voronezh),[4][5]binh sĩ Hồng quân đã đặt cho loại vũ khí này biệt danh “Katyusha”, mượn từ bài hát thời chiến rất nổi tiếng của Mikhail Isakovskyy nói về cô gái nhớ người yêu ra trận.[6] Katyusha là dạng trìu mến của tên Katya; Katya là dạng rút gọn của Yekaterina (tương đương Katherine).[7]

Binh lính Đức đặt cho loại vũ khí này biệt danh “dàn nhạc của Stalin” (Stalinorgel), lấy theo tên lãnh tụ Liên Xô Joseph Stalin. Họ so sánh cụm ống phóng trông như đàn organ ống, còn tiếng động cơ tên lửa phát ra âm thanh rít gào rất đặc trưng, khiến lính Đức khiếp sợ—tạo thêm hiệu ứng tâm lý trong tác chiến.[8] Ở nhiều nước, loại vũ khí này cũng được gọi bằng tên tương tự: Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Stalinorgel), Phần Lan (tiếng Phần Lan: Stalinin urut), Pháp (tiếng Pháp: orgue de Staline), Na Uy (tiếng Na Uy: Stalinorgel), Hà Lan và Bỉ (tiếng Hà Lan: Stalinorgel), Hungary (tiếng Hungary: Sztálinorgona), Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Órganos de Stalin) cũng như Thụy Điển (tiếng Thụy Điển: Stalinorgel).[6]

Bệ phóng hạng nặng BM-31 còn được gọi thân mật là Andryusha (Андрюша, dạng trìu mến của tên “Andrew”)[9]

Thế chiến 2

[sửa | sửa mã nguồn]
Một khẩu đội dàn phóng Katyusha bắn vào quân Đức trong trận Stalingrad, ngày 6 tháng 10 năm 1942.
Loạt bắn Katyusha trong Chiến dịch Wisła – Oder, tháng 1 năm 1945.

Dàn phóng hỏa tiễn Katyusha, được chế tạo tại Voronezh, trong Chiến tranh thế giới thứ hai được lắp trên rất nhiều loại phương tiện, gồm xe tải, xe kéo pháo, xe tăng, tàu hỏa bọc thép, cũng như trên các tàu mặt nước và tàu sông để làm vũ khí yểm trợ xung kích. Các kỹ sư Liên Xô cũng từng lắp từng quả đạn Katyusha đơn lên các đoạn đường ray để sử dụng trong tác chiến đô thị.[cần dẫn nguồn]

Kết cấu của hệ thống tương đối đơn giản: là các giá phóng gồm nhiều ray song song để đặt hỏa tiễn, kèm khung gấp để nâng ray lên góc bắn. Mỗi xe có từ 14 đến 48 ống/phóng. Hỏa tiễn M-13 của hệ thống BM-13 dài khoảng 80 cm (2 ft 7 in), có đường kính 13,2 cm (5,2 in) và nặng 42 kg (93 lb).[10]

Vũ khí này kém chính xác hơn pháo binh thông thường, nhưng lại cực kỳ hiệu quả khi bắn chế áp diện rộng. Một đại đội gồm bốn bệ phóng BM-13 có thể bắn loạt trong 7–10 giây, rải xuống khoảng 4,35 tấn thuốc nổ mạnh trên một khu vực mục tiêu rộng 400.000 mét vuông (4.300.000 foot vuông; 40 ha; 0,40 km2), sức công phá xấp xỉ 72 khẩu pháo dã chiến.[3] Với kíp chiến đấu thuần thục, các bệ phóng có thể cơ động sang vị trí mới ngay sau khi bắn, khiến đối phương khó thực hiện phản pháo. Các cụm Katyusha thường được tập trung với số lượng rất lớn để tạo hiệu ứng choáng lên lực lượng địch. Nhược điểm của loại vũ khí này là thời gian nạp đạn lâu, khác với pháo binh thông thường có thể duy trì tốc độ bắn liên tục (dù ở mức thấp).

Phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]
BM-13N Katyusha lắp trên xe tải Studebaker US6 2 ½ tấn 6×6 (viện trợ Lend-Lease), trưng bày tại Tổ hợp Bảo tàng UMMC, Verkhnyaya Pyshma.
BM-31-12 lắp trên ZIS-12 tại bảo tàng trên núi Sapun, Sevastopol.
Katyusha trên khung gầm ZIS-151
Nạp đạn cho BM-13
Một quả rocket M13 dùng cho dàn phóng Katyusha được trưng bày tại Bảo tàng Quân đội (Musée de l'Armée).

Việc phát triển các loại tên lửa nhiên liệu rắn được thực hiện bởi Nikolai Tikhomirov tại Phòng thí nghiệm Động lực học Khí (GDL) của Liên Xô; lần bắn thử tên lửa nhiên liệu rắn đầu tiên diễn ra vào tháng 3 năm 1928, bay được khoảng 1.300 mét.[11] Các tên lửa này ban đầu được dùng để hỗ trợ cất cánh cho máy bay, sau đó được phát triển thành các loại RS-82 và RS-132 (RS là viết tắt của Reaktivnyy Snaryad, “đạn phản lực”) [12] vào đầu những năm 1930 dưới sự dẫn dắt của Georgy Langemak,[13] bao gồm cả các rocket phóng từ máy bay và từ mặt đất. Tháng 6 năm 1938, cơ quan kế nhiệm GDL là Viện Nghiên cứu Khoa học Phản lực (RNII) bắt đầu chế tạo một số bệ phóng nguyên mẫu cho loại tên lửa M-132 cỡ 132 mm đã được cải tiến.[14] Việc bắn sang hai bên thân xe tải ZIS-5 tỏ ra không ổn định, nên V.N. Galkovskiy đề xuất gắn ray phóng dọc theo thân xe. Đến tháng 8 năm 1939, kết quả của hướng này là BM-13 (BM là viết tắt của боевая машинаboyevaya mashina, “xe chiến đấu” – dành cho tên lửa M-13).[2]

Các cuộc thử nghiệm quy mô lớn đầu tiên với dàn phóng hỏa tiễn diễn ra vào cuối năm 1938, khi 233 quả thuộc nhiều loại khác nhau được bắn thử. Một loạt bắn có thể bao trùm hoàn toàn mục tiêu ở cự ly khoảng 5,500 mét (0,003418 mi). Tuy vậy, binh chủng pháo binh lúc đó không mấy thiện cảm với Katyusha vì phải mất tới 50 phút mới nạp và bắn được 24 quả, trong khi một khẩu lựu pháo thông thường có thể bắn 95–150 phát trong cùng khoảng thời gian đó.[cần dẫn nguồn] Các thử nghiệm với nhiều loại hỏa tiễn khác nhau tiếp tục cho đến năm 1940, và mẫu BM-13-16 với 16 ray phóng đã được cho phép sản xuất. Chỉ có 40 bệ phóng được chế tạo trước khi Đức tấn công Liên Xô vào tháng 6 năm 1941.[6]

Sau khi loại vũ khí này chứng tỏ hiệu quả ngay trong tháng đầu của chiến tranh, người ta ra lệnh sản xuất hàng loạt và đồng thời phát triển thêm các biến thể khác. Katyusha có giá thành rẻ và có thể chế tạo tại các cơ sở công nghiệp nhẹ, không cần thiết bị gia công nòng pháo như pháo binh truyền thống.[3] Đến cuối năm 1942, đã có 3.237 bệ phóng Katyusha các loại được sản xuất, và đến hết chiến tranh con số này đạt khoảng 10.000 bệ.[15]

Các dàn Katyusha gắn trên xe tải chủ yếu được lắp trên xe ZIS-6 6×4, và cả các xe 2 cầu ZIS-5 và ZIS-5V. Năm 1941, một số ít bệ phóng BM-13 cũng được lắp trên xe kéo pháo STZ-5. Người Liên Xô còn thử gắn chúng lên khung gầm xe tăng hạng nặng KV với ký hiệu KV-1K, nhưng điều này bị coi là lãng phí giáp nặng. Từ năm 1942, Katyusha cũng được lắp trên các xe tải viện trợ theo chương trình Lend-Lease của Anh, Canada và Mỹ; những bản này đôi khi được gọi là BM-13S. Khả năng chạy địa hình của xe tải Studebaker US6 2,5 tấn 6×6 tốt tới mức năm 1943 nó trở thành khung gầm tiêu chuẩn của GAU, với định danh BM-13N (“normalizovanniy” – chuẩn hóa), và đến cuối chiến tranh đã có hơn 1.800 chiếc loại này được chế tạo.[16] Sau chiến tranh, BM-13 chuyển sang lắp trên xe tải Liên Xô sản xuất trong nước ZIS-151.

Loại BM-8 cỡ 82 mm được phê chuẩn tháng 8 năm 1941 và được triển khai dưới dạng BM-8-36 trên thùng xe tải và BM-8-24 trên khung gầm xe tăng hạng nhẹ T-40 và T-60. Sau đó, chúng cũng được lắp trên xe Jeep GAZ-67 với tên BM-8-8, và trên xe tải Studebaker lớn hơn với tên BM-8-48.[3] Năm 1942, nhóm nhà khoa học Leonid Shvarts, Moisei Komissarchik và kỹ sư Yakov Shor đã nhận Giải thưởng Stalin cho việc phát triển BM-8-48.[17][18]

Dựa trên tên lửa M-13, loại tên lửa M-30 được phát triển năm 1942. Do đầu đạn phình to, nó phải bắn từ khung đặt dưới đất gọi là M-30 (khung đơn 4 quả; về sau khung đôi 8 quả), thay vì từ ray phóng trên xe tải. Đến năm 1944, nó trở thành cơ sở cho bệ phóng gắn xe tải BM-31-12.[3]

Một đại đội BM-13-16 gồm 4 xe bắn, 2 xe tiếp đạn và 2 xe bảo đảm kỹ thuật, mỗi xe bắn có kíp 6 người. Việc nạp lại đạn thực hiện trong khoảng 3–4 phút, nhưng quy trình chuẩn là chuyển sang vị trí khác cách đó khoảng 10 km vì trận địa rất dễ bị đối phương phát hiện. Ba đại đội được biên chế thành một tiểu đoàn (đơn vị cấp đại đội pháo phản lực), và ba tiểu đoàn hợp thành một trung đoàn pháo phản lực phóng loạt riêng.[cần dẫn nguồn]

Phiên bản

[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ thống rocket của Liên Xô trong Thế chiến II được đặt tên theo những quy tắc cố định:

  • Phương tiện mặt đất được ký hiệu BM-x-y, trong đó x là kiểu rocket, y là số ray/ống phóng.
  • Rơ-moóc kéo và xe trượt được ký hiệu M-x-y.
  • Trong hải quân thì thứ tự đảo lại thành y-M-x.

Ví dụ, BM-8-16 là xe có 16 ray phóng cho rocket M-8, còn BM-31-12 bắn rocket M-31 từ 12 ống phóng. Cũng dùng các tên rút gọn như BM-8, BM-13. Kiểu khung gầm mang bệ phóng không được thể hiện trong tên, nên BM-8-24 có thể là loại gắn trên xe tải ZIS-5, hoặc trên xe tăng hạng nhẹ T-40, hoặc trên xe kéo pháo STZ-3.

Khung gầm dùng để lắp bệ phóng gồm:

  • Xe tải do Liên Xô sản xuất: ZIS-5, ZIS-6, GAZ-AA, và sau chiến tranh là ZIS-151
  • Xe kéo pháo bánh xích STZ-5
  • Xe tăng T-40
  • Xe tải Studebaker US6 2½ tấn 6×6 viện trợ Lend-Lease
  • Toa tàu bọc thép
  • Tàu sông
  • Xe trượt kéo
  • Rơ-moóc kéo
  • Bản mang vác (biến thể cơ động, gọi là “Katyusha miền núi”).
Các phương tiện phóng[19][10][20]
Định danh Cỡ nòng (mm) Ống phóng/Ray phóng Khung gầm
BM-8 82 1 Giá lắp trên phương tiện dã chiến, rơ-moóc kéo hoặc xe trượt kéo
M-8-6 82 6 Rơ-moóc/xe trượt kéo
BM-8-8 82 8 Xe jeep Willys MB
M-8-12 82 12 Rơ-moóc/xe trượt kéo
16-M-8 82 16 Tàu sông bọc giáp Project 1125
BM-8-24 82 24 Xe tăng nhẹ T-40, T-60
24-M-8 82 24 Tàu sông bọc giáp Project 1125
BM-8-36 82 36 Xe tải ZIS-5, ZIS-6
BM-8-40 82 40 Rơ-moóc kéo hoặc xe tải GAZ-AA
BM-8-48 82 48 Xe tải ZIS-6, Studebaker US6 U3, hoặc toa tàu
BM-8-72 82 72 Toa tàu
BM-13 132 24 Xe tải ZIS-6, phương tiện dã chiến, rơ-moóc/xe trượt
6-M-13 132 6 Tàu sông bọc giáp Project 1125
BM-13-16 132 16 Xe tải International K7, International M-5-5-318, Fordson WOT8, Ford/Marmon-Herrington HH6-COE4, Chevrolet G-7117, Studebaker US6 U3, GMC CCKW-352M-13, hoặc toa tàu
M-20-6 132 6 Bệ phóng tĩnh
M-30-4 300 4 Bệ phóng tĩnh; từ 1944 có bản M-30-8 (2×4 ống)
M-31-4 300 4 Bệ phóng tĩnh; từ 1944 có bản M-31-8
BM-31-12 300 12 Xe tải Studebaker US6 U3
Đạn Rocket:[10]
Định danh Cỡ nòng (mm) Đầu đạnkg (lb) Tầm bắn tối đam (yd)
M-8 82 0,64 (1,4) 5.900 (6.500)
M-13 132 4,9 (11) 8.740 (9.560)
M-13DD 132 4,9 (11) 11,800 (12,905)
M-13UK 132 4,9 (11) 7.900 (8.600)
M-20 132 18,4 (41) 5.050 (5.520)
M-30 300 28,9 (64) 2.800 (3.100)
M-31 300 28,9 (64) 4.325 (4.730)
M-31UK 300 28,9 (64) 4.000 (4.400)

Tên lửa M-8 và M-13 cũng có thể lắp đầu đạn khói, dù loại này không phổ biến.

Pháo phản lực Đức 8 cm Raketen-Vielfachwerfer được phát triển dựa trên Katyusha.

Biến thể nước ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Phe Trục đã thu được một số dàn Katyusha trong chiến tranh. Đức từng cân nhắc sản xuất một bản sao trong nước, nhưng sau đó lại chế tạo loại 8 cm Raketen-Vielfachwerfer dựa trên thiết kế Katyusha.[21]

Romania bắt đầu phát triển pháo tự hành diệt tăng Mareșal vào cuối năm 1942. Một trong những mẫu thử đầu tiên được lắp bệ phóng rocket Katyusha và thử nghiệm vào mùa hè 1943, nhưng dự án này không được tiếp tục.[22]

Lịch sử chiến đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Các dàn pháo phản lực phóng loạt này ban đầu được giữ tuyệt mật trong Thế chiến II và được giao cho một đơn vị đặc biệt của NKVD vận hành.[3] Ngày 14 tháng 7 năm 1941, một đại đội pháo thử nghiệm gồm bảy bệ phóng dưới quyền đại úy Ivan Flyorov lần đầu được sử dụng chiến đấu tại Rudnya, Smolensk; loạt bắn đã phá hủy một cụm quân Đức có xe tăng, xe bọc thép và xe tải ở khu chợ, gây thương vong rất lớn và khiến quân Đức hoảng loạn rút khỏi thị trấn.[23][24][25] Đây là lần đầu tiên Katyusha được dùng trong chiến đấu.[26] Sau thành công này, Hồng quân tổ chức các đại đội súng cối cận vệ để chi viện cho các sư đoàn bộ binh; biên chế chuẩn của một đại đội là bốn bệ phóng. Các đơn vị này vẫn thuộc NKVD cho đến khi quân Đức dùng phổ biến dàn phóng Nebelwerfer.[15]

Ngày 8 tháng 8 năm 1941, Stalin ra lệnh thành lập tám trung đoàn súng cối cận vệ đặc biệt trực thuộc Dự bị Bộ Tư lệnh Tối cao (RVGK). Mỗi trung đoàn gồm ba tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn ba đại đội, tổng cộng 36 bệ BM-13 hoặc BM-8. Ngoài ra còn lập các tiểu đoàn độc lập với 12 bệ (3 đại đội × 4 bệ). Đến cuối năm 1941 đã có 8 trung đoàn, 35 tiểu đoàn độc lập và 2 đại đội độc lập, tổng cộng 554 bệ phóng.[27]

Tháng 6 năm 1942, các tiểu đoàn súng cối cận vệ hạng nặng được tổ chức quanh các bệ phóng tĩnh M-30 mới, mỗi tiểu đoàn gồm 96 bệ chia thành 3 đại đội. Tháng 7 cùng năm, một tiểu đoàn BM-13 được biên chế thêm cho một quân đoàn xe tăng.[28] Đến năm 1944, loại BM-31 được sử dụng trong các tiểu đoàn súng cối cận vệ hạng nặng cơ giới với 48 bệ. Năm 1943, các lữ đoàn, rồi sư đoàn súng cối cận vệ được thành lập, được trang bị các bệ phóng tĩnh.[27]

Rạng sáng ngày 5 tháng 9, pháo binh và không quân bắt đầu bắn chuẩn bị trên toàn tuyến của Tập đoàn quân 24, Cận vệ 1 và 66; tuy nhiên, ngay cả trên các hướng chủ yếu, mật độ hỏa lực pháo vẫn chưa đủ để tạo đột phá. Cuộc tấn công chỉ thực sự bắt đầu sau các loạt Katyusha.[29]

Đến cuối năm 1942 đã có 57 trung đoàn vào biên chế; cộng với các tiểu đoàn độc lập nhỏ hơn, con số này tương đương 216 đại đội: 21% là bệ nhẹ BM-8, 56% là BM-13 và 23% là bệ nặng M-30. Đến cuối chiến tranh, lực lượng tương đương 518 đại đội đã được trang bị.[27]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Bi kịch của cha đẻ tên lửa Kachiusha".
  2. ^ a b Zaloga (1984), tr. 150.Lỗi sfnp: không có mục tiêu: CITEREFZaloga1984 (trợ giúp)
  3. ^ a b c d e f Zaloga (1984), tr. 154.Lỗi sfnp: không có mục tiêu: CITEREFZaloga1984 (trợ giúp)
  4. ^ a b Suvorov, Viktor (1982). Inside the Soviet Army. Prentice Hall. tr. 207. ISBN 0-02-615500-1.
  5. ^ Trigg, Jonathan (ngày 15 tháng 7 năm 2018). Voices of the Scandinavian Waffen-SS: The Final Testament of Hitler's Vikings (bằng tiếng Anh). Amberley Publishing Limited. ISBN 978-1-4456-7469-8.
  6. ^ a b c Zaloga (1984), tr. 153.Lỗi sfnp: không có mục tiêu: CITEREFZaloga1984 (trợ giúp)
  7. ^ "Katyusha - Wiktionary". en.wiktionary.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2021.
  8. ^ Carell, Paul (1964). Hitler's war on Russia: the story of the German defeat in the East. Harrap. tr. 98.
  9. ^ Gordon L. Rottman (2007), FUBAR (F***ed Up Beyond All Recognition): Soldier Slang of World War II, p 279, Osprey, ISBN 1-84603-175-3.
  10. ^ a b c Bishop, Chris (2002) [1998]. The Encyclopedia of Weapons of World War II. Sterling Publishing Company. tr. 173–174. ISBN 1-58663-762-2.
  11. ^ Zak, Anatoly. "Gas Dynamics Laboratory". Russian Space Web. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2022.
  12. ^ АКИМОВ В.Н., КОРОТЕЕВ А.С., ГАФАРОВ А.А. и другие (2003). "Оружие победы — «Катюша»". Исследовательский центр имени М. В. Келдыша. 1933-2003 : 70 лет на передовых рубежах ракетно-космической техники. М: Машиностроение. tr. 92–101. ISBN 5-217-03205-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  13. ^ Siddiqi, Asif (2000). Challenge to Apollo : the Soviet Union and the space race, 1945-1974 (PDF). Washington, D.C.: National Aeronautics and Space Administration, NASA History Div. tr. 9. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2022.
  14. ^ Zak, Anatoly. "History of the Rocket Research Institute, RNII". Russian Space Web. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2022.
  15. ^ a b Zaloga (1984), tr. 154-155.Lỗi sfnp: không có mục tiêu: CITEREFZaloga1984 (trợ giúp)
  16. ^ Zaloga (1984), tr. 153-154.Lỗi sfnp: không có mục tiêu: CITEREFZaloga1984 (trợ giúp)
  17. ^ Bayvel, Rachel (Summer 2005). "Tales of 'Tank City': Rachel Bayvel Celebrates the Soviet Jews Who Produced Weapons for Allied Victory". Jewish Quarterly (bằng tiếng Anh). Số 198. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008.
  18. ^ Kremenetsky, Yosif (1999). "Inzhenerno-tekhnicheskaya deyatel'nost' yevreyev v SSSR". Yevrey pri bol’shevistskom stroye (Jews in the Bolshevist order) (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008.
  19. ^ Porter, pp 158–65.
  20. ^ Soviet military review. Krasnaya Zvezda Publishing House. 1974. tr. 13.
  21. ^ Chamberlain, Peter (1975). Mortars and rockets. Gander, Terry. New York: Arco Pub. Co. tr. 35. ISBN 0668038179. OCLC 2067459.
  22. ^ Scafeș 2004, tr. 213.
  23. ^ "Глава маршала А. И. Еременко". История Великой Отечественной войны в 6 томах (bằng tiếng Nga). Quyển 2. tr. 66.
  24. ^ Andrey Sapronov «Россия» newspaper No. 23 of June 21–27, 2001
  25. ^ Andrey Sapronov «Парламентская газета» No 80 of May 5, 2005
