Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân - Thông Thiên Học

Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lý

HOME TÌM HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN HÌNH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS

BẢN CHẤT CỦA LÒNG SÙNG TÍN

CHƯƠNG HAI MƯƠI

Trích SELF CULTURE

Tác giả I. K. TAIMNI

BẢN CHẤT CỦA LÒNG SÙNG TÍN

CHƯƠNG HAI MƯƠI

Quyển Bhakti Sutras (Cách ngôn về Lòng Sùng Tín) của Ông Narada là một quyển sách nhỏ, gồm có 84 Sutras, hay cách ngôn, nói về những khía cạnh khác nhau của Bhakti hay lòng sùng tín. Mặc dầu đề tài không được xem xét theo một cách có hệ thống và theo một quan điểm thâm sâu, nhưng quyển sách mang lại ánh sáng về nhiều khía cạnh của lòng sùng tín và tổng quát được xem như một quyển sách giáo khoa nói về Bhakti Yoga (Yoga về lòng sùng tín). Chúng ta có thể xem qua một vài Sutras của quyển sách bàn về bản chất của lòng sùng tín và những phương tiện để phát triển nó, hầu thu thập một ý niệm tổng quát về triết lý và kỹ thuật của Bhakti Yoga:

(1) Anirvachanīyam prema-svarrūpam (51)

Bản chất của tình thương hướng đến Thượng Đế không thể diễn tả.

(2) Mūkāsvādanavat (52)

Đúng như hương vị đối với một người câm.

Những câu Sutras này tổng quát được xem như có nghĩa là bản chất của kinh nghiệm khi một người ở vào trạng thái của một tình thương mãnh liệt hướng đến Thượng Đế hay là trạng thái ngây ngất thì không thể diễn tả bằng lời nói. Đương nhiên điều đó đúng, nhưng nó là ý nghĩa bên ngoài, bởi vì bản chất của bất cứ loại kinh nghiệm nào mà chúng ta thu thập, không thể diễn tả bằng lời cho bất cứ ai chưa trải qua kinh nghiệm thuộc loại ấy. Nhưng vì tất cả chúng ta đều có những kinh nghiệm sống tương tợ nhau, nên chúng ta có thể diễn tả chúng cho người khác được.

Vậy cái nghĩa thật sự là gì? Chúng ta hãy xem. Trong quá trình tiến hóa, chúng ta được giao thiệp với nhiều hạng người khác nhau, trongnhiều liên lạc khác nhau lập đi lập lại mãi, và nhờ những cuộc tiếp xúc như thế làm phát triển nhiều loại tình thương khác nhau như của người mẹ đối với con trai, của đứa con gái đối với cha, của người chồng đối với vợ, của người bạn đối với bạn bè. Chúng ta càng tăng trưởng về tình cảm, các loại tình thương mà chúng ta quen thuộc trở nên càng lúc càng nhiều, và cường độ của tình thương do đó tăng gia. Quang phổ của tình thương chúng ta trở nên đầy dủ và sáng sủa hơn khi chúng ta phát triển. Quang phổ này từ đâu mà có? Do Cái Đó. Cái mà từ đó phát sinh mọi vật, mọi khả năng, mọi quyền lực. Quang phổ của tình thương này chứa đựng mọi loại tình thương khác nhau và nó phát sinh từ ánh sáng màu trắng của Tình Thương Thiêng Liêng, do tiến trình phân chia, giống như tất cả những vật khác, cũng được phát sinh bằng cách đó. Sự phân chia này giúp chúng ta phát triển bản chất của tình cảm mình dễ dàng hơn, bởi vì nó dễ dàng đáp ứng vàphát triển mỗi lần một loại tình thương đặc biệt hạn chế, cũng như sự phân chia cái trí ra thành năm cảm giác giúp chúng ta phát triển cái trí dễ dàng hơn nhiều. Nhưng ánh sáng màu trắng không phải một thứ với các màu, mặc dầu quang phổ các màu có thể hoàn toàn đầy đủ. Một cá nhân nếu chỉ sống trong phạm vi của sự biểu hiện, trong phạm vi của các màu, không thể có một ý niệm về ánh sáng màu trắng của Thực Tại, trừ khi và đến khi nào y vượt qua khỏi sự biểu hiện và phô bày trong Ánh Sáng Thực Tại. Cũng như thế ấy, một cá nhân đã kinh nghiệm qua tất cả loại tình thương mà chúng ta tìm thấy trong mối quan hệ của con người, thật sự không thể có được một ý niệm về Tình Thương Thiêng Liêng, từ đó các loại tình thương phát sinh ra, ngoại trừ khi y kinh nghiệm được chính Tình Thương Thiêng Liêng, vì thế, mặc dù chúng ta quen thuộc với tình thương ở những loại khác nhau, hình thức khác biệt, chúng ta cũng không biết được Tình Thương Thiêng Liêng và người đã kinh nghiệm qua Tình Thương Thiêng Liêng không thể diễn tả hay truyền đạt cho một người khác cái bản chất của Tình Thương này. Chúng ta chỉ có thể có một loại ý niệm mơ hồ về bản chất của Tình Thương đó từ các hình thức thanh khiết và mãnh liệt nhứt của tình thương mà chúng ta đã kinh nghiệm qua. Nhưng để có thể biết được Tình Thương Thiêng Liêng, chúng ta cần phải kinh nghiệm nó bằng cách phát triển nó bên trong tâm chúng ta.

3. Sātv asmin param premarūpā (2)

Đó là hình thức của tình thương mãnh liệt hướng đến Ngài.

4. Śānti-rūpāt paramānanda-rūpāc ca (60)

Bởi vì nó lấy hình thức của sự An Tịnh cao cả nhứt và Phúc Lạc (Ananda).

6.Amrita-svarūpāc ca (3)

Bản chất thầm kín nhất của nó là mật hoa.

Những câu Sutras đầu tiên này chỉ diễn tả bản chất tổng quát của sự sùng tín và trạng thái mà nó là tình thương mãnh liệt trực tiếp hướng đến Thượng Đế. Đương nhiên, ở bước đầu không sao tránh được là tình thương nầy phải giống như bất kỳ loại tình thương khác nhau nào mà chúng ta quen thuộc và chúng ta có thể cảm thấy. Đó là lý do tại sao ở Ấn Độ một người sùng tín được phép chọn lấy bất cứ loại thái độ nàohướng đến Thượng Đế và cố gắng phát triển loại tình thương tương ứng đến một mức độ mãnh liệt. Y có thể ngắm nhìn Thượng Đế như một người bạn chí thân, một Sư Phụ, một người Cha hay Mẹ, hay một Tình nhân. Cái gì là bản chất của thái độ, điều đó không quan trọng ở các giai đoạn đầu. Điểm quan trọng là cường độ của tình thương. Bởi vì trên thực tế đối với mọi vật trong lĩnh vực này, hay là trong bất cứ lĩnh vực của sự nỗ lực tâm linh nào khác thì điểm chánh yếu tùy thuộc nơi cường độ hay tiềm năng của nó. Sự hòa hợp của tâm thức xảy ra khi ở trạng thái xuất thần - sự hòa hợp tâm thức của người mộ đạo với Tâm Thức của Đấng được yêu thương có thể được so sánh với sự va chạm của mặt đất với tia chớp trong cơn một cơn sấm sét. Nhưng sự phối hợp của những điện tích mưa giông âm và dương này trong các cụm mây và mặt đất tùy thuộc vào sự khác nhau kinh khủng của điện áp phải được phát triển trước đó để cho trở kháng của không khí mới có thể gãy đổ. Sự cách biệt điện áp có khi thật khổng lồ và có thể lên đến cả triệu volts. Chính điều đó giải thích cho bản chất tàn phá khủng khiếp của hiện tượng. Cũng như thế ấy, chỉ khi nào tình thương giữa người sùng đạo và Thượng Đế lên đến mức độ mãnh liệt, chừng đó một sự hòa hợp từng phần của tâm thức mới xảy ra, và người sùng đạo nhận thức được thế nào là Tình Thương Thiêng Liêng. Xuyên qua sự thực hiện này, tình thương của y nâng lên đến một mức độ cao hơn nữa và kinh nghiệm được niềm hạnh phúc tương xứng với mức độ cao siêu ấy. Điều này xảy ra nhiều lần và càng lúc y càng kinh nghiệm được những hình thức mãnh liệt của tình thương và những mức độ tế nhị và thanh trong hơn của sự phúc lạc tương xứng.

Trong các cuộc xuất thần này, tâm thức và tình thương của người sùng đạo nâng cao mức độ thâm sâu phù hợp với các mức độ khác nhau của Samadhi (Đại định) trong Rāja Yoga. Các giai đoạn cuối cùng của những kinh nghiệm này hoàn toàn khác biệt với loại tình thương do cảm xúc được nhận thấy ở những giai đoạn đầu, dù lúc đó nó mãnh liệt đến đâu. Một cách tổng quát, chúng được gọi là Paramānanda trong văn chương các trường phái sùng tín, hay là sự An Tịnh, hoặc Shanti theo thuật ngữ của Jnana Yoga. Mặc dầu tình thương rất mãnh liệt và bao trùm mọi vật, nhưng nó được lưu thông trong một vận hà thật thâm sâu, và vì thế có sự an tịnh, thoải mái và thăng bằng tột độ, không mảy may xao xuyến hay bấn loạn như ở các giai đoạn đầu.

Ở đề tài này, ta có thể xem qua một vấn đề tranh cãi đôi khi đã gây khó khăn cho nhiều người chí nguyện. Từ trước đến giờ, ta thấy người sùng đạo có thể thờ phượng Thượng Đế dưới bất cứ thái độ nào tùy thích và phát triển tình thương theo chiều hướng đó. Nói một cách khác, y có thể tôn thờ Thượng Đế bằng hình thức nào y thích hoặc hấp dẫn y. Nhiều người thắc mắc một cách vô ích về hình thức phải chọn lựa để làm phát triển lòng sùng tín của mình. Sự thật thì hình thức không quan trọng miễn nó lôi cuốn được người sùng đạo, và miễn là nó có khả năng làm dấy động những tư tưởng và tình cảm thanh cao và thánh thiện mà thôi. Nếu có nhiều ngõ dẫn vào thánh điện bên trong của một đền thờ, dùng ngõ nào để vào bên trong điều đó không quan trọng, miễn là mục tiêu của chúng ta không phải là dừng bước ở ngoài cửa, mà là đi vào trong để gặp Đấng Cao Cả.

Mặc dầu tôi đã diễn tả ý ấy một cách khá đơn giản, nhưng đây là một điểm hết sức quan trọng và chúng ta phải cố gắng đi sâu vào đó để thấu hiểu ý nghĩa bên trong của câu nói ấy là hình thức của lòng sùng tín; hình thức được cho là không quan trọng gì cả.

Để hiểu rõ việc này, trước hết chúng ta phải cố gắng nhận thức rằng tình thương là một trạng thái của tâm trí, trong khi hình dáng của Đấng Tôn Thờ hay đối tượng được sùng bái chỉ là một hình ảnh của tâm trí. Bây giờ, điều thật sự quan trọng là thực hiện được sự hòa hợp tâm trí của người sùng đạo với đối tượng tôn thờ, và đó không phải là hình ảnh, mà là trạng thái của tâm trí, trạng thái này hoàn toàn độc lập đối với hình ảnh và không bị hình thức của hình ảnh ấy ảnh hưởng. Dù cho hình ảnh ấy là của Đấng Christ hay Krishna, hay Rāma hay Shiva, hay Durgā, hay Đức Phật, hay của một vị Chân Sư, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là cường độ của lòng sùng tín, sự hiến dâng của cá nhân mình và tánh chất thanh trong của tâm trí khiến nó trở nên tương xứng để hợp nhất với đối tượng được tôn thờ, và đem lại ân huệ và sự phúc lành của đối tượng được tôn thờ ban cho người sùng đạo.

Bởi vì tâm thức của người sùng đạo rốt ráo hòa hợp, không phải với hình ảnh, mà với Tâm Thức do hình ảnh đó đại diện. Sự hợp nhất không diễn ra ở lãnh vực của hạ trí cụ thể của tên gọi và hình tướng, mà ở lãnh vực của tâm thức, ở mức độ thấp nhất của cõi Bồ Đề. Hình ảnh trí tuệ biến mất và được vượt qua trong sự hợp nhất này. Trong lúc thiền định cũng như ở nơi khác, hình ảnh chỉ được dùng như một tiêu điểm của tâm thức xuyên qua đó sự khát vọng hướng lên, ân sủng, phúc lành hay thần lực tuôn xuống. Ví như một cái cửa, nhờ đó mà có được sự thông thương, nhưng Đấng mà mình tôn thờ ở bên kia cái cửa và hành giả phải đi ngang qua cửa này để được gặp Ngài. Như vậy, rõ ràng tại sao hình thức của hình ảnh không phải là điều quan trọng chánh, nhưng chính là khát vọng và sự lôi cuốn mới là mối quan trọng, nhờ sự hồi tưởng những hình ảnh trong quá khứ này và các tiền kiếp. Quan trọng nhứt là tình trạng của tâm trí, sự nhanh nhẹn của nó, cường độ của tình thương, sự thanh trong, và sự hiến dâng của người sùng đạo.

Ở khía cạnh này, có thể thấy rằng điều ấy cũng đúng chẳng những trong sự liên quan với đối tượng chúng ta tôn thờ, mà còn đến cả các mối liên lạc thường ngày với người khác. Bạn có nghĩ rằng khi chúng ta thương mến một người nào, hoặc ngay khi chúng ta trò chuyện với ai, thì chúng ta chỉ đang thương mến hoặc trò chuyện với thể xác bên ngoài, hay là với tâm trí của cá nhân đó không thôi? Không phải vậy đâu. Chính là Tâm Linh đang giao tiếp với Tâm Linh, xuyên qua những bức màn của thể xác và tâm trí. Nếu bạn nghi ngờ điều này, hãy cố gắng thử tưởng tượng nhân vật mà bạn đang giao tiếp ở cõi vật chất, không có Chơn Thần hay là Ātmā, phần Tâm Linh sinh động phía sau các thể. Trọn vẹn cơ cấu hay phương pháp truyền đạt, từ cõi vật chất đến cõi Niết Bàn, sẽ trở nên không có hiệu quả nếu Ātmā rời bỏ nó, nó sẽ ngừnghoạt động và trở thành vô nghĩa đối với chúng ta. Chúng ta thấy phần nào điều này, khi các nguyên lý cao cả lìa bỏ xác thân vật chất lúc chết. Thân xác yêu mến đối với chúng ta trở nên một khối kết hợp vật chất, không còn chút thú vị gì nữa. Chính là Ātmā hay Tâm Linh phía sau các thể, chẳng những là người nhận thức mà cũng còn là đối tượng của tình thương chúng ta và cũng là người thương.

Ý tưởng này đã được diễn tả thật đẹp trong một câu kinh của Upanishads. Thoát dịch ra nó có nghĩa: “Người vợ thân ái, không phải vì người vợ, mà là vì Chân Ngã, nên người vợ thân ái. Người chồng thân ái, không phải vì người chồng, mà là vì Chân Ngã, nên người chồng thân ái. Đứa con trai thân ái, không phải vì đứa con trai, mà là vì Chân Ngã nên đứa con trai thân ái”. Và như thế câu kinh tiếp tục, lập đi lập lại những lời nói về các liên quan đến người khác để in dấu ý tưởng trong tâm trí độc giả. Bạn có thể thấy ý nghĩa bên trong của lời nói. Mặc dầu chúng ta tưởng tượng rằng tất cả những mối liên quan của chúng ta được đặt nền tảng trên bình diện cá nhân, nhưng thật sự chúng nằm trên bình diện của Tâm Linh, và các hình thể đặt xen vào chỉ là những bức màn che khuất những người tham gia thật sự trong các hành động và phản ứng xảy ra.

Sự kiện này cho thấy rằng không phải là hình ảnh trong trí chúng ta là đối tượng của lòng tôn sùng của chúng ta, mà là Sự Sống Đại Đồng và Tâm Thức Thiêng Liêng ẩn núp phía sau nó và tất cả mọi thứ hình ảnh cùng loại. Đó là tại sao Đức Krishna nói trong Kinh Bhagavad Gita rằng Ngài gặp mọi người sùng đạo dọc theo bất cứ con đường nào y đến, hay qua bất cứ hình thức nào mà y chọn để thờ phượng Ngài.

Nhưng đương nhiên, khi chúng ta vẫn đang sống trong lãnh vực của tên gọi và hình tướng, không có lý do gì để mình không lợi dụng sự thu hút và sự phản ứng mà các tên gọi và hình tướng đặc biệt này dấy động lên trong lòng chúng ta, để làm cho lòng sùng tín mãnh liệt hơn. Cũng như thế ấy, không cần thiết thắc mắc làm chi – như một số đông người vẫn có thói quen – về sự chọn lựa hình hình thức cho lòng sùng tín của chúng ta. Đối với chúng ta, chính là hình thức đã tự nhiên lôi cuốn và làm khởi động trong chúng ta lòng sùng tín của mình.

Chúng ta đến câu sūtra 5, nói rằng bản chất thầm kín nhứt của lòng sùng tín là Āmrita, hay là mật hoa. Đây là một lời tuyên bố khá bí ẩn và cần được giải thích. Theo Phạn ngữ mật hoa, hay Āmrita, là một biểu tượng của Sự Bất Tử hay Đời Sống Vĩnh Hằng, vì ý nghĩa của từ A-mrita là “trên sự chết”. Bởi thế, người nào đã nếm qua Āmrita, dù chỉ nếm một lần thôi, được cho là trở nên bất tử, đã đi ngang qua lĩnh vực của cái chết. Hiển nhiên là không có loại chất lỏng hay thuốc Trường sinh nào, mà uống vào con người trở nên bất tử. Āmrita rõ rệt biểu tượng cho trạng thái tâm thức đứng trên sự biểu hiện, và bằng cách đến được trạng thái đó, con người trở nên giải thoát khỏi các ảo ảnh của sự sinh và tử, để thành một Đấng Giải Thoát, có nghĩa là một Jīvamukta. Khi đến được trạng thái đó, con người không cần thiết phải đầu thai trở lại một lần nữa, mặc dầu y có thể đầu thai để cứu giúp các em út của y, chúng còn đang tranh đấu trong lãnh vực sanh và tử.

Việc lo sợ sự sanh và sự tự bắt nguồn từ việc đồng hóa tâm thức mình với các thể và một lần cá nhân vượt lên đến lãnh vực Tâm Linh hay Tâm Thức thuần khiết và nhận thức rằng mình là Tâm Thức thuần khiết hay là một với Tâm Thức Thiêng Liêng, ảo ảnh khiến cho sự đồng hóa với các thể bị hủy diệt mãi mãi và chẳng những không còn lo sợ về sự sinh và tử, mà lại còn không cần thiết, hoặc bị bắt buộc, tái sinh ở các cõi thấp. Chính đó là Giải Thoát thật sự hay Bất Tử.

Trạng thái này đạt được khi tâm thức của người sùng đạo càng lúc càng trở nên mãnh liệt hơn trong việc xuất thần, và rốt ráo thì hợp nhất với Tâm Thức Thiêng Liêng và vĩnh viễn ngự trong đó. Bởi vì Tâm Thức thì Vĩnh Cửu và Bất Tử, trạng thái cao nhứt của sự sùng tín trong đó hành giả sống, được gọi là Āmrita. Đương nhiên tâm thức như thế cũng có thể đạt được do con đường Jñāna (Minh Triết), hay Rāja Yoga.

Đó là phương pháp mà các bực giác ngộ, hay Rishi, thực hành để đạt sự bất tử. Nhưng, hãy xem qua một vài phương pháp mà chúng ta, những hậu duệ “khôn hơn” của các Ngài, sử dụng trong thời buổi này để đạt được sự bất tử. Với mục đích để cái tên của thân xác chúng ta có thể tồn tại; một cách tuyệt vọng, chúng ta ráng gắn liền nó với một công trình gì đó, nếu chúng ta là thành phần quan trọng, bằng không với một con đường hay một lối đi cũng được. Chúng ta không nhận thức rằng tên con đường có thể tồn tại một thời gian, nhưng ai sẽ liên kết nó với chúng ta nếu chúng ta đã ra đi rồi? Ngay cả khi chúng ta trở lại trong một kiếp luân hồi khác, chúng ta sẽ không biết được rằng công trình đó mang tên mình trong tiền kiếp. Chúng ta viết sách, chúng ta cố gắng tìm một vị trí cho mình trong lịch sử, như là một lãnh tụ chính trị; chúng ta làm nhiều việc, và đôi khi những việc không ai ưa, do ảo ảnh ác nghiệt và hy vọng hão huyền rằng mình sẽ trở nên bất từ. Chúng ta không nhận thức rằng trong những trường hợp đó chỉ có cái tên hay là hình thức có thể còn kéo dài, lâu lắm vài thế kỷ, chứ không phải chính chúng ta. Ngọn thủy triều thời gian đang tiến không ngừng, tàn phá chẳng những cái tên của các người hiện nay đang lừng danh, mà còn tất cả mọi vật trên con đường đi của nó, ngay đến các nền văn minh và quả Địa cầu, Thái Dương Hệ và vũ trụ. Thật là ảo ảnh to tát!

(6). Sāna kāmayamānā nirodha-rūpatvāt (7)

Nó không do nơi dục vọng cá nhân ích kỷ, bởi vì nó biểu hiện trong sự kềm hãmtất cả những dục vọng ấy.

Câu Sutra này rõ ràng không liên hệ đến các giai doạn thấp của Bhakti hay lòng sùng tín, khi mà nó còn pha lộn với các dục vọng cá nhân nhưng với giai đoạn cao nhứt, khi nó trở nên hoàn toàn không ích kỷ và người sùng đạo yêu thương Thượng Đế chỉ vì Ngài mà thôi. Câu Sutra chỉ rõ rằng hình thức cao nhất này của lòng sùng tín không do dục vọng ích kỷ riêng tư, và bằng chứng của điều này là nó dẫn dắt đến sự xóa bỏ tất cả mọi dục vọng như thế. Vậy ở trường hợp này, động lực nào thúc đẩy nó? Chính là Tình Thương thuần khiết đã lôi cuốn một phần của tâm thức riêng rẽ đến với cái Trọn Vẹn, chính từ cái Trọn Vẹn này nó được tách rời ra, vì vậy tất cả hai cái có thể hòa hợp trở lại.

Bây giờ, một đặc điểm nổi bật nhứt của tình thương là nó làm chúng ta trở nên tự do một cách tự nhiên và dễ dàng, không còn bị những dục vọng và ràng buộc thông thường đeo đuổi. Điều này cũng có thể phần nào thấy được ở những biểu lộ thấp của tình thương. Thí dụ như khi một người đàn ông yêu thương một người đàn bà thì trong lúc này sự thoải mái và hạnh phúc của người yêu trở thành đề tài duy nhứt để y lo lắng, và y dứt bỏ phần lớn các dục vọng thấp kém của y. Đương nhiên, những dục vọng này không bị xóa bỏ thật sự, nhưng chúng không thể biểu lộ khi mà trạng thái nồng nhiệt của tình thương hãy còn tồn tại. Điều đó cũng xảy ra ở trường hợp một bà mẹ. Tình thương con làm cho bà không còn lưu tâm đến tiện nghi và lợi lộc của cá nhân và bà dứt bỏ nhiều dục vọng thấp kém đã chiếm tâm trí bà trước đây.

Chúng ta có thể hỏi những lý do gì mà sự biến đổi đó xảy ra ở trường hợp một người dứt bỏ những dục vọng một cách tự nhiên, khi y yêu thương? Để dễ hiểu điểm này, chúng ta phải nhớ rằng Ananda – hay toàn phúc – là bản chất thứ yếu bên trong nhất của chúng ta, và chúng ta không thể sống không có nó. Bằng cách nào đó, chúng ta phải có nó. Nếu không thể có nó từ bên trong, chúng ta phải cố gắng tìm nó từ bên ngoài, xuyên qua sự thỏa mãn những dục vọng thông thường. Mỗi lần một dục vọng được thỏa mãn, nó tạm làm cái trí yên ổn một thời gian ngắn, và trong một thể trí an tịnh và hài hòa này, một chút Ananda xuất hiện từ nội tâm chúng ta. Đó là nguyên nhân của sự thỏa mãn hay lạc thú, hay hạnh phúc mà chúng ta cảm thấy khi một dục vọng được thực hiện. Nó không lâu bền. Liền đó cái trí mất thăng bằng. Một lần nữa, dục vọng nổi đậy và khiến chúng ta tìm sự thỏa mãn trong những việc khác, và như thể chúng ta tiếp tục chạy theo sau những sự việc ở thế giới bên ngoài, mặc dầu nguồn cội của hạnh phúc ngự bên trong chúng ta.

Khi chúng ta thương yêu, chúng ta liên kết một phần và tạm thời với nguồn Phúc Lạc (Ananda) trong con người chúng ta, bởi vì – như đã được trình bày – tình thương và Phúc Lạc đi đôi với nhau, không thể tách rời, ví như hai mặt của một đồng tiền. Khi mình được trực tiếp giao tiếp, mặc dù chỉ phần nào thôi, với người Phúc Lạc, chúng ta được hưởng ít nhiều tự do, nghĩa là không tùy thuộc vào các đối tượng bên ngoài, nó thường mang lại cho chúng ta lạc thú, hay hạnh phúc thông thường. Trong thời gian này, chúng ta nghe mình phần nào Tự Thỏa Mãn, Tự Đầy Đủ, mặc dù đối tượng của tình thương ở ngoài chúng ta. Trong trường hợp tình thương thông thường, trạng thái cao quí ấy không bền lâu, và vì vậy chúng ta trở lại tìm kiếm hạnh phúc ở những đối tượng và công việc theo đuổi bên ngoài. Một lần nữa, chúng ta lại mất đi trạng thái Tự Đầy Đủ. Nhưng, khi Tình Thương Thiêng Liêng thật sự được sinh ra bên trong nội tâm và bắt đầu tuôn chảy trong tim chúng ta một cách liên tục và mạnh mẽ, chúng ta trở nên vĩnh viễn an trụ trong Nguồn Tình Thương và Phúc Lạc, và trở thành Tự Đầy Đủ vĩnh viễn, trọn vẹn. Cái nguồn nước vui tươi và phúc lạc vĩnh cữu nô đùa trong tim chúng ta, và chúng ta không cần điều gì từ thế giới bên ngoài và trong thế giới bên ngoài, mặc dầu chúng ta có thể đang hoạt động trong đó để giúp đỡ cáchuynh đệ, và hoàn thành công việc mà Thượng Đế đã giao phó cho chúng ta. Chúng ta trở thành như chính Thượng Đế, Ngài vẫn ở trong thế gian này, làm việc xuyên qua đó nhưng không tùy thuộc vào thế gian. Ngài là Đại Dương của Tình Thương và Phúc Lạc mà từ đó chúng ta hưởng niềm Phúc Lạc của riêng mình. Như thế, chúng ta thấy vì sao Tình Thương biểu lộ thì một cách tự nhiên và mau lẹ loại bỏ tất cả dục vọng, và đó là phương pháp dễ nhứt và thích thú nhứt để biến đổi tâm trí chúng ta trở nên thanh trong, an tịnh và Tự Đầy Đủ. Điều đó giúp chúng ta hai việc. Nó làm tăng trưởng sự thu hút cá nhân đến gần Sự Sống và Tâm Thức Thiêng Liêng ở Trung Tâm và đồng thời làm bớt đi sự lôi kéo của các đối tượng bên ngoài.

(7). Guna-rahitam kāmanā-rahitam pratiksana vardhamānam avic-chinnam sūksmataram anubhavarūpam (54)

Không còn bị những ảnh hưởng của ba Gunas (ba đặc tánh căn bản trong Thiên Nhiên: động, tịnh, và hài hòa); không còn dục vọng ích kỷ, mỗi lúc mỗi lớn mạnh về độ lớn, về cường độ, và một dòng tuôn chảy không ngừng, đó là hình thức của kinh nghiệm nội tâm.

Câu Sutra này cũng tìm cách diễn tả lòng sùng tín mà người sùng đạo hướng đến Thượng Đế khi y tiến đến một mức độ hòa hợp khả quan với Ngài. Gunarahitam có nghĩa không còn các Gunas, hoặc đã vượt qua các Gunas. Trong một câu sutra sau này, chúng ta sẽ xem qua (số 56) các giai đoạn thấp của lòng Sùng Tín. Chúng ta sẽ thấy Bhakti thấp này là Rājasic (động), Tāmasic (tịnh) hay Sāttvic (hài hòa) và có một mục tiêu kín đáo để hướng đến. Nó không tìm Thượng Đế vì Ngài, bởi thế mà được sắp vào loại phụ. Loại Bhakti hay sùng tín cao nhứt được bàn đến trong câu sutra này, vượt trên các Gunas, hay là không bị ràng buộc bởi các trạng thái của tâm thức do sự kết hợp với các Gunas mang lại.

Kāmanārahitam có nghĩa nó thoát khỏi ảnh hưởng của thứ dục vọng ích kỷ thấp hèn và bị thúc giục do Tình Thương thanh cao – đó là sự thu hút của những phần tử đối với cái Trọn Vẹn mà tôi đã nói qua trước đây. Vì đã được xem trong câu kinh vừa rồi, bây giờ tôi không cần nhắc lại.

Pratiksana vardhamānam có nghĩa nó vẫn lớn thêm mãi. Đối với bất cứ cái gì liên quan đến Sự Sống và Tâm Thức Thiêng Liêng, không có vấn đề chấm dứt. Hết vực sâu này đến vực thẳm khác, vô tận. “Hết bức màn này, đến bức màn khác được vén lên, nhưng vẫn còn bức màn này đến bức màn khác ở sau nữa”. Mỗi lần một bức màn được vén lên, người sùng đạo đạt được sự hòa hợp sâu đậm hơn với Sự Sống Thiêng Liêng bên trong y và tình thương của y lớn mạnh thêm nữa. Điều đó ví như một loại vòng tròn đạo đức. Chúng ta càng yêu thương Thượng Đế, thì chúng ta càng hiểu biết Ngài hơn, và càng hiểu biết Ngài hơn thì chúng ta càng yêu thương Ngài hơn nữa.

Avicchinnam có nghĩa là một dòng tuôn chảy không ngừng. Chúng ta phải nhớ rằng mình đang xem qua giai đoạn cao nhứt của lòng sùng tín, nơi đó tâm thức của người sùng đạo được liên tục hòa hợp với tâm thức của Thượng Đế, do đó dòng tình thương trôi chảy không ngừng. Ở những giai đoạn đầu, người sùng đạo thoáng thấy được Đấng Cao Cả kính mến và tình thương của y nổi lên trong một cơn xuất thần. Nhưng liền đó thì bị gián đoạn và làm y rất khổ sở. Niềm khổ sở chia cách này – được gọi là Viraha – do cường độ mãnh liệt của nó, đem lại sự hòa hợp một lần nữa. Do đó, sự rút xuống và dâng lên của ngọn thủy triều là một phần cuộc sống của người Thần bí trong các giai đoạn đầu, ngay cả đến một giai đoạn khá cao nữa. Nhưng, tới một lúc hay một giai đoạn, y không thể rơi ngược lại vào sự chia cách và liên tục trụ vào Tâm Thức của Đấng Mến Yêu. Chừng đó dòng tình thương tự nhiên tuôn chảy không ngừng.

Sūksmataram có nghĩa là tinh vi hơn, hay là ở một mức độ sâu đậm hơn. Vì như đã nói trước đây, ở giai đoạn khả quan của lòng sùng tín tình thương tuôn chảy trongmột đường vận hà thật sâu kín và nó không biểu lộ ra bên ngoài dưới hình thức dấu hiệu mãnh liệt và mất thăng bằng như ở các giai đoạn đầu. Một con sông cạn mới gây ra nhiều tiếng động và tràn ra ngoài bờ dễ dàng, chứ một con sông chảy trong lòng sông sâu không gây ra bao nhiêu tiếng động và không tràn ngập khỏi bờ của nó. Vì thế, chúng ta không nên xét đoán tình thương của một người theo các dấu hiệu bên ngoài hay các thổ lộ tâm tình của nó.

Nhóm chót Anubhava Rūpam có nghĩa rằng tình thương này chảy ở một mức độ sâu đậm do bản chất của một kinh nghiệm. Đó không phải là một cảm xúc hay một tư tưởng, cũng không phải là một sự cảm nhận của Thượng trí hay Bồ Đề Tâm. Đó là một sự nhận thức – sự nhận thức của Sự Sống và Tâm Thức Thiêng Liêng bên trong trung tâm của Tâm Thức cá nhân. Sự nhận thức này do sự hòa hợp của hai tâm thức mang lại.

Nhưng, đó là một sự hòa hợp tâm thức hãy còn cảm giác riêng rẽ để người sùng đạo có thể cảm thấy niềm hạnh phúc của tình thương. Đương nhiên, khi hai thứ được hoàn toàn hòa hợp trong một trạng thái tâm thức duy nhứt, chừng đó không thể có tình thương, theo ý nghĩa thông thường của nó, bởi vì tình thương là kết quả của sự liên quan giữa người thương và Đấng được thương, và khi mà người thương và Đấng được thương đã trở thành Một, hoàn toàn trong trạng thái thống nhất thì tình thương phải biến mất và chỉ còn Phúc Lạc (Ananda) ở lại thôi. Vì thế mà tại sao các nhà sùng đạo của trường phái Vaishnava không muốn hòa hợp trọn vẹn với Thượng Đế. Họ luôn luôn cầu xin Thượng Đế cho phép họ cách xa vừa đủ với Ngài để họ có thể hưởng niềm hạnh phúc của Tình Thương Thiêng Liêng là cứu cánh của đời họ.

(8). Gaunī tridhā guna-bhedād ārtād-bhedād va(56)

Lòng sùng tín kết hợp với các dục vọng ích kỷ cá nhân có ba hình thức, tùy theo trường hợp người sùng đạo ở vào một trong ba loại: người đau khổ (Ārtā), người tìm sự hiểu biết (Jiñyāsu), hoặc người mong ước sự giàu sang, hay mục tiêu trần tục khác (Ārtādi) .

(9). Bhaktā ekāntino mukhyāh (67)

Người sùng đạo thật sự chỉ có một mục đích trước mắt, hoặc yêu một việc thôi.

Hai câu Sutras này mang lại một sự phân biệt giữa hai hạng người sùng đạo. Nhóm thứ nhứt là những người mến yêu Thượng Đế, nhưng họ có một mục tiêu kín đáo trước mắt, và lòng sùng tín của họ bị ô nhiểm ở nhiều mức độ khác nhau bởi những dục vọng cá nhân. Họ không mến yêu Thượng Đế chỉ vì Ngài thôi, mà với mục đích đạt quyền lợi cá nhân nào đó, xuyên qua ân sủng của Ngài. Nhóm thứ hai hoàn toàn không có mục đích ích kỷ. Họ yêu thương Thượng Đế vì họ không thể làm gì khác hơn được. Ngài là Sự Sống của họ. Trung Tâm của tâm thức họ, Ngài đã thu hút họ một cách không sao cưỡng lại được, không sao đo lường được và một cách tuyệt diệu là đến gần Ngài. Họ không thể làm gì khác hơn là tự hiến dâng mình trước sự lôi cuốn bất khả kháng này. Ngoài niềm sung sướng thương mến Ngài, không có ẩn ý nào khác. Không có ham muốn nào khác hơn là ham muốn tìm được Ngài và trở nên một với Ngài. Hỏi vậy, người mẹ yêu thương đứa con trai đầu lòng, sẵn sàng hi sinh mọi thứ vì nó, có thể nói tại sao bà yêu nó không? Hỏi vậy người tình nhân đã yêu thương một cách điên cuồng người tình nhân, trong khi quên mất các tiện nghi và dục vọng cá nhân mình, có thể nói tại sao y yêu thương người yêu của y không ? Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ những tình yêu thương này trong mối quan hệ nhân loại, chỉ là những phản xạ của cái phản xạ mà thôi. Phần lớn, các tình thương đó đặt nền tảng trên những sự liên kết đã qua ở các tiền kiếp, mặc dầu phía sau việc liên kết cũng có mối dây tâm linh trói buộc một phần tử của cái Trọn Vẹn với một phần tử khác, và cũng do sự ưa thích giữa các Chơn Thần, đã mang chúng lại bên cạnh nhau trong cuộc sống ở các cõi thấp này, để dự kiến và chuẩn bị cho sự hợp tác yêu thương của họ trong những vở kịch to tát, mà họ sẽ phải dự phần trong tương lai xa xăm. Nếu những phản xạ của phản xạ có khả năng tạm thời khơi động sự quên mình đến một mức độ cao như thế ở tâm những người thông thường đang lặn hụp trong những ảo ảnh và lợi lộc trần tục thấp kém này, hỏi vậy bạn có thể tưởng tượng được bản chất và cường độ của sự tự hiến dâng và lòng sùng tín, mà người sùng đạo cảm thấy khi y vượt lên trên những ảo ảnh và hạn chế thông thường của đời sống để thành tâm và trọn vẹn hiến dâng con người và tình thương của y dưới chân của Thượng Đế không? Đó là hạng người sùng đạo được đề cập tới trong câu kinh thứ nhì kể trên.

Câu đầu của hai Sutras này nói về những người sùng đạo của loại nhì, mà lý do không hoàn toàn vị tha, cũng quan trọng, không phải vì nó giúp chúng ta phân loại chúng một cách thích đáng nhưng bởi vì nó làm chúng ta chú ý đến những giai đoạn thấp của lòng sùng tín. Nó dấy lên một số vấn đề liên quan đến những giai đoạn thấp của lòng sùng tín này mà chúng ta phải cố gắng thấu hiểu, để chúng ta có thể sử dụng chúng như những bậc đá bước lên mỗi lúc mỗi cao hơn, cho đến khi chúng ta vượt qua khỏi các giai đoạn đó và tiến đến một mức độ của lòng sùng tín được đề cập ở câu kinh thứ hai.

Trước khi xem qua các vấn đề này, đầu tiên chúng ta hãy quan sát ba loại phụ của người sùng đạo thuộc về loại hai. Trong câu Sutra, những loại phụ ấy chỉ được nói phớt qua thôi. Để có một ý niệm rõ hơn về các loại phụ này, chúng ta có thể xem qua các câu thứ 16, 17 và 18 ở chương VII của quyển Bhagavad Gita. Những người sùng đạo trong câu thơ thứ 16 được chia ra như sau:

1. Những người đang bị phiền não và đau khổ, hướng về Thượng Đế mong tìm sự trợ giúp trong bất hạnh tột độ.

2. Những người tìm Ngài để có được sự hiểu biết, hoặc thấp hoặc cao.

3. Những người tìm Ngài để có những đối tượng đủ loại ở thế gian này, mong hưởng lạc thú hay hạnh phúc, và

4.Những vị hiền triết tìm Thượng Đế vì Thượng Đế, chứ không vì ẩn ý.

Cách phân loại này được dựa theo giáo lý Ấn Độ về các Gunas mà chúng ta không cần bàn thảo nơi đây. Bất cứ ai muốn đi sâu vào chi tiết đề tài này có thể đọc phần luận văn 14 của Kinh Bhagavad Gita.

