Kim Cương (nghệ Sĩ) – Wikipedia Tiếng Việt

Bài viết hoặc đoạn này cần được wiki hóa để đáp ứng tiêu chuẩn quy cách định dạng và văn phong của Wikipedia. Xin hãy giúp sửa bài viết này bằng cách thêm bớt liên kết hoặc cải thiện bố cục và cách trình bày bài.
Đối với các định nghĩa khác, xem Kim cương (định hướng). Nghệ sĩ Nhân dân
Kim Cương
Biệt danhKỳ nữ
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinhNguyễn Thị Kim Cương
Ngày sinh25 tháng 1, 1937 (88 tuổi)
Nơi sinhSài Gòn, Liên bang Đông Dương
Giới tínhnữ
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệp
  • Diễn viên sân khấu
  • Diễn viên điện ảnh
  • Trưởng đoàn kịch
  • Soạn giả
Gia đình
Cha mẹ
  • Nguyễn Ngọc Cương
  • Bảy Nam
Con cáiTrần Trọng Gia Vinh
Lĩnh vực
  • Cải lương
  • điện ảnh
  • kịch
Danh hiệuNghệ sĩ ưu tú (1988)Nghệ sĩ nhân dân (2011)
Sự nghiệp điện ảnh
Vai tròDiễn viên
Năm hoạt động1955 – khoảng thập niên 1990
Vai diễnNhài trong Tứ quái Sài Gòn
Sự nghiệp sân khấu
Bút danhHoàng Dũng
Vai tròDiễn viên, biên kịch, trưởng đoàn
Thể loạiKịch nói
Tác phẩmLá sầu riêng (1963)
Giải thưởng
Liên hoan phim châu Á lần thứ 20 (1974) Nữ diễn viên xuất sắc
Website
kynukimcuong.vn [1]
[sửa trên Wikidata]x • t • s

Kim Cương (sinh ngày 25 tháng 1 năm 1937) tên đầy đủ là Nguyễn Thị Kim Cương, là một nữ diễn viên kịch nói, diễn viên điện ảnh, soạn giả, biên kịch người Việt Nam. Bà được xem là một trong những người tiên phong của kịch nói miền Nam

Là con gái của nghệ sĩ cải lương tiên phong Bảy Nam, Kim Cương đến với sân khấu từ rất sớm. Từ đào con của gánh Đại Phước Cương, bà dần trở thành người lèo lái Đoàn Năm Phỉ – Kim Cương sau khi người dì Năm Phỉ, chị của nghệ sĩ Bảy Nam qua đời. Kim Cương được ký giả Nguyễn Ang Ca mệnh danh là "kỳ nữ" vào thập niên 1950.

Năm 1956, Kim Cương chuyển hướng sang kịch nói, thành lập Đoàn Kịch nói Kim Cương, một trong những đoàn kịch nói đầu tiên ở miền Nam. Trong đoàn, Kim Cương còn là một soạn giả với bút danh Hoàng Dũng, qua một số tác phẩm tiêu biểu như Lá sầu riêng, Trà hoa nữDưới hai màu áo. Bà cũng tham gia một số bộ phim điện ảnh trước năm 1975 như Chiếc bóng bên đườngTứ quái Sài Gòn. Bà tiếp tục hoạt động nghệ thuật cho đến năm 1994.

Với những đóng góp cho sân khấu, Kim Cương được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 2011. Bà được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận là "Nữ nghệ sĩ sáng tác nhiều kịch bản kịch nói nhất Việt Nam".

Thân thế

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Cương có tên đầy đủ là Nguyễn Thị Kim Cương. Theo soạn giả Nguyễn Phương, bà sinh ngày 25 tháng 1 năm 1937 tại Cửa Thượng Tứ, thành phố Huế.[1] Bà xuất thân trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật lâu đời. Bên gia đình nội, bà cố của bà là bà Lê Thị Truyền, tục gọi Bà Hộ (khoảng 1850 – 1930)[2] là bầu gánh của gánh hát bội Phước Thắng. Bà nội là bà Lưu Thị Ngoạn (1871–1934),[3] bầu gánh hát bội Phước Xương và là người cho xây rạp hát Palikao ở Chợ Lớn.[4] Cha của bà là ông Nguyễn Ngọc Cương (1894–1946),[3] ông bầu của gánh hát Đại Phước Cương.[a][4] Bà còn có một người bác là Hai Xù (chồng đầu của nghệ sĩ Năm Nhỏ)[5] và một người chú là Sáu Xường[6] (tên thật là Trần Hữu Tường, chồng của nghệ sĩ Cao Long Ngà, cầu thủ đá bóng đội Etoile de Giadinh[2][6]), ông bầu gánh hát Phước Tường.[7] Bên gia đình ngoại, có mẹ là Nghệ sĩ Nhân dân Bảy Nam (1913–2004) và ba người dì Năm Phỉ (1906–1954), Chín Bia (1917–1990),[3] Mười Truyền đều đi theo sân khấu.

Kim Cương là người con đầu lòng trong gia đình có ba người con. Hai người em còn lại của bà là Kim Quang và Ngọc Thố.[8] Ngoài ra, bà có một người anh trai là con của bác Hai Xù và nghệ sĩ Năm Nhỏ là Nguyễn Ngọc Mười.

Cuộc đời và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ sinh ra trong một gia đình giàu nghệ thuật, Kim Cương đã đến với sân khấu từ lúc mới 18 ngày tuổi, thủ vai con của Quan Âm Thị Kính trong dịp mừng thất tuần của Đức Tiên Cung Dương Thị Thục – mẹ của vua Khải Định, với "đạo cụ" là một bình sữa.[1][9] Sự nghiệp diễn xuất đến sớm, bà nhanh chóng trở thành đào con trong gánh Đại Phước Cương, cùng cha mẹ và các thành viên trong đoàn đi lưu diễn khắp nơi. Sau này vào năm 7 tuổi, bà mới có vai diễn chính thức đầu tiên là Na Tra trong vở Na Tra lóc thịt, do chính mẹ bà viết kịch bản.[9]

Sau khi cha mất vào năm 1946, mẹ bà và dì Năm Phỉ quyết định không cho bà đi theo sân khấu. Bà ở nhà của dì Năm Phỉ một thời gian rồi sau đó theo học nội trú tại Trường Thiên Phước, kế bên Nhà thờ Tân Định ở đường Hai Bà Trưng.[10] Đến năm 17 tuổi, bà xuống Châu Đốc theo đoàn hát của mẹ. Khi đoàn đang diễn ở rạp Lạc Thanh thì có tiếng súng nổ, nghệ sĩ được mời lên sân khấu trình diễn để thu hút sự chú ý của khán giả, đợi tình hình bên ngoài giảm đi. Cũng từ lúc này, Kim Cương tình cờ trở lại sân khấu qua bài hát "Nụ cười sơn cước" và được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt.[10]

Soạn giả Duy Lân (1910–1973) là người chồng sau của nghệ sĩ Bảy Nam.[11] Ông đã soạn riêng cho Kim Cương vở cải lương Giai nhân và ác quỷ. Qua vai diễn A Liễu, bà trở nên nổi tiếng với khán giả cải lương. Trên tờ báo Tiếng Dội, ký giả Nguyễn Ang Ca đã đặt biệt danh cho bà là "kỳ nữ". Năm 1954, sau khi dì Năm Phỉ qua đời, bảng hiệu Đoàn Năm Phỉ đổi thành Đoàn Năm Phỉ – Kim Cương, Kim Cương trở thành người lèo lái đoàn hát.[12]

Năm 1956, Kim Cương quyết định rẽ hướng sang kịch nói, thành lập Đoàn Kịch nói Kim Cương, được xem là một trong những đoàn kịch nói đầu tiên ở miền Nam. Không chỉ trình diễn, Kim Cương còn là một soạn giả dưới bút danh Hoàng Dũng, qua một số kịch bản như Lá sầu riêng (1963),[13][14] Dưới hai màu áo, Người tình trễ xe, Trà hoa nữVực thẳm chiều cao. Về sau, bà từng đi tu nghiệp ở Bulgaria ngành đạo diễn.[10]

Ngoài kịch nói, Kim Cương cũng từng góp mặt trong một số bộ phim điện ảnh. Năm 1955, bà được hãng phim Mỹ Vân mời thủ vai y tá Liên Hương bộ phim Lòng nhân đạo. Sau đó, bà được hãng phim Việt Thanh mời đóng một số bộ phim cổ tích của đạo diễn Hồng Kông Dương Gia Đàm, như Thoại Khanh Châu Tấn, Lâm Sanh Xuân NươngLý Chơn Tâm.[10] Năm 1973, bà thành lập Công ty Điện ảnh Kim Cương, cho ra mắt bộ phim Biển động. Cũng trong cùng năm, Công ty Điện ảnh Kim Cương hợp tác với hãng phim Tân Kiệt sản xuất bộ phim Chiếc bóng bên đường, cùng lấy tên là hãng phim Kinh Đô, do Kim Cương tham gia viết lời thoại và sản xuất.[10] Bộ phim tham dự Liên hoan phim châu Á lần thứ 20 và đoạt giải Lời thoại xuất sắc nhất. Kim Cương cũng đoạt giải Nữ diễn viên xuất sắc qua bộ phim Người chồng bất đắc dĩ.[15]

Sau năm 1975, Kim Cương và đoàn kịch nói tiếp tục hoạt động sôi nổi trong nước. Đoàn gắn bó với khán giả qua các tác phẩm như Lá sầu riêng, Trà hoa nữ, Tôi làm mẹ, Người tình trễ xeTania. Đến năm 1994, bà và đoàn dừng hoạt động vì bối cảnh khó khăn của sân khấu.[16]

Từ giã sân khấu, Kim Cương phần lớn tham gia các hoạt động thiện nguyện, nổi bật như quỹ học bổng Bảy Nam cho con em nghệ sