Khải Huyền 19 | Bản Dịch Mới | Kinh Thánh Tiếng Việt

Kinh Thánh
  • So Sánh
  • Thư Viện
    • Từ Điển Kinh Thánh
    • Giải Nghĩa Kinh Thánh
    • Sách Tham Khảo
  • Khải Huyền KH
    • CỰU ƯỚC
    • Sáng Thế
    • Xuất Hành
    • Lê-vi
    • Dân Số
    • Phục Truyền
    • Giô-suê
    • Thẩm Phán
    • Ru-tơ
    • I Sa-mu-ên
    • II Sa-mu-ên
    • I Các Vua
    • II Các Vua
    • I Sử Ký
    • II Sử Ký
    • E-xơ-ra
    • Nê-hê-mi
    • Ê-xơ-tê
    • Gióp
    • Thánh Thi
    • Châm Ngôn
    • Giáo Huấn
    • Nhã Ca
    • I-Sai
    • Giê-rê-mi
    • Ai Ca
    • Ê-xê-chi-ên
    • Đa-ni-ên
    • Ô-sê
    • Giô-ên
    • A-mốt
    • Áp-đia
    • Giô-na
    • Mi-ca
    • Na-hum
    • Ha-ba-cúc
    • Sô-phô-ni
    • Ha-gai
    • Xa-cha-ri
    • Ma-la-chi
    • TÂN ƯỚC
    • Ma-thi-ơ
    • Mác
    • Lu-ca
    • Giăng
    • Công-vụ
    • Rô-ma
    • I Cô-rinh-tô
    • II Cô-rinh-tô
    • Ga-la-ti
    • Ê-phê-sô
    • Phi-líp
    • Cô-lô-se
    • I Tê-sa-lô-ni-ca
    • II Tê-sa-lô-ni-ca
    • I Ti-mô-thê
    • II Ti-mô-thê
    • Tích
    • Phi-lê-môn
    • Hê-bơ-rơ
    • Gia-cơ
    • I Phê-rơ
    • II Phê-rơ
    • I Giăng
    • II Giăng
    • III Giăng
    • Giu-đe
    • Khải Huyền
  • 19 Chương 19
    • 1
    • 2
    • 3
    • 4
    • 5
    • 6
    • 7
    • 8
    • 9
    • 10
    • 11
    • 12
    • 13
    • 14
    • 15
    • 16
    • 17
    • 18
    • 19
    • 20
    • 21
    • 22
  • Song Ngữ
    • Sử Dụng Gần Đây
    • Bản Dịch Mới (NVB)
    • Tiếng Việt
    • Kinh Thánh Tiếng Việt 1925 (VI1934)
    • Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Truyền Thống Hiệu Đính 2010 (RVV11)
    • Bản Dịch 2011 (BD2011)
    • Bản Dịch Mới (NVB)
    • Bản Phổ Thông (BPT)
    • Bản Diễn Ý (BDY)
    • Tiếng Anh
    • New King James Version (NKJV)
    • New International Version (NIV)
    • Tiếng Hoa[Phồn Thể]
    • 和合本修訂版 (RCUV)
    • Tiếng Hoa[Giản Thể]
    • 和合本修订版 (RCUVSS)
    • Tiếng Ê-đê
    • Klei Aê Diê Blŭ 2015 (RRB)
    • Tiếng Gia-rai
    • Hră Ơi Adai Pơhiăp 2016 (JBSV)
    • Tiếng Bru (Vân Kiều)
    • Parnai Yiang Sursĩ (BRU)
    • Tiếng Dao
    • Ging-Sou (IUMINR)
    • Tiếng H'Mông Trắng [Hmoob Dawb]
    • Vajtswv Txojlus (HMOWSV)
    • Vajtswv Txojlus (HWB)
    • Tiếng H'Mông Xanh [Moob Leeg]
    • Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)
    • Tiếng M'Nông
    • Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)
  • Bản Dịch Mới (NVB)
    • Sử Dụng Gần Đây
    • Bản Dịch Mới (NVB)
    • Tiếng Việt
    • Kinh Thánh Tiếng Việt 1925 (VI1934)
    • Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Truyền Thống Hiệu Đính 2010 (RVV11)
    • Bản Dịch 2011 (BD2011)
    • Bản Dịch Mới (NVB)
    • Bản Phổ Thông (BPT)
    • Bản Diễn Ý (BDY)
    • Tiếng Anh
    • New King James Version (NKJV)
    • New International Version (NIV)
    • Tiếng Hoa[Phồn Thể]
    • 和合本修訂版 (RCUV)
    • Tiếng Hoa[Giản Thể]
    • 和合本修订版 (RCUVSS)
    • Tiếng Ê-đê
    • Klei Aê Diê Blŭ 2015 (RRB)
    • Tiếng Gia-rai
    • Hră Ơi Adai Pơhiăp 2016 (JBSV)
    • Tiếng Bru (Vân Kiều)
    • Parnai Yiang Sursĩ (BRU)
    • Tiếng Dao
    • Ging-Sou (IUMINR)
    • Tiếng H'Mông Trắng [Hmoob Dawb]
    • Vajtswv Txojlus (HMOWSV)
    • Vajtswv Txojlus (HWB)
    • Tiếng H'Mông Xanh [Moob Leeg]
    • Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)
    • Tiếng M'Nông
    • Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)
19

Ca Hát Sau Khi Ba-by-lôn Bị Tiêu Diệt

 1Sau các việc này, tôi nghe một tiếng hô lớn của một đám rất đông trên trời:   “Ha-lê-lu-gia!   Sự cứu rỗi, vinh quang và quyền năng đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta.    2Vì sự phán xét của Ngài thực công minh và chân thật,   Ngài đã kết án con đại kỹ nữ    Từng làm ô uế thế gian với sự gian dâm của nó   Và Ngài báo trả cho nó về máu các đầy tớ Ngài mà nó đã đổ ra!”  3Họ lại hô lên:   “Ha-lê-lu-gia!   Khói của nó bay lên mãi cho đến đời đời!”  4Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật quỳ xuống thờ lạy Đức Chúa Trời đang ngự trên ngai, tung hô:   “A-men, Ha-lê-lu-gia!”  5Một tiếng nói từ trên ngai bảo:   “Hãy ca ngợi Đức Chúa Trời chúng ta,    Tất cả các người là đầy tớ của Ngài,   Là những kẻ kính sợ Ngài,    Cả lớn và nhỏ!”  6Lúc ấy, tôi nghe tiếng ầm ĩ như của một đám người đông đảo, như tiếng ầm ầm của nhiều thác nước, như tiếng sấm vang động dữ dội rằng:   “Ha-lê-lu-gia    Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta cai trị!   7Chúng ta hãy hân hoan mừng rỡ    Và tôn vinh Ngài!   Vì lễ cưới Chiên Con đã đến    Và cô dâu Ngài đã chuẩn bị sẵn sàng.   8Nàng được cấp áo vải gai mịn rực rỡ và trong sạch    Để mặc vào!”  Vải gai mịn là các việc công chính của các thánh đồ. 9Thiên sứ bảo tôi: “Anh hãy viết: Phước cho những người được mời dự tiệc cưới Chiên Con!” thiên sứ tiếp: “Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời!” 10Tôi quỳ xuống trước chân thiên sứ để thờ lạy người, nhưng người bảo tôi: “Đừng làm như thế! Tôi chỉ là bạn tôi tớ với anh và với các anh chị em của anh là những người giữ lời chứng của Đức Giê-su. Hãy thờ lạy Đức Chúa Trời! Vì sự làm chứng về Đức Giê-su là tinh thần của các lời tiên tri!”  11Tôi thấy bầu trời mở ra và kìa, một con ngựa trắng xuất hiện. Đấng cưỡi ngựa tên là Đấng Thành Tín và Chân Thật. Ngài phán xét và chiến đấu cách công minh. 12Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, đầu Ngài đội nhiều mão. Ngài có một danh hiệu ghi trên mình ngoài Ngài ra không ai biết được. 13Ngài mặc áo nhúng trong huyết và được xưng danh là Lời Đức Chúa Trời. 14Các quân đội trên trời đều theo Ngài, cưỡi ngựa trắng và mặc áo bằng vải gai mịn trắng trong sạch. 15Từ miệng Ngài thò ra một lưỡi gươm sắc bén mà Ngài dùng để đánh phạt các dân. Ngài sẽ cai trị họ bằng cây gậy sắt. Ngài đạp nho trong máy ép nho chứa rượu thịnh nộ mãnh liệt của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16Trên áo và trên đùi Ngài có ghi danh hiệu:  vua của các vua và CHÚAcủa cácCHÚA.  17Tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời lớn tiếng gọi tất cả các loài chim chóc bay giữa bầu trời: “Hãy đến tập họp để dự đại tiệc của Đức Chúa Trời, 18để ăn thịt các vua, các tướng lĩnh, các người quyền thế, thịt ngựa và kỵ sĩ, cùng thịt của mọi người tự do và nô lệ, lớn và nhỏ.”  19Tôi thấy con thú, các vua của thế gian và các quân đội họ tập trung để chiến tranh với Đấng cưỡi ngựa và quân đội Ngài. 20Nhưng con thú bị bắt sống cùng với tiên tri giả là kẻ đã làm các dấu lạ trước mặt nó để lừa gạt những kẻ đã nhận dấu ấn của con thú và những kẻ thờ lạy thần tượng nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa diêm sinh cháy phừng. 21Những người còn lại đều bị giết do lưỡi gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa và tất cả chim chóc đều ăn thịt họ no nê.
  • ← Khải Huyền 18
  • Khải Huyền 20 →

Từ khóa » Khải Huyền 19