Bây giờ điều cần biết nơi đây không phải cách phân loại những người sùng đạo mà là vị trí của các giai đoạn thấp về lòng sùng tín trong đời sống người sùng đạo. Bởi vì trên thực tế, tất cả chúng ta đều phải bắt đầu từ giai đoạn thấp nhứt và phải lần hồi tiến lên, xuyên qua những giai đoạn khác nhau để đến giai đoạn cao nhứt được đề cập ở câu Sutra thứ hai. Chúng ta phải ở lại một thời gian dài nơi giai đoạn thấp của Gaunī Bhakti, và như thế nên cố gắng thấu hiểu và sử dụng nó để tăng trưởng cường độ của lòng sùng tín mình, vứt bỏ đi những di chứng xấu của ích kỷ. Bạn sẽ ghi nhận rằng ở câu thơ 18 của phần luận văn 7, Đức Sri Krishna không chê bai ba loại người sùng đạo ở giai đoạn thấp. Ngài gọi họ thanh cao, nhưng đương nhiên là Ngài gọi những người sùng đạo của loại thứ tư là những nhà hiền triết, thờ phượng Ngài vì lòng thương yêu trong sạch, và thân ái nhứt đối với Ngài. Ngài không nói Ngài sẽ không ứng đáp lời kêu gọi của những ai tìm Ngài vì sự hiểu biết, hoặc những người khổ đau tìm Ngài để được trợ giúp, cho đến những người không tìm Ngài vì muốn đạt sự hiểu biết hay để bớt đau khổ, nhưng chỉ do những thúc đẩy hoàn toàn ích kỷ, Bạn hãy nhìn gương cao thượng này, gương cõi lòng rộng mở và tình thương ứng đáp chẳng những cho người đau khổ hay buồn phiền, mà cả dục vọng của những người nuôi dưỡng lạc thú tươi đẹp những hão huyền của trần gian. Tôi xem loại đáp ứng chót này là cao nhứt, đúng là rộng như Trời, vì bản chất của nó. Cho đến chúng ta bị ảo ảnh và lòng ích kỷ làm mờ tối, chúng ta có thể bị xúc động vì sự đau khổ hay nghèo khó và đáp ứng tùy theo mức độ khác nhau cho mỗi lời kêu gào xin trợ giúp, nhưng chỉ có Thượng Đế và những ai có bản tánh như Ngài mới có thể đáp ứng cho mọi lời cầu xin giúp đỡ chân thành, dù thuộc loại bản chất nào. Không ai có thể ở bên ngoài tầm tay yêu thương rộng lớn của Ngài. Đúng như một bà mẹ, không thể từ chối đứa con mới biết đi xin một món đồ chơi hay một miếng sô cô la, và Thượng Đế cũng không thể từ chối khi một linh hồn mới tiến hóa mong muốn những sự vật của cõi trần này để được thỏa mãn và trưởng thành. Bởi thế, chúng ta được cảnh cáo đừng nhìn những linh hồn trẻ và đang cần những thú vui thông thường của cuộc đời để trưởng thành với đôi mắt tự cao, tự đại. Dù cho chúng ta không thể đáp ứng các lời cầu xin giúp đỡ của họ, chúng ta có thể có một thái độ đúng đắn và không đánh giá họ thấp về điểm này.

Hỏi vậy chúng ta có điểm hoài nghi nào về điều Thượng Đế đáp ứng hay không lời kêu gào của mỗi cá nhân để các dục vọng của y được thỏa mãn? Bạn không biết sao, có một định luật hoạt động ở lãnh vực các công việc nhân loại, đem lại cho mỗi người bất cứ điều gì y mong muốn, sớm hay muộn? Không thể có ngay tức khắc những gì bạn muốn, nhưng rốt ráo thì bạn có thể có điều ấy, nếu bạn vẫn tiếp tục muốn và có một sự cố gắng cần thiết. Chúng ta là con của Đấng Tối Cao. Vì thế mà ý chí của chúng ta, dù cho nó được diễn tả dưới hình thức ảo ảnh – là một dục vọng – cũng phải được tôn trọng và do đó sẽ được thực hiện, theo ngày, tháng. Chúng ta có thể mong muốn điều sái quấy và do đó khổ đau, nhưng việc ấy không quan trọng. Đó là một phần của việc giáo dục chúng ta và lần hồi khiến chúng ta mong muốn những điều thiện, để rồi sau rốt không mong muốn những sự vật nữa nhưng chỉ mong muốn chính Ngài. Chỉ có một mình Ngài là Nguồn thật và duy nhứt của mọi hạnh phúc đích thực, mà chúng ta đã sai lầm đi tìm kiếm qua các sự vật.

Nhưng chúng ta hãy trở lại đề tài và câu hỏi: Đâu là ý nghĩa thật của hai câu Sutras này, dưới ánh sáng của những gì Đức Krishna nói trong Kinh Bhagavad Gita về vấn đề các nhà sùng đạo đã hướng về Ngài và yêu thương Ngài, dù với một ẩn ý. Tôi nghĩ sự cho biết rõ ràng rằng chúng ta phải chớ hướng về Ngài dù chúng ta muốn cái gì ngay cả những dục vọng ở buổi đầu là ích kỷ. Bởi vì, bằng cách hướng mặt chúng ta về Ngài mà chúng ta tiến một bước đầu tiên về với Ngài. Dù chúng ta cầu xin Ngài thỏa mãn các dục vọng tầm thường của chúng ta thì điều đó cũng không quan trọng. Sự việc đơn giản là chúng ta yêu cầu Ngài, có nghĩa là chúng ta bắt đầu tin tưởng Ngài và tùy thuộc nơi Ngài. Trong thái độ tin tưởng và tùy thuộc này ẩn núp điều bí mật to tát là làm phát triển tình thương đối với Ngài. Chúng ta càng tin và tùy thuộc nơi Ngài thì tình thương của chúng ta càng lớn mạnh thêm, và dục vọng của chúng ta đối với những việc tầm thường càng được biến đổi, chậm chạp và không ngừng, thành lòng ham muốn Ngài – chính Ngài đã cung cấp những điều chúng ta mong muốn. Đó là một thuật Luyện Kim Thiêng Liêng liên quan đến tiến trình này. Chúng ta sẽ bàn luận sâu rộng hơn về đề tài khi xem qua vấn đề các phương tiện phát triển lòng sùng tín. Trong những phương tiện này, Ananyatā hay là “chỉ tùy thuộc vào Ngài” trình bày trong câu Sutra 10, giữ một vị trí nổi bật.

HOME TÌM HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN HÌNH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS

Từ khóa » Sùng Tín Là Gì