Khảo Sát Thực Trạng Từ điển đồng Nghĩa Tiếng Việt Hiện Nay - 123doc
Có thể bạn quan tâm
Về sau này, các nhà ngôn ngữ học khác cũng bàn nhiều đến lý luận từ đồng nghĩa, đó là những vấn đề cụ thể như: khái niệm từ đồng nghĩa, cách thức phân biệt từ đồng nghĩa tiếng Việt, phươ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
THÁI THỊ BÍCH THỦY
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
TỪ ĐIỂN ĐỒNG NGHĨA TIẾNG VIỆT HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHÁNH HÀ
Hà Nội-2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Thái Thị Bích Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Khánh Hà, người hướng dẫn tôi viết luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo Khoa Ngôn ngữ học, Trường
ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp và các học viên Cao học Ngôn ngữ K56 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và làm luận văn
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Thái Thị Bích Thủy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1.Nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa 12
1.1.1 Nghĩa của từ 12
1.1.2 Trường nghĩa 16
1.1.3 Hiện tượng đồng nghĩa 19
1.2 Từ điển từ đồng nghĩa 33
1.2.1 Từ điển học và từ điển từ đồng nghĩa 33
1.2.2 Khái niệm bảng từ và các đơn vị từ ngữ trong bảng từ 37
1.2.3 Khái niệm và đặc điểm của định nghĩa 42
1.2.4 Khái niệm và đặc điểm của ví dụ 47
1.3 Tiểu kết 49
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CẤU TRÚC VĨ MÔ CỦA MỘT SỐ TỪ ĐIỂN ĐỒNG NGHĨA TIẾNG VIỆT 51
2.1 Đối tượng và phương thức khảo sát 51
2.1.1 Đối tượng khảo sát 51
2.1.2 Phương thức khảo sát 51
2.2 Phân tích kết quả khảo sát 52
2.2.1 Ý tưởng lập bảng từ và các từ ngữ trong bảng từ 52
2.2.2 Cấu trúc vĩ mô của từ điển 54
2.3 Nhận xét 67
2.3.1 Cấu trúc vi mô 67
2.3.2 Nhận xét 70
2.4 Tiểu kết 76
CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT CẤU TRÚC VI MÔ CỦA MỘT SỐ TỪ ĐIỂN
Trang 63.1 Đối tượng và phương thức tiến hành khảo sát 78
3.1.1 Khái quát về đối tượng khảo sát 78
3.1.2 Phương thức tiến hành khảo sát 78
3.2 Kết quả khảo sát 78
3.2.1 Quan điểm của người biên soạn về cách giải nghĩa từ 78
3.2.2 Cấu trúc vi mô của từ điển 80
3.3 Nhận xét 106
3.3.1 Cấu trúc vi mô 106
3.3.2 Ý kiến nhận xét 108
3.4 Tiểu kết 109
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 120
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
LĐ-NVM Long Điền, Nguyễn Văn Minh (2010),Việt ngữ tinh nghĩa từ
điển, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội
HVH Hoàng Văn Hành (chủ biên), Hoàng Phê, Đào Thản (2002), Sổ
tay dùng từ tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
DKĐ Dương Kỳ Đức (chủ biên), Vũ Quang Hào (1992), Từ điển trái
nghĩa – đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học và Giáo dục
chuyên nghiệp Hà Nội
NVT Nguyễn Văn Tu (1999), Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
HP Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng
– Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng
+ Ví dụ không bị biến đổi về nghĩa
- Ví dụ trở nên khôi hài, khó hiểu
* Ví dụ được hiểu theo một nghĩa khác
X Không
Trang 82.3 Các lớp từ loại trong bốn cuốn từ điển đồng
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Số lượng các từ đầu mục và số trang của bốn
2.2 Số lượng trung bình của các từ đồng nghĩa trong
một dãy của bốn cuốn từ điển được khảo sát 58 2.3 Các lớp từ loại trong bốn cuốn từ điển đồng nghĩa
Trang 9“Cho đến nay chúng ta chưa xây dựng được một giáo trình từ điển học và cũng chưa tổng kết kinh nghiệm công tác từ điển ở nước ta” [22; tr.13]
Đến năm 1997, công trình Một số vấn đề từ điển học ra đời được coi là
mốc quan trọng đầu tiên của lý thuyết từ điển học ở nước ta Tuy nhiên, các
nhà từ điển học cũng nhận định: “Từ điển học ở Việt Nam mới chỉ hình thành Chúng ta có một số nghiên cứu và kinh nghiệm được công bố rải rác, song vẫn thiếu một công trình từ điển học thực sự Tập bài “Một số vấn đề từ điển học” là một cố gắng nhằm đáp ứng nhu cầu này (…) Nhưng hạn chế của cuốn sách này là chưa trình bày được đầy đủ, toàn diện những vấn đề cơ bản của từ điển học Chúng tôi mới chỉ khảo sát những vấn đề thuộc từ điển ngôn ngữ, mà trong từ điển ngôn ngữ lại chú mục vào từ điển giải thích” [46, tr.6]
Năm 2008, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam được thành lập
và cho ra mắt Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư (2009), từ đó những nghiên cứu về từ điển học đã trở nên phong phú, đa dạng hơn Tuy nhiên, trong lĩnh vực từ điển ngôn ngữ, và hẹp hơn là trong lĩnh vực từ điển giải thích, không phải mọi vấn đề đều đã được giải quyết một cách thấu đáo Các tác giả đi trước hầu như mới chỉ quan tâm đến các kiểu từ điển giải thích như:
từ điển thành ngữ - tục ngữ, từ điển phương ngữ, từ điển ngôn ngữ tác phẩm, tác giả, từ điển từ láy, từ điển từ cổ,v.v mà chưa quan tâm nhiều đến từ điển đồng nghĩa
Trang 10Như đã biết, ngôn ngữ vốn là một hệ thống phức tạp, bao gồm các phương tiện biểu hiện, bằng cách này hay cách khác, ít nhiều có sự tương ứng với nhau, và trong quá trình phát triển, chúng trở nên đồng nghĩa với nhau Để có được sự phù hợp giữa hình thức và nội dung cần diễn đạt khi sử dụng ngôn ngữ, chúng ta cần phải nắm được vốn từ vựng cùng với các đặc điểm ý nghĩa cũng như khả năng kết hợp của từ ngữ này với các từ ngữ khác tạo thành những dãy đồng nghĩa Các từ ngữ trong dãy đồng nghĩa thường có thể thay thế được cho nhau trong những bối cảnh ngôn ngữ cụ thể Sự thay thế ấy nếu được sử dụng một cách chính xác, rõ ràng thì sẽ tránh được tình trạng lặp đi lặp lại nhiều lần một đơn vị ngôn ngữ, gây ra cảm giác nhàm chán và nghèo nàn về từ ngữ
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, trên thị trường chỉ lẻ tẻ xuất hiện những cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt, mà chủ yếu dành cho học
sinh, như: Từ điển đồng nghĩa – trái nghĩa tiếng Việt (dùng trong nhà trường) (Hồng Đức, 2008, NXB Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh), Từ điển đồng nghĩa - trái nghĩa tiếng Việt (dùng trong cho học sinh) (Nguyễn Quốc Khánh,
Trần Trọng Dương, Đình Phúc, Minh Châu, 2011, NXB Từ điển Bách khoa),
Từ điển đồng nghĩa - trái nghĩa tiếng Việt (Dành cho học sinh) (Bùi Việt
Phương, Đỗ Anh Vũ, Ánh Ngọc, 2010, NXB Từ điển Bách khoa),v.v Bên cạnh đó là sự xuất hiện của một số từ điển đồng nghĩa nhưng dưới dạng song
ngữ như Anh – Việt, Hoa – Việt,v.v chẳng hạn Từ điển đồng nghĩa phản nghĩa Hoa - Việt (Nguyễn Hữu Trí, 2001, NXB Thống kê), Từ điển đồng nghĩa và trái nghĩa Anh - Việt (Ngọc Châu – Minh Châu, 2010, NXB TP Hồ
Chí Minh),v.v Tuy nhiên, chất lượng của những cuốn từ điển như vậy hầu như chưa được kiểm chứng
Dựa trên thực tế đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Khảo sát thực trạng từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình Với đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát thực trạng một số từ điển
Trang 11đồng nghĩa tiếng Việt đang lưu hành trên thị trường nhằm bước đầu đưa ra nhận định đánh giá về những thành công và hạn chế trong việc biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
1.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Việc nghiên cứu lý thuyết từ điển đồng nghĩa đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chẳng hạn phương pháp xác lập cấu trúc dãy đồng nghĩa trong biên soạn từ điển, phương pháp giải thích và tìm sự khu biệt ngữ nghĩa các từ đồng nghĩa, v.v Mỗi từ điển đồng nghĩa có những tiêu chí riêng trong việc lựa chọn, thu thập, sắp xếp và trình bày bảng mục từ, cách đưa thông tin vào cấu trúc vi mô, v.v Nghiên cứu của chúng tôi tiếp thu những thành tựu mang tính lý luận của từ điển học thế giới, và trên cơ sở đó, áp dụng vào việc khảo sát các từ điển đồng nghĩa ở nước ta để tìm hiểu cách lập dãy đồng nghĩa và giải thích tìm sự khu biệt ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa Trước nhu cầu nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt hiện nay, nghiên cứu của chúng tôi góp phần xây dựng một hướng đi mới trong biên soạn các cuốn từ điển đồng nghĩa, nhằm nâng cao vai trò của chúng như những công
