Không Có Tiêu đề

Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi giành thắng lợi đã chấm dứt thời kỳ đô hộ tàn bạo của giặc Minh, sáng lập ra triều Hậu Lê đồng thời mở ra một thời kỳ phát triển thịnh vượng của đất nước. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa là tổng hòa của các yếu tố, trong đó, phải kể đến sự hy sinh của những tấm gương sáng ngời mà lịch sử và nhân dân muôn đời ngợi ca, tôn vinh. Một trong số đó là tấm gương hy sinh của bà Phạm Thị Ngọc Trần người vợ đáng trân quý của Bình Định Vương Lê Lợi.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi kéo dài suốt 10 năm (1418 - 1427) giành thắng lợi đã chấm dứt thời kỳ đô hộ tàn bạo của giặc Minh, sáng lập ra triều Hậu Lê đồng thời mở ra một thời kỳ phát triển thịnh vượng của đất nước. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa là tổng hòa của các yếu tố, trong đó, phải kể đến sự hy sinh của những tấm gương sáng ngời mà lịch sử và nhân dân muôn đời ngợi ca, tôn vinh. Một trong số đó là tấm gương hy sinh của bà Phạm Thị Ngọc Trần người vợ đáng trân quý của Bình Định Vương Lê Lợi. Trong giờ phút gian nan của cuộc khởi nghĩa, hành động tự nguyện quyên sinh của bà là hiện thân cao nhất cho tinh thần, ý chí quyết tâm giành thắng lợi, tất cả vì sự bền vững của non sông đất nước.

Theo các tài liệu lịch sử Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Ngọc Trần là người làng Quần Độ, huyện Lôi Dương (cũng có tài liệu ghi là Cán Lai; Quần Đội), nay là làng Quần Đội, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân. Xã Thọ Diên là vùng đất cổ nằm ven hữu ngạn sông Chu, đây cũng là quê hương của nhiều nhân vật lịch sử như: Nguyễn Nhữ Lãm, Nguyễn Lỗi, Lê Quang Đại, Nguyễn Mậu Tuyên… quê hương của bà còn là nơi ghi dấu nhiều sự tích về Lê Lợi và những người anh hùng đất Lam Sơn. Thân phụ Phạm Hoàng, anh trai Phạm Vận đều tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và sau này được ban Quốc tính (Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi rõ: Tháng 3 năm Đinh Tỵ (1437) Đô Tri tả hữu ban á hầu Lê Vận chết. Truy tặng Trung thư lệnh, Tự hiệu hầu, tên thụy là Huệ Tri. Vận là anh của Cung Từ Hoàng Thái Hậu (trước họ Phạm, được ban Quốc tính là họ Lê).

Theo miêu tả trong “Các vị thần thờ ở xứ Thanh” Thái hậu “là một thục nữ giai nhân, chân quê mà quý phái, sắc sảo mà hiền thục, lời nói nhẹ nhàng, thanh thoát như tơ, đáng là bậc phu nhân, hoàng hậu”. Cũng theo tài liệu trên, mối lương duyên giữa bà và chủ tướng Lam Sơn bắt đầu là một dịp khi “Lê Lợi sang sông, trời đã nhập nhoạng tối, sương thu như một dải màn trắng mỏng, giăng đầy trên mặt sông bãi mía. Thấp thoáng đầu nương dâu, một người con gái đang thoăn thoắt đôi tay hái những lá dâu xanh cho vào lẵng”. Sau dịp gặp gỡ ấy, ông đã dò hỏi thân thế của cô gái và đặt lễ hỏi làm vợ. Sau khi thành thân với Lê Lợi, bà Ngọc Trần đã “lặn lội theo hầu, trải nhiều gian lao nguy hiểm, đói khát phải ăn củ nâu, măng rừng mà dạ vẫn kiên trinh giữ đạo làm tôi, làm vợ”.

Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 -1423) là giai đoạn khó khăn nhất. Lực lượng nghĩa quân mỏng, lương thực thiếu lại phải đương đầu với thế giặc mạnh hơn gấp nhiều lần. Thời điểm này, bà Phạm Thị Ngọc Trần đã thể hiện vai trò quan trọng của mình ở hậu phương. Để có lương thực cung cấp cho nghĩa quân, bà đã vận động nhân dân trong vùng Lam Sơn và Quần Độ (quê cha) tăng gia sản xuất, cùng Phạm Nhữ Lãm vận động phường đánh cá Đa Mỹ (gần Quần Độ) dùng thuyền ngược dòng sông Chu tiếp tế cho nghĩa quân góp phần khắc phục mọi khó khăn thiếu thốn về quân lương, vũ khí, làm cho quân sĩ vững lòng tin, bền ý chí nhờ đó nghĩa quân dần đứng vững, thanh thế ngày càng mạnh.

Tháng 5 năm 1423, sau khi dùng kế giả hàng để hòa hoãn với địch, Lê Lợi rút quân về căn cứ Lam Sơn và ra sức tích trữ lương thực, xây dựng, củng cố lực lượng, trang bị thêm vũ khí. Thời gian này, mặc dù đang có mang nhưng bà Phạm Thi Ngọc Trần vẫn không rời việc chăm lo sản xuất lương thực. Ngày 20 tháng 11 năm 1423 bà sinh hạ Thái tử Nguyên Long (cũng chính là vua Lê Thái Tông – vị minh quân của đất nước sau này).

 Hơn một năm sau, giặc Minh phát hiện ra kế giả hàng của Lê lợi nên đã tập trung toàn bộ lực lượng để chuẩn bị tấn công Lam Sơn. Tháng 10 năm 1424, theo kế hoạch của Nguyễn Chích, Lê Lợi đã lãnh đạo nghĩa quân tiến vào Nghệ An mở rộng địa bàn hoạt động. Bà Ngọc Trần lại bế ẵm con thơ theo Lê Lợi và nghĩa quân lên đường đánh giặc.

Khi đến thành Trào Khẩu ở huyện Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An), gần sông Lam (xưa gọi là sông Thanh Long chảy qua bến Triều Khẩu (Trào Khẩu)) nơi có đền thờ thần Phổ Hộ (Giản Hộ) còn gọi là Thần Quả. Lúc chuẩn bị vượt sông, trời đang nắng bỗng giông tố nổi mù mịt, sông nổi sóng ba đào, quân lính, voi ngựa không thể nào qua được. Lê Lợi cho gọi thổ dân đến hỏi mới biết sông này thờ thần Phổ Hộ, cứ ba năm phải hiến một người con gái cho thần. Do mấy năm nay loạn lạc nên việc cúng tế thần bê trễ. Có người khuyên Lê Lợi bắt một người con gái hiến thần. Lê Lợi nói: “Ta dựng cờ khởi nghĩa vì dân, nhiều năm nay, giặc Minh đã giết người cướp của gây bao tai ương, tang tóc, há lại bắt thêm một người dân vô tội nữa chết hay sao?”. Nói rồi hạ lệnh cho quân hạ trại bên bờ sông đợi tìm kế khác.

Ban đêm Thần hiển linh xin một người thiếp và hứa sẽ phù hộ giúp đánh giặc. Sáng hôm sau Lê Lợi gọi các bà vợ đến kể lại chuyện và hỏi ai chịu làm vợ  thần, sau này khi ta lấy được thiên hạ sẽ lập con người đó làm thiên tử. Các bà không ai nói gì chỉ có Phạm Thị Ngọc Trần tình nguyện hiến thân. Bà quỳ xuống mà tâu rằng: “Nếu vì nghiệp lớn của Minh công thì thần thiếp tự nguyện xả thân, ngày sau mong Minh công giữ lời hứa, chớ phụ con thiếp”. Nhà vua khen ngợi, thương cảm, hứa với các bà và bề tôi sau này xin làm đúng hẹn. Bà Ngọc Trần gạt nước mắt trao con mới lên 3 tuổi cho người hầu bế ẵm và làm lễ quyên sinh, gieo mình xuống sông làm vật tế thần. Đó là ngày 24 tháng 3 năm Ất Tỵ  (1425).

Sau khi bà Ngọc Trần tự nguyện hy sinh tính mạng để hiến tế cho thần quả nhiên nghĩa quân đánh đâu thắng đó. Chỉ trong thời gian ngắn đã giải phóng hoàn toàn vùng đất từ Nghệ An đến Thuận Hóa làm bàn đạp tiến ra Đông Đô.

Sau khi đất nước sạch bóng quân thù, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế đã sai người ở động Nhân Trầm là Lê Cố rước quan tài về táng ở Thanh Hóa. Khi đến xã Thịnh Mỹ thì trời tối, chưa kịp sang sông nên nghỉ lại. Hôm sau, chỗ để quan tài mối đùn lên thành mộ. Lê Cố thấy sự lạ về tâu Vua. Vua sắc dụ cứ giữ nguyên nấm mộ đó mà xây lăng đặt tên là Ngọc Nhĩ lăng và dựng điện Hiến Nhân để thờ phụng. (Cũng có tài liệu ghi bà được táng tại Ngọc Nhĩ lăng và điện Hiến Nhân được dựng ngay sau khi bà quyên sinh và được đưa về quê để táng). Tháng 8 năm 1749 thời vua Lê Hiển Tông xảy ra một trận lụt lớn. Mộ và đền thờ bà bị lũ cuốn trôi đến địa giới thôn Lãng Động thượng, huyện Lôi Dương (nay là làng Thượng Vôi, xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân) được nhân dân nơi đây an táng và lập đền thờ phụng.

Giữ đúng lời hứa với người vợ can đảm, giàu đức hy sinh vì đại nghĩa, con trai bà Phạm Thị Ngọc Trần là Nguyên Long đã được sắc phong làm Lương Quận Công (năm 1428) rồi được lập làm Thái tử năm 1432. Năm 1433 Thái tử Nguyên Long lên ngôi, nối nghiệp đức Thái tổ Cao Hoàng Đế phục dựng đất nước, đặt nền móng vững chắc cho một triều đại và nền độc lập, phồn vinh cho quốc gia Đại Việt thế kỷ XV. Sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tông đã sai quan quan Hữu bộc xạ Lê Nhữ Lãm đến Lam Kinh dựng miếu thờ Cung từ Thái Mẫu để đời đời hương khói.

Những cống hiến và hy sinh của bà được người đời sau vinh phong là Cung Từ Hoàng Thái Hậu (năm 1423); Cung Từ Quốc Thái Mẫu (năm 1434); Cung Từ Quang mục Thái Quốc Mẫu (1437). Cùng với những vinh phong đó, để tỏ lòng tôn kính năm 1435 vì kiêng tên húy của Cung từ nên nhà vua còn hạ lệnh đổi họ Trần thành họ Trình.

Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Ngọc Trần được thờ ở Thái miếu Thăng Long và Lam Kinh. Năm Gia Long thứ 4 (1805), một phần của hai kiến trúc trên chuyển về Kiều Đại (nay là phường Đông Vệ, Tp.Thanh Hóa) hợp thành Thái miếu nhà Lê. Ở Làng Thượng Vôi (Xuân Hòa, Thọ Xuân) hiện nay vẫn còn mộ và đền thờ Thái Hậu  với kiến trúc khiêm tốn nhưng đầy thâm nghiêm. Di tích cũng đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh. Hàng năm, ngày 24/3 âm lịch, ngày húy kỵ của bà cũng trở thành ngày lễ hội  của nhân dân quanh vùng.

Thái miếu nhà Hậu Lê, làng Kiều Đại (nay là Quảng Xá), phường Đông Vệ, TP. Thanh Hóa Nơi thờ các vị Vua và Hoàng Thái hậu của nhà Hậu Lê. (Nguồn: namdulichquocgia2015.gov.vn)

Trước hành động khảng khái đứng ra làm vật hiến tế - hành động kết tinh từ lòng quả cảm của một người phụ nữ đã gây được tiếng vang đối với nhân dân và tạo thành nguồn động lực to lớn khích lệ ba quân tướng sỹ quyết tâm đánh giặc cứu nước.

Việc nhân dân làng Thượng Vôi, xã Xuân Hòa và làng Quần Đội, xã Thọ Diên huyện Thọ Xuân nói riêng và nhân dân trong vùng phụng thờ bà không chỉ thể hiện truyền thống, đạo lý tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta đối với những bậc tiền nhân có công đối với đất nước mà còn thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn vinh đời đời đối với những liệt nữ, những người phụ nữ kiên trinh “không chịu khuất tiết”.

L.T.D

Tài liệu tham khảo:

- Hội Khoa học lịch sử Thanh Hóa – Hội đồng họ Lê Thanh Hóa – UBND xã Xuân Hòa (2015), Tài liệu hội thảo khoa học – Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Ngọc Trần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. - Huyện ủy - HĐND - UBND huyện Thọ Xuân (nhóm tác giả Phạm Tấn – Phạm Tuấn – Hoàng Tuấn Phổ) (2005), Địa chí huyện Thọ Xuân, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. - Lê Văn Viện (2014), Các vua và Hoàng hậu an táng ở Lam Kinh, Nxb Thanh Hóa. - Lê Xuân Kỳ - Hoàng Hùng - Thích Tâm Minh (Biên soạn) (2008), Các vị thần thờ ở xứ Thanh, Nxb Văn học, Hà Nội.

Từ khóa » Hoang Hau Nuoc Lieu