Khổng Minh Thần Toán – VGD

Khổng Minh Thần Toán là một danh tác của Khổng Minh, vị quân sư của Luu Bị đời Tam Quốc, và có thể nói cũng là vị quân sư của mọi triều đại  (về sau, của Trung Hoa).

Tư cách “quân sư của mọi triều đại” ấy dĩ nhiên là do cái sở học thâm ảo  “của Ông về dịch lý Đông Phương, và “Khổng Minh Thần Toán” chính là tác phẩm độc nhất của ông về môn học ấy.

Khổng Minh Thần Toán, trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã vẫn là một thứ Kim Chỉ Nam cho mọi tầng lớp người ở  Trung Hoa cũng như ở các quốc gia Á Châu chịu ảnh hưởng của nền văn hóa nước này.

Điều đặc biệt là ngoài giá trị “thần  toán”一giá trị dịch lý-rất đổi linh diệu, “Khổng Minh Thần Toán” còn bao hàm một giá trị Đạo Lý sâu xa, cái giá trị đạo lý của Đông Phương, đúc kết từ Tam giáo.

Chỉ mỗi cái giá trị đạo lý này cũng đã thừa khả năng để đưa người đời vượt qua mọi cảnh huống tối tăm để “tự mình thắp đuốc lên mà đi” tới miền tươi sáng.

Gieo quẻ Khổng Minh Thần Toán là phương pháp gieo quẻ do chính Vạn Đại Quân Sư Gia Cát Lượng “Trên thông thiên văn dưới tường địa lý, thấu rõ âm dương, hô phong hoán vũ” làm ra.

Mỗi quẻ Không Minh Thần Toán ẩn chứa bên trong tất cả sự huyền diệu, vì thế muốn xin quẻ cầu tài, cầu công danh, cầu sức khỏe, cầu đi xa bằng an hay cầu học hành thi cử sẽ được linh ứng ngay trong mỗi quẻ mà quý bạn xin. Trước khi gieo quẻ quý vị cũng phải thật thành khẩn đốt hương thỉnh nguyện khấn vái thần linh, xin các ngài soi đường chỉ dẫn sở nguyện thì mới có được quẻ linh nghiệm. Chúc quý bạn xin được quẻ tốt biết việc mình làm.

Quẻ Khổng Minh Thần Toán Thiên Địa Vô Ngôn Xin Cảm Nhận Tâm Thành Để Soi Sáng Nẻo Kiết Hung Xin Quí Vị Rửa Tay Rửa Mặt Sạch Sẽ Thành Tâm Khấn Nguyện Điều Muốn Xin Và Chọn Vòng Tròn Lưỡng Nghi Để Gieo Quẻ

Nguồn: http://XemTuong.netVui lòng không xóa link nguồn!

* Tính năng:– Xin quẻ Khổng Minh Thần Toán– Ý nghĩa quẻ, luận giảiQUẺ CHẤN TỐN 2Vạn lý ba đào tịnhNhựt thiên phong nguyệt nhànLợi danh vô cách trởHành lộ xuất trùng quanGIA CÁT KHỔNG MINHmuôn dặm yên sóng giómột cõi trăng nước nhànlợi danh không cách trởđường thẳng lối trùng quanLỜI BÀN :Quẽ đại kiết.Nguời chiếm được quẻ này đang ở trong một hoàn cảnh vô cùng thong dong thuận lợi, cả về việc bên trong (gia đình) lẫn việc bên ngoài (kinh doanh, chính trị …).Sau những tháng ngày nổ lực, bạn-người chiếm quẻ-đang được sống trong cảnh thụ hưởng an nhàn vui với trăng thanh, nước biếc.

Bước đường danh lợi của bạn đều thành đạt, chẳng còn phải bôn ba vất vả gì.

Nhưng, quả tốt dầu đang gặt được , vẫn, nên nhớ gieo nhân lành, để bảo đảm cho mai hậu và tử tôn. Đó là hành động hợp với tôn chỉ của đạo lýphương Đông vậy.