cụ tiện lợi giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ thêm phần phong phú, giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt nghĩa của từ ngữ và cách sử dụng từ ngữ
“thực hành” Alain Rey đã viết: “(…) trong lĩnh vực này, người ta thậm chí
Trang 12thuyết” Và “điều đó làm cho những người thực hành nhất trong những người thực hành lại là những nhà lý thuyết không thể phủ nhận được” [Alain
Rey, 2009]
Về tình hình biên soạn từ điển đồng nghĩa, trên thế giới, những cuốn từ điển đồng nghĩa đầu tiên được biên soạn cách đây vài trăm năm Mỗi quốc gia đều xuất bản các loại từ điển đồng nghĩa được biên soạn theo các cách thức khác nhau – hoặc chỉ lập danh sách các từ, hoặc vừa có danh sách từ, vừa có lời định nghĩa chỉ ra sự giống và khác nhau về ngữ nghĩa của các đơn vị cùng các thí dụ minh họa được lấy từ các tác phẩm văn chương nổi tiếng Năm
1978, George Miller và nhóm nghiên cứu của ông tại Đại học Princeton bắt đầu phát triển một cơ sở ngữ liệu với các mối quan hệ khái niệm, được coi là
sự thể hiện (hiện thực hóa) một mô hình của vốn từ vựng nội tâm (mental lexicon) Cơ sở ngữ liệu này, gọi là WrodNet, đã được tổ chức xung quanh ý niệm mà một tập hợp các từ đồng nghĩa (gọi là synet) thể hiện với các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng [Vossen Piek, 2002]
Ở Việt Nam, vấn đề hiện tượng đồng nghĩa, từ đồng nghĩa chỉ thực sự được bàn tới từ những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX Nó được trình bày khái lược trong cuốn giáo trình “Khái luận ngôn ngữ học” (Tổ Ngôn ngữ học Trường ĐHTH HN, 1960) Trong giáo trình, các tác giả mới chỉ đưa ra định nghĩa, phân loại và nêu ra nguồn gốc của các từ đồng nghĩa Về sau này, các nhà ngôn ngữ học khác cũng bàn nhiều đến lý luận từ đồng nghĩa, đó là những vấn đề cụ thể như: khái niệm từ đồng nghĩa, cách thức phân biệt từ đồng nghĩa tiếng Việt, phương pháp xác định từ trung tâm trong nhóm đồng nghĩa, hay vấn đề phân loại và xác định nguồn gốc của từ đồng nghĩa Có thể
kể đến công trình của một số nhà ngôn ngữ học tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu
trong Giáo trình Việt ngữ (tập II, 1962), Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa trái nghĩa, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), Cơ sở ngữ nghĩa học
từ vựng (1987); Nguyễn Văn Tu trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại (1968),
Trang 13Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (1976), Các nhóm từ đồng nghĩa trong tiếng Việt (1982); Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng tiếng Việt (1978), Từ vựng học tiếng Việt (1985); Nguyễn Trung Thuần trong Thử tìm hiểu từ trung tâm
và nhóm từ đồng nghĩa (Ngôn ngữ, số 2, 1983), Nguyễn Đức Tồn trong Từ đồng nghĩa tiếng Việt (2006), Đỗ Việt Hùng trong Giáo trình từ vựng học tiếng Việt (2011), v.v
Ở Việt Nam, cho tới nay đã có một số cuốn từ điển đồng nghĩa được biên
soạn như: Long Điền Nguyễn Văn Minh, Việt ngữ tinh nghĩa từ điển (xuất bản năm 1951, tái bản năm 1998); Nguyễn Văn Tu, Từ điển từ đồng nghĩa
tiếng Việt (xuất bản năm 1982, tái bản nhiều lần); Hoàng Phê, Hoàng Văn
Hành, Đào Thản, Sổ tay dùng từ (xuất bản năm 1980); Dương Kỳ Đức, Vũ Quang Hào, Từ điển trái nghĩa, đồng nghĩa tiếng Việt (xuất bản năm 1992); Trương Chính, Giải thích các từ gần âm gần nghĩa dề nhầm lẫn (xuất bản
năm 1997) v.v Đây là nguồn tư liệu khảo sát tương đối phong phú cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Trong luận văn này, chúng tôi chọn từ điển
đồng nghĩa tiếng Việt làm đối tượng nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Dựa vào thực tiễn biên soạn từ điển đồng nghĩa
tiếng Việt ở nước ta hiện nay, luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan trong phạm vi bốn cuốn từ điển:
- Long Điền, Nguyễn Văn Minh, Việt ngữ tinh nghĩa từ điển, xuất bản năm
1951, tái bản năm 1998 Cuốn từ điển này gồm 300 nhóm từ đồng nghĩa tiếng Việt
- Dương Kỳ Đức (chủ biên), Vũ Quang Hào, Từ điển trái nghĩa – đồng nghĩa tiếng Việt, xuất bản năm 1992 Từ điển này thu thập những từ vừa có
quan hệ trái nghĩa, vừa có quan hệ đồng nghĩa nên cả cuốn sách bao gồm tập
Trang 14- Nguyễn Văn Tu, Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, xuất bản năm 1982,
tái bản nhiều lần Cuốn từ điển này cung cấp 750 nhóm từ đồng nghĩa
- Hoàng Văn Hành (chủ biên), Hoàng Phê, Đào Thản, Sổ tay dùng từ tiếng Việt, xuất bản năm 1980 Cuốn từ điển này bao gồm 137 nhóm từ đồng nghĩa
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là góp phần chuẩn bị nền tảng cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt Vì vậy luận văn cần hoàn thành tốt những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, xác lập cơ sở lý luận về từ điển học nói chung và từ điển đồng nghĩa nói riêng, đồng thời tìm hiểu các vấn đề lí thuyết liên quan đến nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa như: các khái niệm về nghĩa của từ, trường nghĩa, hiện tượng đồng nghĩa, phương pháp xác lập cấu trúc dãy đồng nghĩa trong biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt,v.v
Thứ hai, khảo sát và đánh giá một số từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện nay, làm rõ những vấn đề còn tồn tại hoặc chưa được đề cập, đưa ra một số nhận xét về việc biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là từ điển đồng nghĩa tiếng Việt Vì vậy, chúng tôi lấy nguồn tư liệu để khảo sát và phân tích từ: i) sách và tài liệu mang tính chất lí luận về từ điển từ đồng nghĩa, ii) từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
Chúng tôi sử dụng kết hợp và linh hoạt nhiều thủ pháp, thao tác nghiên cứu nhằm thực hiện các nhiệm vụ một cách khách quan, triệt để và sâu sắc
Để giải quyết nhiệm vụ thứ nhất, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả nhằm tìm hiểu và tổng hợp hệ thống lý luận trong các tài liệu nghiên cứu về
từ đồng nghĩa, từ điển, cách xử lý cấu trúc vĩ mô và vi mô trong các cuốn từ điển của nước ngoài, các nghiên cứu của các nhà Việt ngữ Cụ thể là: i) xác
Trang 15định nội hàm các khái niệm từ, nghĩa của từ, nét nghĩa, ii) khái niệm trường nghĩa và sự phân loại trường nghĩa, iii) hiện tượng đồng nghĩa Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập tới: i) các khái niệm từ điển học, từ điển đồng nghĩa, ii) khái niệm bảng từ và các đơn vị từ ngữ được đưa vào bảng từ, iii) khái niệm và các đặc điểm của định nghĩa, iv) khái niệm và các đặc điểm của ví
dụ
Với nhiệm vụ nghiên cứu thứ hai, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả kết hợp với các thủ pháp thống kê, phân loại,v.v để khảo sát các từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt đã được công bố1 Dựa trên kết quả thu được, chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá các vấn đề: i) ý tưởng của các soạn giả về cách lập bảng từ và giải nghĩa từ, ii) cấu trúc vĩ mô của từ điển, iii) cấu trúc vi mô của từ điển Đặc biệt, chúng tôi kết hợp phương pháp miêu tả (phân tích, đánh giá) với phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ hơn những vấn đề còn tồn tại trong xử lí các bộ phận của cấu trúc vĩ mô và vi mô của từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa để tìm ra những sự giống nhau và khác nhau giữa các từ trong dãy đồng nghĩa được chọn khảo sát Chúng tôi cũng tham khảo các tiêu chí đánh giá, kĩ thuật và thủ pháp từ điển học trong việc xác lập mục từ, định nghĩa,v.v nhằm đưa ra những nhận xét khách quan về mô hình từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
5 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục , Luận văn được bố cục thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Khảo sát cấu trúc vĩ mô của một số từ điển đồng nghĩa tiếng
Việt
Trang 16Chương 3 Khảo sát cấu trúc vi mô của một số từ điển đồng nghĩa tiếng
gọi là từ [24, tr.10]