  26. ^ Zhukov, Georgy (2013). Marshal of Victory: The Autobiography of General Georgy Zhukov. Pen & Sword Military. tr. 495. ISBN 978-1-78159-291-5.
  27. ^ a b c Zaloga (1984), tr. 155.Lỗi sfnp: không có mục tiêu: CITEREFZaloga1984 (trợ giúp)
  28. ^ Zaloga (1984), tr. 147.Lỗi sfnp: không có mục tiêu: CITEREFZaloga1984 (trợ giúp)
  29. ^ Zhukov, Georgiĭ Konstantinovich (2013). Marshal of Victory: The Autobiography of General Georgy Zhukov. Pen & Sword Military. tr. 807. ISBN 978-1-78159-291-5.
  • U.S.S.R. ROCKET, 132-MM, FRAG-HE, MODEL M-13U.K: Khái quát [1], Cấu tạo [2] và mặt cắt bổ [3]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Zaloga, Steven J.; James Grandsen (1984). Soviet Tanks and Combat Vehicles of World War Two. London: Arms and Armour Press. tr. 150–54. ISBN 0-85368-606-8.
  • Porter, David (2009). The Essential Vehicle Identification Guide: Soviet Tanks Units 1939–45. London: Amber Books. tr. 158–165. ISBN 978-1-906626-21-1.
  • Scafeș, Cornel (2004). "Buletinul Muzeului Național Militar, Nr. 2/2004" [Bulletin of the National Military Museum, No. 2/2004]. National Military Museum (bằng tiếng Romania). Bucharest: Total Publishing: 210–237.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Katyusha (vũ khí).
  • Giới thiệu sơ Katyusha
  • x
  • t
  • s
Phương tiện chiến đấu bọc thép của Liên Xô/Nga sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Xe tăng
  • T-10
  • PT-76
  • T-54/55
  • T-62
  • T-64
  • T-72
  • T-80
  • T-90
  • T-14 Armata
Xe bọc thép chở quân
Bánh xích
  • BTR-50
  • BTR-D
  • MT-LB
  • GT-MU
  • PTS
  • Kurganets-25
  • BTR-T
Bánh lốp
  • BTR-40
  • BTR-60
  • BTR-70
  • BTR-80
  • BTR-90
  • BPM-97
  • BTR-152
  • BTR Bumerang
  • BTR Krymsk
  • SBA-60K2 Bulat
Xe chiến đấu bộ binh
  • BMP-1
  • BMP-2
  • BMP-3
  • BMD-1
  • BMD-2
  • BMD-3
  • BMD-4
  • BMPT
  • T-15 Armata
  • Kurganets-25
Xe bọc thép
  • BRDM-1
  • BRDM-2
  • GAZ-46
  • GAZ Tigr
  • GAZ Vodnik
  • VPK-3927 Volk
  • T-98 Kombat
  • Typhoon
Pháo tự hành
Pháo
  • Pháo sung kích: ASU-57 (57mm)
  • ASU-85 (85mm)
  • 2S25 Sprut-SD (125mm)
  • Pháo lựu: 2S1 Gvozdika (122mm)
  • 2S3 Akatsiya (152mm)
  • 2S5 Giatsint (152mm)
  • 2S19 Msta (152mm, phiên bản bánh xích)
  • 2S27 Msta-K (152mm, phiên bản bánh lốp)
  • 2S35 Koalitsiya-SV (152mm)
  • 2S7 Pion (203mm)
  • Súng cối: 2S9 Nona (120mm, phiên bản lắp trên BTR-D)
  • 2S23 Nona-SVK (120mm, phiên bản lắp trên BTR-80)
  • 2S31 Vena (120mm)
  • 2S42 Lotos (120mm)
  • 2S40 Floks (120 mm, bánh lốp)
  • 2S4 Tyulpan (240mmm)
  • Pháo bờ biển: A-222 Bereg (130mm)
  • Pháo laser: 1K17 Szhatie
MLRS
  • BM-14
  • BMD-20
  • BM-21 Grad
  • BM-24
  • BM-25
  • BM-27 Uragan
  • TOS-1
  • BM-30 Smerch
  • 9A52-4 Tornado
  • Polonez
Tên lửa
  • 2K1 Mars (FROG-2)
  • 2K6 Luna (FROG-3/5)
  • 9K52 Luna-M (FROG-7)
  • 9K79 Tochka (SS-21 Scarab)
  • R-400 Oka (SS-23 Spider)
  • Iskander (SS-26 Stone)
  • Tổ hợp tên lửa Scud
    • R-11 Zemlya (SS-1b Scud-A)
    • R-17 Elbrus (SS-1c Scud-B)
  • TR-1 Temp (SS-22 Scaleboard)
  • 3K60 Bal (SSC-6 Sennight)
  • K-300P Bastion-P
Vũ khí phòng không tự hành
Pháo
  • BTR-40A
  • BTR-152A
  • BTR-152D
  • ZSU-57-2
  • ZSU-23-4
  • 2S6 Tunguska
  • Pantsir-S1
Tên lửa
  • 2K11 Krug (SA-4 Ganef)
  • 2K12 Kub (SA-6 Gainful)
  • 9K22 Tunguska (SA-19 Grison)
  • 9K31 Strela-1 (SA-9 Gaskin)
  • 9K33 Osa (SA-8 Gecko)
  • 9K35 Strela-10 (SA-13 Gopher)
  • 9K37 Buk (SA-11 Gadfly)
  • 9K330 Tor (SA-15 Gauntlet)
  • S-300 (SA-10 Grumble)
  • S-400 (SA-21 Growler)
  • Pantsir-S1 (SA-22 Greyhound)
  • S-350E Vityaz 50R6

Từ khóa » Cách đốt Pháo Rocket