★ Cám ơn bạn đã dành thời gian sử dụng ứng dụng của chúng tôi. Nếu thấy hay đừng quên comment và để lại review tốt, nếu thấy không hay cũng đừng ngần ngại gửi lại review cho chúng tôi để chúng tôi ngày một hoàn thiện ứng dụng hơn nữa.★ Nếu bạn có ý tưởng mới về ứng dụng hoặc có thắc mắc xin hãy gửi ngay mail cho chúng tôi qua mail support: [email protected].

Mọi đóng góp của bạn sẽ giúp ứng dụng của chúng tôi ngày một hoàn thiện hơn. Chân thành cảm ơn.

Thái Cực đồ

Hình Thái cực đồ tạo thành từ bóng nắng
Thái Cực đồ

Có giả thuyết cho rằng hình ảnh của Thái Cực đồ được tạo lập từ quan sát thiên văn thông qua đo bóng nắng mặt trời. Khi cắm một chiếc que thẳng trên mặt đất và đánh dấu tất cả khu vực mà bóng của que quét trong một năm, sẽ có một đồ hình Thái Cực đồ

Có ý kiến cho rằng Thái Cực đồ của Đạo gia cũng như đồ hình chữ Vạn của Phật gia là có chung một nguồn gốc. Đó chính là các biểu tượng của các dạng Thiên Hà khác nhau trong vũ trụ.

Thái Cực đồ thể hiện ý nghĩa của triết học Phương Đông, cụ thể là thuyết Âm Dương rất rõ ràng:

  • Trong mỗi một tổng thể (hình tròn) luôn tồn tại hai mặt đối lập Âm và Dương, hai mặt đó tương hỗ với nhau, bù đắp nhau thành một thể hoàn thiện. Không một tổng thể, cá thể nào có thể tách biệt hoàn toàn hai mặt đó.
  • Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, cũng như trong phần màu trắng có chấm màu đen, và ngược lại.
  • Âm thăng, Dương giáng ngược chiều kim đồng hồ.
  • Âm thịnh, Dương suy và ngược lại. Khi phần màu đen lớn dần thì phần màu trắng nhỏ dần và ngược lại.
  • Cực thịnh thì suy, thể hiện ở mỗi phần khi đạt đến độ cực đại thì xuất hiện yếu tố đối lập ngay trong lòng, và phần đó sẽ phát triển dần.

Vô Cực Đồ

Vô cực đồ gồm các hình ảnh từ một vòng tròn, một Thái cực đồ, một số hình vuông và chữ nhật có màu đối lập, và vòng bát quái

Từ Thái Cực đồ, đến đời Tống, các nhà Tống nho đã ghép thêm tư tưởng về Vô Cực đứng trước Thái Cực, tạo thành Vô cực đồ. Lịch sử đã từng tồn tại nguồn gốc Thái cực và Vô cực biểu tượng trang trí họa tiết trên trống đồng Đông sơn và Ngọc lũ.

Chính giữa mặt trống đồng là hình THÁI CỰC ĐỒ 18 tia hoặc 14 tia. Các học giả Hán nho, Tống nho… Đều không có bản gốc này và họ cứ ngộ nhận nguồn gốc từ thời Phục hy, Văn vương. Văn minh Lạc Việt đã tạo ra Vô cực và Thái cực đồ trên mặt trống đồng thời Văn Lang. Điểm trung tâm trống là vô cực hợp với 18 (14) tia tạo thành đồ hình THÁI CỰC. Vận hành ngược chiều kim đồng hồ giải thích âm dương tiêu trưởng, trăng sao vận hành mà phân định thời gian, không gian đa chiều…

Bát quái đồ

Bát quái có thể hình thành từ 2 nguồn. Đầu tiên là từ triết lý âm dương. Những mối tương quan trong triết lý này được cho là của Phục Hy, như sau:

無極生有極、有極是太極、太極生兩儀、即陰陽;兩儀生四象: 即少陰、太陰、少陽、太陽、四象演八卦、八八六十四卦Vô cực sanh hữu cực, hữu cực thị thái cực;Thái Cực sanh lưỡng nghi, tức âm dương;Lưỡng nghi sanh tứ tượng: tức thiếu âm, thái âm, thiếu dương, thái dương;Tứ tượng diễn bát quái, bát bát lục thập tứ quái.

Nguồn thứ 2 là từ Văn Vương nhà Chu: “Khi thế giới bắt đầu, đã có trời và đất. Trời phối hợp với đất sinh ra tất cả mọi thứ trong thế giới. Trời là quẻ Càn và đất là Khôn. Sáu quẻ còn lại là con trai và con gái của họ.”

Bát quái có liên quan đến ngũ hành, được các nhà phong thủy và y học cổ truyền Trung Quốc sử dụng. Ngũ hành gồm kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Quái khảm (nước) và quái ly (lửa) tương ứng trực tiếp với hành thủy và hành hỏa. Hành thổ tương ứng với quái Khôn (địa) và Cấn (núi). Hành mộc tương ứng với quái Tốn (gió) và Chấn (sấm). Hành kim tương ứng với quái càn (trời) và đoài (đầm).

Có tất cả tám bát quái (八卦):

Phục Hy xếp trước Văn Vương cho nên Thiệu Ung nói , phương vị Bát quái của Phục Hy là Tiên thiên, còn phương vị Bát quái của Văn Vương là Hậu thiên. Dựa vào hai loại phương vị này để vẽ từng quẻ , đó chính là Tiên thiên đồ và Hậu Thiên đồ. Tiên Thiên đồ: Thiệu Ung là người đời Tống , tiến hành sắp xếp lại phương vị Bát quái . Theo Thiệu Ung loại Bát quái này là do Phục Hy xác định khi ông vẽ Bát quái. Cho nên gọi là “Phương vị Bát quái của Phục Hy”. Thiệu Ung cho rằng “ thiên địa định vị , sơn trạch thông khí , lôi phong tương bạc , thủy hỏa bất tương xạ” (thủy hỏa không chiếu xạ vào nhau). Đây chính là dùng văn tự để biểu thị phương vị Bát quái của Phục Hy, Càn là trời , Khôn là đất, “ trời đất đã định vị” , tức là nói Càn ở hướng nam , Khôn ở phía Bắc. Cũng lí luận như trên , biểu tượng tượng trưng của bát quái là thiên địa phong lôi thủy hỏa sơn trạch , thì “sơn trạch thông khí” chính là Cấn ở phía Tây Bắc , Đoài ở hướng Đông Nam , “phong lôi tương bạc” chính là Chấn ở phía Đông Bắc , còn Tốn ở phía Tây Nam, “thủy hỏa bất tương xạ” thì là Khảm ở hướng Tây, còn Ly ở hướng Đông.

Hậu Thiên đồ: Trong thuyết quái truyện của Dịch truyện Trung Hoa , Chấn ở phía đông , Tốn ở phía đông nam, Ly là quẻ ở phía nam, Càn là quẻ của Tây Bắc ,Khảm là quẻ của hướng chính Bắc , Cấn là quẻ của hướng Đông Bắc, vì vậy nên hai quẻ còn lại , Đoài là giữa mùa thu , ứng với hướng Tây, Khôn đương nhiên chỉ có thể ở hướng Tây Nam. Về phương vị bát quái , nhìn chung đều là do Văn Vương sáng lập nên , cho nên gọi là “Phương vị Bát quái của Văn Vương”.

Tiên Thiên Bát Quái đồ.
Hậu Thiên Bát Quái Đồ

Share this:

  • Facebook
  • X
Like Loading…

Từ khóa » Khổng Minh Thần Toán Là Gì