Định nghĩa phổ biến hiện nay được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho là
phù hợp với từ như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu” [6, tr.1072]
Từ tiếng Việt là một đơn vị thuộc hệ thống các đơn vị ngôn ngữ tiếng Việt Qua các công trình khảo sát về từ tiếng Việt, chúng tôi thấy có một số nhận định về đặc điểm của từ được nhiều người đồng tình như sau:
- Từ tiếng Việt không biến đổi về hình thức ngữ âm theo các nghĩa tương liên trong câu
- Ranh giới hình vị trùng với ranh giới âm tiết nên hình thức ngữ âm chuẩn của từ tiếng Việt được hiện thực hóa bằng những dấu hiệu ngoài từ
- Các đặc điểm nói trên có quan hệ trực tiếp đến từ ngữ nghĩa được hiện thực hóa trong tâm thức người Việt
- Dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hệ thống, hoàn chỉnh, có thể phân chia thành các bộ phận và có khả năng tái hiện dễ dàng trong lời nói [8]
Từ những đặc điểm trên của từ tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đã rút ra định
nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa
Trang 17nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu) cấu tạo nhất định, tuân theo những đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất
để tạo câu” [6, tr.122]
1.1.1.2 Nghĩa của từ
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là “phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” (V.I Lê nin) Xét về mặt lý thuyết, ngôn ngữ
là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng gồm hai mặt: âm
và nghĩa Hai mặt này gắn kết với nhau, không tách rời, có cái nọ thì phải có cái kia, giống như “hai mặt của một tờ giấy” vậy Ý nghĩa của từ cùng với hình thức âm thanh được hình thành và ổn định dần dần trong lịch sử phát triển ngôn ngữ Và chúng được từng cá nhân lĩnh hội, tích lũy và sử dụng trong hoạt động giao tiếp
Theo Hoàng Phê, nghĩa của từ là “một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau,v.v Mỗi nghĩa từ là một tổ hợp đặc biệt những thành tố ngữ nghĩa, gọi là các nét nghĩa” (dẫn theo [21])
“Ý nghĩa của từ vừa là cái riêng cho từng từ, vừa là cái chung cho những
từ cùng loại Nắm được cái chung, cái riêng trong ý nghĩa thì mới thực sự hiểu từ, thực sự hiểu được những cái tinh tế trong từ và mới hiểu được những đặc sắc của từng ngôn ngữ ở phương diện nội dung” [21]
Nghĩa của từ, ở mức khái quát được gọi là nghĩa từ vựng hay ý nghĩa từ vựng Trong cấu trúc của nghĩa từ vựng có các thành phần nghĩa sau: nghĩa
biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái
Ý nghĩa biểu vật của từ là nghĩa ứng với sự vật hiện tượng, trạng thái tính chất được từ gọi tên Ý nghĩa biểu vật quy định phạm vi sự vật mà từ dùng để biểu hiện Có những từ có ý nghĩa biểu vật hẹp, chỉ ứng với một sự vật hiện tượng duy nhất trong thực tế; ví dụ như từ “nhai” dùng để chỉ hoạt động của miệng người Song có những từ mà ý nghĩa biểu vật có tính chất khái quát
Trang 18thành phố lớn nói chung Có những từ lại có nhiều nghĩa biểu vật, nghĩa là từ
đó ứng với nhiều loại ý nghĩa biểu vật trong hiện thực khách quan: ví dụ,
“mắt cá” chỉ một bộ phận của con cá đồng thời cũng chỉ một bộ phận trên cơ thể con người Ý nghĩa biểu vật xuất phát từ sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vào ngôn ngữ, nên sự vật hiện tượng là cơ sở nguồn gốc của ý nghĩa biểu vật
Nghĩa biểu niệm (hay nghĩa sở biểu) là thành phần cơ bản của ý nghĩa từ vựng Sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ thành ý nghĩa biểu vật và từ có ý nghĩa biểu vật thì sẽ có ý nghĩa biểu niệm tương ứng Ý nghĩa biểu niệm là những hiểu biết mà từ gợi ra về các sự vật hiện tượng, hoạt động, trạng thái, tính chất Những hiểu biết này bao gồm những hiểu biết về thuộc tính, đối tượng, tổng hợp tất cả các thuộc tính đó tạo thành nội dung khái niệm Mỗi thuộc tính đó được phản ánh trong nghĩa biểu niệm của từ thành một nét nghĩa Và mỗi nét nghĩa như vậy có thể có mặt trong ý nghĩa biểu niệm của các từ Ví dụ, các từ “anh”, “em”, “chị” cùng có chung một nét nghĩa là cùng chỉ những người cùng bố mẹ với mình nhưng ngoài ra mỗi từ lại có một nét nghĩa riêng biệt nữa Ý nghĩa biểu niệm của từ
là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một
tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa lại có quan hệ với nhau
Nghĩa biểu thái “là một phạm trù rất rộng bao gồm mọi đặc tính khác nhau của từ cần yếu về mặt ngữ nghĩa” [2, tr.65] Đó là các đặc tính về sắc
thái nghĩa như: phương ngữ/ toàn dân, khẩu ngữ/ văn chương, cũ/ mới, thông tục/ trang trọng, v.v Việc xác định các thành phần này không đơn giản vì không có đủ tiêu chuẩn chặt chẽ để phân loại, và vì tất cả các từ có thể thay đổi sắc thái của chúng một cách nhanh chóng
Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào những vấn đề liên quan đến nghĩa từ để nhận diện từ đồng nghĩa Các tác giả Iu D Apresian và Z E Alechsandrova
đã nêu ra thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa như sau: “chỉ những đơn vị từ
Trang 19vựng nào được sử dụng ở ý nghĩa trùng nhau ít nhất trong một kết cấu chung
và có khả năng kết hợp trùng nhau một phần mới có thể được thừa nhận là thay thể được lẫn nhau và do đó là đồng nghĩa” (dẫn theo [35]) Còn trong cuốn Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga, tác giả đã “cố gắng đưa vào các dãy đồng nghĩa những từ biểu thị một khái niệm và dựa vào sự có thể thay thế giữa từ đầu mục của dãy và từ đồng nghĩa trong ngữ cảnh đồng nhất” (dẫn
theo [35])
1.1.1.3 Nét nghĩa
Nét nghĩa (semantic feature) “là những yếu tố ngữ nghĩa chung cho nghĩa của các từ thuộc cùng một nhóm từ, hoặc riêng cho nghĩa của một từ, đối lập với nghĩa của những từ khác trong cùng một nhóm Nét nghĩa được diễn đạt bằng từ (hoặc tổ hợp từ)” [20, tr 11]
Ví dụ (trích dẫn theo Hoàng Phê), nghĩa của hai từ vợ và chồng có yếu tố
ngữ nghĩa chung là “nói trong mối quan hệ với người đã kết hôn với mình”
Khi đem đối lập với nhau thì vợ và chồng lại có thể phân tích ra thành những
thành tố ngữ nghĩa “phụ nữ”, “đàn ông”, “đã kết hôn”
- vợ: “phụ nữ” – “đã kết hôn” – “nói trong mối quan hệ với chồng”
- chồng: “đàn ông” – “đã kết hôn” – “nói trong mối quan hệ với vợ”
Có thể thấy, các thành tố nghĩa “đã kết hôn”, “ nói trong mối quan hệ với
người đã kết hôn với mình” là những nét nghĩa chung cho cả vợ và chồng Còn thành tố nghĩa “phụ nữ” là nét nghĩa riêng cho từ vợ và thành tố nghĩa
“đàn ông” là nét nghĩa riêng cho từ chồng
Bản thân mỗi nét nghĩa, đến lượt chúng, cũng có thể coi như là một nghĩa,
và có thể phân tích thành những nét nghĩa nhỏ hơn Trên lý thuyết, sự phân tích có thể tiếp tục cho đến khi đạt đến những thành tố ngữ nghĩa cơ bản
không còn có thể phân tích được nữa (được gọi là nghĩa vị) [20, tr 11] Trong
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, các tác giả đồng nhất nghĩa vị với
Trang 20ở bình diện giao tiếp Một từ có thể có một nghĩa vị - đó là các từ đơn nghĩa; hoặc một vài nghĩa vị - đó là các từ đa nghĩa” (dẫn theo [47]) Như vậy, một
từ đa nghĩa thì nét nghĩa sẽ nhiều hơn từ đơn nghĩa
Để một từ có thể được sắp xếp vào một nhóm nào đó, từ đó phải có đặc điểm chung nào đó với các từ trong nhóm Đặc điểm này chính là nét nghĩa
trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ Đỗ Việt Hùng cho rằng: “Nét nghĩa là những phần nghĩa thể hiện thuộc tính sự vật mà từ biểu thị, dựa vào đó mà từ
có thể thuộc vào một trong các nhóm từ vựng ngữ nghĩa được phân chia theo chủ đề” [12, tr 24] Đây cũng chính là cơ chế xác định các dãy đồng nghĩa
trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ Tức là, hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ chỉ có chung một nét nghĩa đồng nhất Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì mức độ đồng nghĩa giữa các từ với nhau càng cao Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đó có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác một hoặc một vài nét nghĩa cụ thể nào đó
1.1.2 Trường nghĩa
1.1.2.1 Khái niệm trường nghĩa
Lý thuyết về trường nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ học đề cập đến từ rất sớm Những ý tưởng về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ đã
được nhà bác học người Nga M M Pokrovxki viết vào năm 1896: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc lập với ý thức của chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý nghĩa” (dẫn theo [35]) Tuy nhiên, khái niệm
về trường và lý thuyết về trường ngữ nghĩa chỉ thực sự được nghiên cứu từ những năm 20 và 30 của thế kỷ XX, gắn liền với tên tuổi của các nhà ngôn
Trang 21ngữ học như: W Humboldt và F de Saussure, A Jolles (1943), G Ipsen (1924), J Trier (1934), W Porzig (1934),v.v
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu đã vận dụng lý thuyết về trường của các tác giả nước ngoài để hình thành nên quan niệm của mình về lý thuyết trường từ
vựng Qua thực tế nghiên cứu, tác giả nhận xét: “Các quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ được hiện ra khi đặt được các từ (nói cho đúng ra là các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống
về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng” [3, tr.47]
Từ đó, Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi
là một trường nghĩa Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [3, tr.48] Như vậy, có thể thấy Đỗ Hữu Châu đã phân lập trường
nghĩa dựa trên ý nghĩa của từ
1.1.2.2 Phân loại trường nghĩa
Tác giả Đỗ Hữu Châu phân chia trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa ngang (trường tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến)
Trường nghĩa dọc bao gồm trường biểu vật và trường biểu niệm
Trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật Để
xác lập trường nghĩa biểu vật, chúng ta chọn một danh từ rồi tìm tất cả các từ ngữ đồng nhất về phạm vi biểu vật do danh từ gốc biểu thị
Ví dụ: Chọn danh từ thực vật làm gốc, ta có thể xác lập được trường nghĩa
biểu vật theo các miền như sau:
◦ Thực vật nói chung xét về loài: loài thân cứng, loài thân mềm, loài rễ thẳng, loài rễ chùm,v.v
◦ Bộ phận của thực vật: rễ, cành, lá, thân, củ, quả,v.v
◦ Đặc điểm về tính chất: cứng, mềm, chua, ngọt, chát, cay, đắng,v.v
Trang 22Số lượng các từ ngữ nằm trong trường trên còn rất nhiều Từ trường lớn này ta có thể phân chia thành những trường nhỏ hơn Quan hệ của những từ ngữ đối với một trường biểu vật không giống nhau Có những từ gắn rất chặt với trường, chỉ có thể nằm trong một trường Có những từ gắn bó lỏng lẻo hơn, vì thế có khả năng đi vào nhiều trường biểu vật khác nhau
Trường biểu niệm là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm Để
xác lập một cấu trúc biểu niệm chung đó, chúng ta dựa vào một cấu trúc nghĩa biểu niệm làm gốc trong nghĩa biểu niệm
Ví dụ: Từ nét nghĩa (hoạt động tác động đến X) … (làm cho X có trạng thái Y) ta xác định được một trường biểu niệm với các từ như: rung, lay, lắc, hãm, xô, đẩy, bẩy, lao, khởi động, phát động, đánh thức, co, dãn, căng, mở, chia cắt,v.v Đây là một trường lớn, căn cứ vào X mà ta có thể chia thành
những trường nhỏ như:
◦ Làm cho X động hoặc tĩnh: rung, phát động,v.v
◦ Làm cho X có những biến đổi trong bản thân: mở, căng, chia, cắt,v.v
Trong mỗi trường biểu niệm có một hoặc một số từ điển hình Đó là những từ chỉ đi vào một cấu trúc biểu niệm duy nhất Cũng có một số từ có khả năng đi vào nhiều cấu trúc biểu niệm, chúng thuộc nhiều trường biểu niệm khác nhau Cũng như trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau Chính nhờ các trường cũng như sự định vị từng từ vào trong các trường thích hợp mà chúng ta hiểu biết sâu sắc thêm ý nghĩa của từ
Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)
Khi muốn xác lập một trường nghĩa ngang, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả các từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm
từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Ví dụ, trường tuyến tính của từ mắt
là nâu, đen, xanh,v.v hay to, nhỏ, híp, bồ câu,v.v
Trang 23Phân tích ý nghĩa của các từ trong trường tuyến tính, chúng ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó
Vận dụng lý thuyết về trường nghĩa, tác giả Đỗ Hữu Châu nêu rõ: “Muốn xác lập các đơn vị đồng nghĩa của một trường, cần phải chú ý đến số lượng các nghĩa vị đồng nhất trong một trường, cần phải chú ý đến số lượng các nghĩa vị đồng nhất và tính chất các nghĩa vị đó Các đơn vị trong cùng một trường ngữ nghĩa có số lượng nghĩa vị đồng nhất càng lớn thì càng đồng nghĩa Về tính chất, có thể có các nghĩa vị khái quát, có thể có các nghĩa vị loại biệt Các đơn vị từ vựng trong một trường ngữ nghĩa càng trùng nhau về nghĩa vị loại biệt thì càng dễ đồng nghĩa” [4, tr.50]
Bên cạnh ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận của trường, lý thuyết trường
có một số hạn chế nhất định Do từ vựng của mỗi ngôn ngữ là một hệ thống
mở rất đa dạng và phức tạp, rất khó để xác định các tiêu chí, nên khả năng phân trường một cách chi tiết cho toàn bộ vốn từ vựng hầu như là một điều không tưởng [14] Chúng ta chỉ có thể áp dụng lý thuyết này cho một số nhóm nhất định, có chung một vài nét nghĩa khái quát
1.1.3 Hiện tượng đồng nghĩa
Hiện tượng đồng nghĩa là một vấn đề thú vị và quan trọng Trên thế giới,
các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu vấn đề này từ lâu Theo Đại từ điển Bách khoa Xô Viết, thuật ngữ chỉ hiện tượng đồng nghĩa có nguồn gốc từ
tiếng Hi Lạp: synònymia có nghĩa là “cùng tên”, chỉ quan hệ giữa hai biểu
thức đẳng nghĩa nhưng không đồng nhất Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính tương ứng, hoặc là cùng một biểu vật (denotat) (sự kiện, khách
thể,v.v.), hoặc là cùng một biểu hiện (signifikat) [35] Trong tiếng Anh, hiện
tượng đồng nghĩa được viết dưới dạng Synonymy
1.1.3.1 Phân biệt hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ
Trang 24a) Hiện tượng đồng nghĩa
Theo Nguyễn Đức Tồn, đồng nghĩa là một trong những khái niệm có tính
nền tảng không chỉ của ngôn ngữ học, mà còn của logic học, ngữ nghĩa logic
và của kí hiệu học Như chúng ta đã biết, trong ngôn ngữ học, chủ yếu các nhà nghiên cứu chỉ nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa biểu niệm Người ta thường nói đến hiện tượng đồng nghĩa khi những cái được biểu hiện tương
ứng khá gần gũi với các khái niệm từ đồng nghĩa hay từ gần nghĩa
Hiện tượng đồng nghĩa trong ngôn ngữ, như các nhà nghiên cứu đã nêu, có thể là hiện tượng đồng nghĩa từ vựng, hoặc hiện tượng đồng nghĩa ngữ pháp Theo Nguyễn Đức Tồn, hiện tượng đồng nghĩa có nội dung rất rộng Ví dụ,
hiện tượng đồng nghĩa xảy ra ở các hình vị: vô – bất – phi, đơn vị từ vựng: mẹ
- má – u – bầm…, giữa các kết cấu cú pháp: Nam thông minh hơn Ba – Ba không thông minh bằng Nam
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng hiện tượng đồng nghĩa có mặt trong hệ thống ngôn ngữ (hiện tượng đồng nghĩa từ vựng) và trong các văn bản (hiện tượng đồng nghĩa lời nói) Ở cả hai khu vực trên có thể có những từ và ngữ cố định đồng nghĩa, có thể có cả những từ và cụm từ tự do đồng nghĩa và cả những câu đồng nghĩa
b) Đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa
Các đơn vị từ vựng đồng nghĩa, theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, bao gồm các từ và các ngữ cố định có chức năng tương đương với từ (chẳng hạn như
hoa hồng, sân bay, cà chua, quần áo,v.v.) có quan hệ đồng nghĩa với nhau
Do đó, hiện tượng đồng nghĩa có thể xảy ra giữa các đơn vị là từ, ví dụ: ăn – xơi, bố - cha, tìm – kiếm, ác – mặt trời,v.v hoặc giữa các ngữ cố định: chuột gặm chân mèo – vuốt râu hùm, mèo mù vớ cá rán – chuột sa chĩnh gạo,v.v
Ngoài ra, hiện tượng đồng nghĩa còn xẩy ra giữa một từ và một ngữ cố định:
đen – đen như cột nhà cháy, xấu – xấu như ma,v.v
Trang 25Từ những ví dụ trên, có thể thấy, từ đồng nghĩa chỉ là trường hợp riêng và cũng là trường hợp quan trọng nhất nằm trong cái được gọi là đơn vị từ vựng đồng nghĩa (phân biệt với đơn vị ngữ pháp đồng nghĩa) và tất cả đều nằm trong hiện tượng đồng nghĩa của ngôn ngữ [35, tr 70]
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ xem xét hiện tượng đồng nghĩa ngôn ngữ (là sản phẩm sáng tạo của toàn thể cộng đồng và chúng có thể đồng nghĩa ngay cả khi nằm ngoài ngữ cảnh sử dụng), bỏ qua các từ đồng nghĩa lời nói (là những từ đồng nghĩa ngữ cảnh – chỉ đồng nghĩa khi nằm trong ngữ cảnh
sử dụng)
1.1.3.2 Một số quan niệm về từ đồng nghĩa
a) Quan niệm về từ đồng nghĩa của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Việc nghiên cứu các từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ học đã có từ lâu đời, công việc này được bắt đầu bởi người Hi Lạp cổ đại
Vào thế kỷ XVIII, các nhà khoa học đã xác định được bản chất của từ
đồng nghĩa Ở Pháp, các tác phẩm về từ đồng nghĩa là: Tính chính xác của tiếng Pháp, hay là ý khác nhau của các từ có thể là các từ đồng nghĩa của Gira xuất bản năm 1718, Đại từ điển đồng nghĩa (linh mục Rubo),v.v Các tác
giả đã tập hợp các từ đồng nghĩa (hoàn toàn hoặc gần nghĩa) rồi giải thích nghĩa từ trung tâm và các từ trong nhóm
Tại nước Anh, các cuốn từ điển về từ đồng nghĩa đã được xuất bản: Từ điển từ đồng nghĩa và cụm từ đồng nghĩa Anh (A dictionary of English Synonyms and Synonymous expression) của R Soule (1938), Từ điển từ đồng nghĩa (Dictionary ò Synonyms) của Webster (xuất bản ở Mỹ 1951),v.v tập
hợp các từ đồng nghĩa thành các nhóm và nêu rõ sự khác nhau về ngữ nghĩa, cách sử dụng, phong cách của các từ, đồng thời chỉ ra sự giống nhau về ý nghĩa của các từ trong nhóm Các nhóm từ đồng nghĩa trong các cuốn từ điển trên được tập hợp theo tiêu chí đồng nghĩa hoàn toàn và gần nghĩa với nhau
Trang 26Ở nước Nga, vào đầu thế kỷ XIX cuốn Từ điển Nga Slavo và tường giải các tên gọi đánh dấu sự thử nghiệm đầu tiên của việc nghiên cứu từ đồng
nghĩa Sau đó, nhiều cuốn sách và bài báo về từ đồng nghĩa và từ điển đồng nghĩa ra đời Trong các công trình nghiên cứu đó, phải kể đến bài viết của I.I
Đavưđốp với nhan đề Về từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga Tác giả định nghĩa các từ đồng nghĩa là các từ “trong khi giống nhau như anh em thì từ này còn khác biệt với từ kia bởi đặc điểm nào đó… Các từ đồng nghĩa không phải là các từ có sự bình đẳng, đồng nhất về phương diện ý nghĩa của chúng” (dẫn
theo [35, tr.35]) Bước sang thế kỷ XX, các nhà ngôn ngữ học Nga đặc biệt
quan tâm đến vấn đề từ đồng nghĩa với các cuốn sách được xuất bản như: Từ đồng nghĩa tiếng Nga (1953) của V.K.Favôrin, Khảo luận về phong cách học tiếng Nga của A.N.Grôzdep, Một số vấn đề lý thuyết từ đồng nghĩa của A.B.Sapir, Từ điển đồng nghĩa tiếng Nga (1975) của Z.E.Alếch Sanđrôva,v.v Theo “Đại từ điển bách khoa Xô Viết”, tập 23 (dẫn theo [35]), thuật ngữ hiện tượng đồng nghĩa được biểu thị bằng tiếng Anh là Synonymy Thuật ngữ
này có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp là synònymia, nghĩa là “cùng tên”, chỉ quan
hệ giữa hai biểu thức đẳng nghĩa nhưng không đồng nhất Tính đẳng nghĩa được hiểu là tính tương ứng hoặc là với cùng một biểu vật (hiện tượng đồng nghĩa biểu vật) hoặc với cùng một biểu niệm (hiện tượng đồng nghĩa biểu niệm)
Hai tác giả người Nga A.D Grigôreva và V.M Grigôrian quan niệm rằng: Những từ nào có ý nghĩa đồng nhất tuyệt đối với nhau mới được coi là những
từ đồng nghĩa Vì vậy, hai tác giả khẳng định: “Theo quan điểm của chúng tôi, chỉ có sự đồng nhất về ý nghĩa chứ không phải tính gần gũi về ý nghĩa như một số người giả định, mới cho phép các từ là những từ đồng nghĩa Sự
tô điểm thêm những cảm xúc khác nhau (thô bỉ, đề cao, hạ thấp…) cho các từ đồng nhất ý nghĩa, đặc điểm – phong cách chức năng của chúng,v.v những đặc điểm hình thái – ngữ pháp đặc thù cho mỗi từ trong chúng không hề cản
Trang 27trở việc thừa nhận các hiện tượng là đồng nghĩa khi có sự đồng nhất ý nghĩa”
và lời nói, cho nên nó sẽ bất lực trước tình hình là có những đơn vị thực sự đồng nghĩa lại không thay thế được cho nhau, trái lại có những đơn vị tưởng như không đồng nghĩa lại có thể thay thế lẫn nhau trong ngữ cảnh nhất định
Nhà nghiên cứu A.N Gvôzđép quan niệm: “Các từ đồng nghĩa là những từ biểu hiện cùng một khái niệm, đồng nhất hoặc gần gũi về ý nghĩa của mình, chúng chỉ khác nhau về sắc thái ý nghĩa, hoặc về sắc thái phong cách (và phạm
vi sử dụng) hoặc là đồng thời cả hai đặc trưng nêu trên” A.B Sapir cũng đồng
quan điểm với nhà nghiên cứu A.N Gvôzđép (dẫn theo [35, tr 78])
Các nhà ngôn ngữ học Nga là Iu.S Stepanốp, A.A Reformatsky cho rằng,
để nhận diện từ đồng nghĩa thì chỉ cần dựa vào sự vật, hành động, tính chất… trong thực tế khách quan mà từ biểu thị Hai tác giả này nhất trí với quan
điểm: “Hai từ đồng nghĩa gọi tên cùng một sự vật ấy nhưng lại ứng nó với những khái niệm khác nhau và do đó thông qua tên gọi làm bộc lộ ra những thuộc tính khác nhau của sự vật này” [34, tr.79]
R.A Buđalốp quan niệm: “Từ đồng nghĩa là những từ gần gũi nhau về ý nghĩa nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm”
(dẫn theo [35]) Ông không đồng ý với quan điểm xác định các từ đồng nghĩa chỉ dựa vào sự vật, hành động, tính chất,v.v trong thực tế khách quan mà từ
Trang 28Các nhà nghiên cứu B.N Gôlôvin và O.S Akhmanôva đã đưa ra định nghĩa: Từ đồng nghĩa là những từ có ý nghĩa giống nhau (dẫn theo [35]) Định nghĩa này đã bị phê phán kịch liệt, vì những quan niệm này hạn chế ở chỗ, hầu hết các từ là nhiều nghĩa và các từ nhiều nghĩa chỉ đồng nghĩa với nhau ở một hay một số nghĩa nào đó Ngoài ra, định nghĩa này không phân chia ra ý nghĩa đó là nghĩa biểu vật hay nghĩa biểu niệm, đồng thời mới chỉ đề cập đến mặt nội dung mà chưa quan tâm đến hình thức của các từ đồng nghĩa
Nhằm khắc phục hạn chế của các định nghĩa trên, trong cuốn Giáo trình từ vựng học tiếng Anh hiện đại (NXB ĐH Matxơva, 1996, tr.78), các tác giả phối hợp các quan điểm trên lại thành định nghĩa: “Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về hình thức âm thanh nhưng giống nhau về ý nghĩa biểu thị hay nghĩa diễn đạt và có thể thay thế cho nhau ít nhất trong một số ngữ cảnh”
(dẫn theo [34]) Mặc dù vậy, sự phối hợp trên vẫn chưa đặt hiện tượng đồng nghĩa vào cả hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa của một ngôn ngữ để xem xét, mà vẫn nhìn nhận chúng một cách cô lập
Tóm lại, khái niệm cổ điển về từ đồng nghĩa được xác định khác nhau,
thường theo hai cách hiểu: thứ nhất, Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hay gần giống nhau; thứ hai, Từ đồng nghĩa là những từ thay thế được cho nhau trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa chung của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản Sự bất đồng đó là do kết cấu đa dạng, phức
tạp của từ gây nên Một từ không phải bao giờ cũng chỉ có một nghĩa, mà trong nhiều trường hợp, một từ có nhiều nghĩa khác nhau
b) Quan niệm về từ đồng nghĩa của các nhà nghiên cứu Việt Nam
Tiếng Việt là ngôn ngữ rất phong phú về hiện tượng đồng nghĩa Bên cạnh
sự phong phú về số lượng, các từ đồng nghĩa trong tiếng Việt có giá trị và hiệu quả biểu đạt cao
Trong Việt ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng khá quan tâm đến vấn đề từ đồng nghĩa Bàn về hiện tượng đồng nghĩa, có thể kể đến những công trình
Trang 29nổi bật sau: Khái luận ngôn ngữ học của Tổ ngôn ngữ Đại học Tổng hợp Hà Nội, NXB Giáo dục, 1961; các công trình của Đỗ Hữu Châu như: Giáo trình Việt ngữ, tập II, Từ hội học (NXB Giáo dục, H.1962), Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa trái nghĩa (TC NN, số 4,1973), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt (NXB Giáo dục, H 1981), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (NXB ĐH & THCN, H 1987),v.v.; giáo trình Từ vựng học tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp; Nguyễn Văn Tu với Từ vựng học tiếng Việt hiện đại (NXB Giáo dục,
H 1968), Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt (NXB ĐH & THCN, H.1985), Các nhóm từ đồng nghĩa tiếng Việt (NXB ĐH & THCN, H.1982); Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến (NXB ĐH & THCN, H 1990); Từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn
● Quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tập II, Từ hội học lần đầu tiên đưa ra khái niệm chung về từ đồng nghĩa: “Trong vốn từ hội của bất cứ một ngôn ngữ nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng nghĩa lại giống nhau, do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể có thể thay thế cho nhau được Những từ này là từ đồng nghĩa” [1, tr.63]
Sau khi nghiên cứu sâu hơn về từ đồng nghĩa, năm 1981, ông đưa ra quan
niệm về từ đồng nghĩa như sau: “Từ đồng nghĩa là những từ thay thế được cho nhau trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa chung về ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản” [6, tr.191] Mặc dù vậy, theo đánh giá của các nhà
Trang 30không phải tất cả các từ đồng nghĩa đều có thể thay thế được cho nhau trong cùng một ngữ cảnh Thứ hai, có những từ thay thế được cho nhau trong cùng một ngữ cảnh mà ý nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi nhưng chúng không
Đó là quan hệ giữa các từ có chung ít nhất là một nét nghĩa
Do chỗ các từ có chung nét nghĩa đồng nhất đều đã được đưa về từng trường nghĩa dọc cho nên hiện tượng đồng nghĩa chỉ xuất hiện trong từng trường một Từ đó có thể suy ra rằng:
(a) Các từ chỉ đồng nghĩa với nhau khi đã thuộc cùng một trường nghĩa Điều kiện tiên quyết để phát hiện ra các đơn vị đồng nghĩa là dựng lên được các trường nghĩa Một số từ có nhiều nghĩa biểu vật hay biểu niệm tức là một
từ có thể thuộc nhiều trường nghĩa, do đó có thể đồng nghĩa với nhiều nhóm
từ khác nhau Các nhóm từ khác nhau đồng nghĩa với một từ nhiều nghĩa là những nhóm từ ở các trường nghĩa khác nhau
(b) Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các
từ chỉ có chung một nét nghĩa đồng nhất Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì các từ càng đồng nghĩa với nhau Mức độ đồng nghĩa cao nhất xẩy ra khi các từ đó có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc một vài nét nghĩa cụ thể nào đó
Theo ý kiến của chúng tôi thì quan niệm về từ đồng nghĩa trên khá rộng
● Tác giả Nguyễn Văn Tu trong công trình nghiên cứu “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” (1968) đã đưa ra quan niệm của mình về từ đồng nghĩa như sau: “Những từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau Đó là nhiều từ
Trang 31khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng Những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh” [43, tr.95] Theo chúng tôi, cách định nghĩa này của
tác giả là chưa thật đầy đủ, bởi vì tác giả chỉ mới dựa vào ý nghĩa biểu vật mà chưa chú ý tới thành phần biểu niệm của từ Trong thực tế, trường hợp những
từ đồng nghĩa biểu hiện những khái niệm trừu tượng lại chiếm số nhiều Định nghĩa trên chỉ thuần túy ở phương diện lý thuyết mà thôi
Năm 1985, trong cuốn Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, ông đã đưa ra một cách hiểu khác về từ đồng nghĩa: “Thực ra, những từ đồng nghĩa là những từ của một thứ tiếng có nghĩa biểu đạt (chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất…) giống nhau hoặc gần giống nhau, có thể thay thế cho nhau trong một
số ngữ cảnh nhất định, nhưng có khác nhau về sắc thái tình cảm, về giá trị gợi cảm, về phong cách, về phạm vi sử dụng,… Đó là những từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng Những từ này có điểm chung về chức năng định danh Nói rộng ra, những từ đồng nghĩa là những từ cùng chỉ một khái niệm” [44, tr 14] Với quan điểm trên, tác giả Nguyễn Văn Tu đã nêu cụ thể
và mở rộng hơn về khái niệm từ đồng nghĩa
Ngoài ra, Nguyễn Văn Tu cũng đi đến kết luận: những từ đồng nghĩa hoàn toàn (tuyệt đối) là rất hiếm Vì những từ đồng nghĩa biểu thị một sự vật, một khái niệm nhưng chúng có những điểm khác nhau về sắc thái Ví dụ: Nhóm
mẹ, u, má cũng là những tên khác nhau chỉ một người nhưng mẹ là tên chỉ chung, u là tên để xưng hô giữa mẹ và con ở vùng nông thôn Bắc Bộ, má là từ
chỉ người mẹ ở Nam Bộ
● Quan điểm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp
Nguyễn Thiện Giáp dựa trên định nghĩa của P.A Buđagôp để đưa ra quan
niệm về từ đồng nghĩa của mình như sau: “Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến
Trang 32Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho rằng từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm” [9, tr.222] Quan niệm của tác giả khá đơn giản, mới chỉ đề cập đến loại
từ đồng nghĩa biểu niệm mà chưa nói đến loại từ đồng nghĩa biểu vật
● Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến, Vũ Đức Nghiệu trong
cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt đã quan niệm về từ đồng nghĩa như sau: “Từ đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về
âm thanh và có phân biệt với nhau về một sắc thái phong cách … nào đó, hoặc đồng thời cả hai”[8, tr 232] Quan niệm này cũng tương tự với quan
niệm của Nguyễn Thiện Giáp
Quan điểm của Nguyễn Trung Thuần trong bài báo Thử tìm hiểu từ trung tâm trong nhóm đồng nghĩa cho rằng: “Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về vỏ ngữ âm nhưng giống nhau về nghĩa (biểu thị hay diễn đạt) và có thể thay thế cho nhau trong những ngữ cảnh tiêu biểu mà nội dung thông báo vốn được giữ nguyên”[32, tr.59]
● Quan điểm của Nguyễn Đức Tồn
Tác giả định nghĩa về từ đồng nghĩa dựa trên cả hai thành phần nghĩa biểu
vật và nghĩa biểu niệm: “Hai đơn vị từ vựng/ từ được gọi là đồng nghĩa khi chúng có vỏ ngữ âm khác nhau biểu thị các biểu vật hoặc/ và các biểu niệm giống nhau và:
a/ Nếu chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B” và đảo lại: “B
là A”mà không cần phải chỉnh lý bằng cách thêm bớt nét nghĩa gì vào một trong hai đơn vị/ từ thì đó là những đơn vị từ vựng/ từ cùng nghĩa
b/ Nếu như để chúng có thể xuất hiện được trong các kết cấu “A là B” và đảo ngược lại được “B là A” cần có sự chỉnh lí, thêm nét nghĩa nào đó vào một trong hai đơn vị từ thì đó là những đơn vị từ vựng/ từ gần nghĩa” [35, tr.96]
Với định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy các từ đồng nghĩa trước hết phải là những từ cùng thuộc một hệ thống từ loại; trong ý nghĩa của chúng có chứa
Trang 33những nét nghĩa đồng nhất, còn các nét nghĩa khác nhau của các ý nghĩa này
bị trung hòa hóa trong những ngữ cảnh nhất định; một số từ cực kỳ gần gũi đến mức đồng nhất về ý nghĩa được gọi là những từ đồng nghĩa tuyệt đối, còn lại là những từ gần nghĩa
Nguyễn Đức Tồn cho rằng: các từ đồng nghĩa trung tính về phong cách,
khác biệt nhau về sắc thái của ý nghĩa cơ bản được gọi là các từ các từ đồng nghĩa ý niệm; còn các từ đồng nhất về ý nghĩa và khác nhau về phong cách được gọi là các từ đồng nghĩa phong cách [35, tr.147 - 160]
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về từ đồng nghĩa của Nguyễn Đức Tồn, vì định nghĩa trên chú ý đến quan hệ giống nhau của các sự vật, khái niệm mà chúng biểu thị, mức độ giống nhau về nghĩa của chúng, đồng thời ông cũng nêu lên được cách thức nhận diện các từ đồng nghĩa
1.1.3.3 Phân loại từ đồng nghĩa
Tác giả Nguyễn Đức Tồn đã tiếp thu những mặt tích cực trong cách phân chia của Đỗ Hữu Châu và các tác giả đi trước để đưa ra quan điểm của mình Ông đã khái quát từ đồng nghĩa ngôn ngữ thành các từ cùng nghĩa và các từ gần nghĩa Trong đó, từ cùng nghĩa hay đồng nghĩa tuyệt đối được hiểu là những từ hoàn toàn giống nhau về nội dung nghĩa cơ bản và cả về các sắc thái nghĩa Và trong ngôn ngữ, hiện tượng đồng nghĩa tuyệt đối như vậy là rất hiếm, nó được xem là “một sự xa xỉ mà ngôn ngữ không thể có” [45]
Các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến các từ “đồng nghĩa tương
đối”, hay còn gọi là từ gần nghĩa Đó là những từ có nghĩa cơ bản giống nhau,
nhưng có thể khác nhau ở một vài nét nghĩa phụ, hoặc về sắc thái biểu cảm (từ thân mật hay từ mỉa mai, hoặc từ trang trọng, từ “trung tính”, v.v.), hoặc khác nhau về phong cách (từ dùng trong văn chương, từ dùng trong khẩu ngữ hay từ dùng trong văn bản hành chính, v.v.)
Tác giả Nguyễn Đức Tồn trong cuốn sách “Từ đồng nghĩa tiếng Việt” đã
Trang 34a/ Các từ đồng nghĩa ý niệm: là các từ đồng nghĩa trung tính về phong cách, khác biệt nhau về sắc thái của ý nghĩa cơ bản, chung cho mỗi từ
Các từ đồng nghĩa ý niệm là những từ mà không bị hạn chế về phong cách,
chúng được sử dụng trong bất kỳ phong cách nào Ví dụ: đừng – chớ; xinh – đẹp; phù hợp – thích hợp; chân lý – sự thật; dịp – thời cơ – cơ hội; nhiệm vụ - trách nhiệm – nghĩa vụ; v.v
Theo tác giả, các từ đồng nghĩa ý niệm có mặt ở tất cả các từ loại thực từ:
trong hệ thống danh từ, đó là các từ có ý nghĩa trừu tượng như ý định – ý đồ, bổn phận – trách nhiệm,v.v.; ở từ loại động từ là chờ - đợi; trong hệ thống tính từ, các từ đồng nghĩa ý niệm chiếm ưu thế, ví dụ: to – lớn, chật – hẹp; nhỏ - bé,v.v.; ngoài ra, ở các từ loại khác, như đại từ, số từ, số lượng các từ đồng nghĩa ý niệm không nhiều, chẳng hạn: đấy – đó, vừa – mới,v.v
Từ đồng nghĩa ý niệm có vai trò hết sức quan trọng bởi vì chúng là phương tiện biểu hiện chính xác hóa tư tưởng trong từng trường hợp sử dụng ngôn ngữ Nhờ có các sắc thái nghĩa cơ bản riêng ở từng từ đồng nghĩa ý niệm mà việc sử dụng chúng đúng chỗ sẽ giúp cho lời nói của chúng ta không những trở nên tinh
tế, chính xác mà còn rõ ràng, biểu cảm mà ngắn gọn [35, tr 149]
b/ Các từ đồng nghĩa phong cách: là những từ đồng nhất về ý nghĩa của chúng và khác nhau về màu sắc phong cách, chúng chỉ được sử dụng hoặc chủ yếu được sử dụng trong một phong cách ngôn ngữ nào đó – khẩu ngữ
hoặc sách vở Ví dụ: ăn (trung tính), xơi (trang trọng), đớp (thông tục), v.v
Các từ đồng nghĩa phong cách xuất hiện nhiều ở tất cả các từ loại của ngôn ngữ Khác với các từ đồng nghĩa ý niệm, các từ đồng nghĩa phong cách xuất hiện với một số lượng lớn ở các danh từ có ý nghĩa cụ thể Chúng thường có sắc thái biểu cảm rõ ràng hơn so với những từ đồng nghĩa ý niệm
Các từ đồng nghĩa phong cách thường được tách thành hai nhóm Đó là
các từ cổ: từ Việt - từ Hán Việt cổ như ngồi – ngự hay từ Việt – từ vay mượn
Ấn Âu như công nhân – cu li, tĩnh mạch – ven, v.v.; nhóm 2 là các từ đồng
Trang 35nghĩa phong cách của tiếng Việt hiện đại có nguồn gốc chủ yếu từ các từ địa
phương như lợn – heo, xem – coi, hoa – bông, v.v
c/ Các từ đồng nghĩa về ý niệm - phong cách: là những từ và các đơn vị tương đương của chúng biểu thị cùng một khái niệm hoặc cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan và khác nhau không chỉ về màu sắc phong
cách mà còn khác nhau về sắc thái, ý nghĩa chung ở mỗi từ Ví dụ: hát – ca
Theo Nguyễn Đức Tồn, trong ba loại từ đồng nghĩa trên thì từ đồng nghĩa
phong cách là những từ cùng nghĩa, còn hai nhóm từ đồng nghĩa ý niệm và từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách là những từ gần nghĩa
1.1.3.4 Thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa
Để nhận diện các từ đồng nghĩa, các nhà nghiên cứu đã áp dụng nhiều thủ pháp khác nhau, được chúng tôi trình bày dưới đây
a/ Các thủ pháp truyền thống
a.1/ Sử dụng ngữ cảnh để nhận diện từ đồng nghĩa
Theo phương pháp này, khi hai từ có thể thay thế được cho nhau trong ít nhất một hoặc một số ngữ cảnh thì đó là những từ đồng nghĩa Nhưng có một vấn đề là: có những từ thực sự đồng nghĩa nhưng lại không thể thay thế cho nhau trong ngữ cảnh đòi hỏi phải thực hiện hóa nét nghĩa riêng, khu biệt của một từ trong các từ đồng nghĩa Đồng thời cũng có những từ thực ra không đồng nghĩa lại có thể thay thế cho nhau trong những ngữ cảnh nhất định a.2/ Căn cứ vào ý nghĩa để nhận diện từ đồng nghĩa
Các tác giả Iu D Apresian và Z E Alechsanđrôva đã nêu ra thủ pháp
nhận diện từ đồng nghĩa dựa vào ý nghĩa của chúng: “Chỉ những đơn vị từ vựng nào được sử dụng ở ý nghĩa trùng nhau ít nhất trong một kết cấu chung
và có khả năng kết hợp trùng nhau một phần mới có thể được thừa nhận là thay thế được lẫn nhau và do đó là đồng nghĩa” (dẫn theo [16]) Còn Z E Alechsanđrôva trong cuốn Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga thì “cố gắng đưa
Trang 36thay thế giữa từ đầu mục của dãy và từ đồng nghĩa trong ngữ cảnh đồng nhất” (dẫn theo [35])
a.3/ Nhận diện từ đồng nghĩa dựa vào lý thuyết trường nghĩa
Tác giả S G Bêrêian trong Lý thuyết về trường ngữ nghĩa và hiện tượng đồng nghĩa đã viết: “…Việc thừa nhận rằng từ vựng của một ngôn ngữ có thể chia thành một số trường, các trường này tập hợp một số từ dựa vào sự đồng nhất về ngữ nghĩa” (dẫn theo [4]) Sau này, Đỗ Hữu Châu, đã vận dụng lý
thuyết về trường và khắc phục một số thiếu sót của các tác giả đi trước, đã chỉ
ra: “Muốn xác định các đơn vị đồng nghĩa của một trường, cần phải chú ý đến số lượng các nghĩa vị đồng nhất và tính chất các nghĩa vị đó Các đơn vị trong một trường ngữ nghĩa có số lượng nghĩa vị đồng nhất càng lớn thì càng đồng nhất Về tính chất, có thể có các nghĩa vị khái quát (rộng), có thể có các nghĩa vị loại biệt (hẹp) Các đơn vị từ vựng trong một trường ngữ nghĩa càng trùng nhau về nghĩa vị loại biệt thì càng dễ đồng nghĩa” [4]
Đỗ Hữu Châu nêu lên các bước nhận diện từ đồng nghĩa như sau:
- Dựa vào một nghĩa vị khái quát, lập ra các trường ngữ nghĩa
- Phân trường đó thành các trường nhỏ hơn và dựa vào các nghĩa vị kém khái quát hơn (loại biệt hơn)
- Tiếp tục phân như thế cho đến khi không phân được nữa
- Lập bảng liệt kê các nghĩa vị cho các đơn vị đã phân phối rồi so sánh chúng với nhau theo những điều kiện đã nói về số lượng và tính chất các nghĩa vị đã nói ở trên (dẫn theo [4])
b/ Thủ pháp mới: Sử dụng kết cấu đồng nhất để nhận diện từ đồng nghĩa Theo Nguyễn Đức Tồn, để nhận diện các từ đồng nghĩa, có thể sử dụng kết
cấu đồng nhất “A là B” và đảo lại “B là A” Ví dụ: má là mẹ → mẹ là má; địch là giặc → giặc là địch; sân bay là phi trường → phi trường là sân bay, v.v
Trang 37Kết cấu “A là B” và đảo lại “B là A” chính là ngữ cảnh đồng nhất tổng quát nhất, điển hình nhất cho mọi ngữ cảnh đồng nhất khác Hai đơn vị từ vựng nào đó đã xuất hiện được trong hai kết cấu trên thì sẽ đồng nhất và có thể thay thế được cho nhau hầu như trong tất cả mọi ngữ cảnh (trừ ngữ cảnh
đòi hỏi sắc thái tu từ riêng đặc thù) Bởi vì trong tiếng Việt, từ là – một động
từ đặc biệt biểu thị quan hệ giữa phần nêu sự vật, sự việc với phần nêu chính bản thân nó nhìn ở khía cạnh khác, hay nêu đặc trưng của nó hoặc nội dung nhận thức hay giải thích về nó [35]
Thủ pháp này có ưu điểm là dựa vào sự mẫn cảm ngôn ngữ của người bản ngữ, giúp chúng ta có thể nhận ra ngay được mối quan hệ ngữ nghĩa giữa hai đơn vị so sánh, vừa đơn giản, tiện lợi lại dễ áp dụng
Hartmann và R.R.K & James G trong Dictionary of Lexicography chỉ ra
“lexicography” là “hoạt động nghê nghiệp và lĩnh vực hàn lâm liên quan đến các
từ điển và các công trình tra cứu khác Nó gồm có hai phần cơ bản: thực hành từ điển học hay làm từ điển và lý thuyết từ điển học hay nghiên cứu từ điển” [19]
Trang 38Hai công việc nghiên cứu và biên soạn từ điển có tính chất rất khác nhau
Vì vậy nên hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan niệm cho rằng
“từ điển học” được cấu thành từ hai bộ phận: “nghiên cứu từ điển” và “biên soạn từ điển” Sau này để phân biệt rạch ròi, người phương Tây đưa thêm
thuật ngữ metalexicography để chỉ ngành nghiên cứu từ điển học, còn người Pháp thì muốn đưa ra thuật ngữ dictionnairique để muốn chỉ công việc biên
soạn từ điển [33]
Để hiểu thêm về từ điển học, chúng ta cần xem xét vị trí và mối quan hệ
giữa từ điển học và ngôn ngữ học Trong một thời gian dài, người ta cho rằng
từ điển học là một phân ngành của từ vựng học (lexicologie), nằm trong ngôn
ngữ học, vì các nhà nghiên cứu thời đó nghĩ rằng cả từ vựng học và từ điển học đều lấy đối tượng nghiên cứu là từ
Hiện nay, theo Lý Toàn Thắng, có bốn quan điểm chính về vấn đề vị trí của từ điển học, đó là:
- Từ điển học là một bộ phận của từ vựng học
- Từ điển học là một bộ phận của ngôn ngữ học ứng dụng
- Từ điển học là một bộ môn độc lập của ngôn ngữ học, ngang bằng với
từ vựng học và các bộ môn khác
- Từ điển học là một ngành học ngang hàng với ngôn ngữ học và các
ngành khoa học xã hội nhân văn khác
Tác giả Hồ Hải Thụy với bài viết “Từ điển và từ điển học ngày nay” đăng
trên tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư (số 2 – 2009) đã tổng kết về vị trí
của Từ điển học như sau: “Cho đến nay, nhiều người cho rằng quan điểm của Witold Jan Doroszewski (Ba Lan) xem ra có vẻ hợp lý nhất Ông cho rằng từ điển học có tính độc lập tương đối, song cũng không thể phủ nhận quan hệ của nó với ngôn ngữ học và từ vựng học” [33, tr.17]
Quan hệ giữa Từ điển học (TĐH), ngôn ngữ học (NNH) và từ vựng học (TVH) được ông thể hiện bằng hình vẽ sau:
Trang 39Khi tìm hiểu quan điểm này, chúng tôi nhận thấy sự hợp lý của nó và coi đây là một cơ sở lý thuyết cho luận văn
1.2.1.2 Từ điển từ đồng nghĩa
Trong từ điển học, có rất nhiều cách phân loại từ điển mà các nhà loại hình học từ điển áp dụng Nhưng phổ biến nhất là phương pháp lưỡng phân thành
từ điển khái niệm và từ điển ngôn ngữ Trong đó, từ điển khái niệm (bao gồm
từ điển bách khoa và từ điển thuật ngữ) cung cấp các thông tin về sự vật, hiện tượng, còn từ điển ngôn ngữ cung cấp các thông tin về từ ngữ Trong từ điển ngôn ngữ, tùy theo các đặc điểm về cấu trúc vi mô và vĩ mô mà người ta lại chia ra nhiều loại nhỏ [19] Trong số đó, từ điển giải thích được các nhà nghiên cứu hiểu một cách khái quát là loại từ điển có chứa phần giải thích nghĩa từ
Từ điển đồng nghĩa là một tiểu loại của từ điển giải thích Theo Ladislav
Zgusta trong Giáo trình Từ điển học, từ điển đồng nghĩa là “sự giải thích chung về nghĩa của toàn bộ tổ hợp cố định” [45] Tác giả Alice Ferrara nêu lên: “Từ điển đồng nghĩa là một tác phẩm ghi lại những từ ngữ mà người ta
có thể nhầm lẫn, những từ đó chỉ cùng một thứ, hoặc tùy theo ngữ cảnh, có thể được dùng thay thế cho nhau” [48] Đối tượng nghiên cứu của những
cuốn từ điển đồng nghĩa là các từ đồng nghĩa, được các tác giả tập hợp lại theo những nhóm nhất định, trong mỗi nhóm có một từ làm trung tâm
NNH
TVH
TĐH
Trang 40Trên thế giới, vấn đề từ đồng nghĩa cũng như từ điển đồng nghĩa được các nhà nghiên cứu quan tâm từ khá lâu, đã có nhiều công trình về mặt lý luận cũng như hàng trăm cuốn từ điển đồng nghĩa ra đời Các cuốn từ điển đồng
nghĩa đã được biên soạn theo các phương pháp khác nhau Ở Pháp, cuốn Từ điển từ đồng nghĩa cỡ lớn của B Lafaye (1857), Từ điển từ đồng nghĩa (Henri
Benac, 1956), những cuốn từ điển đồng nghĩa của Bally (1947) đều được biên soạn theo phương pháp: tập hợp các từ đồng nghĩa hoàn toàn hoặc từ gần nghĩa rồi giải thích nghĩa từ trung tâm và các từ trong nhóm, đồng thời nêu sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa của chúng Ở Đức, những cuốn từ điển đồng nghĩa của các tác giả như J B Mayer (1841), J Eberhand (1910) và Hoffman (1936), Herbent Gorner und Gunter Kempske (1974) xác định từ đồng nghĩa
theo nguyên tắc sau: “chọn một từ làm từ chính của dãy đồng nghĩa rồi dựa trên cơ sở các nghĩa khác nhau của nó mà đưa ra các từ đồng nghĩa với ý nghĩa của nó” [35, tr.25] Ở Anh cũng có nhiều cuốn từ điển đồng nghĩa được
xuất bản, các soạn giả tập hợp các từ đồng nghĩa thành các nhóm và nêu rõ sự khác nhau về cấu trúc ngữ nghĩa, cách sử dụng và đặc điểm phong cách của chúng, đồng thời chỉ ra sự giống nhau về ý nghĩa của các từ trong mỗi nhóm Nhìn chung, trên thế giới việc biên soạn từ điển từ đồng nghĩa rất được chú ý Phương pháp chủ yếu vẫn là tập hợp các từ đồng nghĩa thành nhóm, có một từ trung tâm rồi cắt nghĩa các từ, chỉ ra nghĩa cơ bản chung và nét nghĩa sắc thái riêng của chúng Từ điển từ đồng nghĩa có mục đích thiết thực, giúp cho người đọc dễ tra cứu và chọn ra những từ thích hợp với yêu cầu sử dụng
Ở Việt Nam, các soạn giả khi biên soạn từ điển đồng nghĩa cũng đưa vào bảng từ các nhóm đồng nghĩa Ở trong phần giải thích, các tác giả thường chú
ý thể hiện cả nét tương đồng và nét khác biệt giữa các từ trong nhóm, kết hợp
từ vựng, kết hợp ngữ pháp
Tóm lại, từ điển đồng nghĩa “đưa ra những chuỗi từ đồng nghĩa, gần đồng nghĩa và, hoặc những nhóm từ có liên quan với nhau về mặt ngữ nghĩa (…)
Từ khóa » Khảo Sát Là Gì Từ điển Tiếng Việt
-
Nghĩa Của Từ Khảo Sát - Từ điển Việt - Tratu Soha
-
Khảo Sát Là Gì? Hiểu Thêm Văn Hóa Việt - Từ điển Tiếng Việt
-
Từ điển Tiếng Việt "khảo Sát" - Là Gì?
-
'khảo Sát' Là Gì?, Từ điển Tiếng Việt
-
Khảo Sát Nghĩa Là Gì? - Từ-điể
-
Từ Khảo Sát Là Gì - Tra Cứu Từ điển Tiếng Việt
-
Khảo Sát - Wiktionary Tiếng Việt
-
Khảo Sát
-
Kết Quả Tìm Kiếm Của 'khảo Sát' : NAVER Từ điển Hàn-Việt
-
Khảo Sát Là Gì
-
Khảo Sát Thực Trạng Từ điển đồng Nghĩa Tiếng Việt Hiện Nay | Kết Nối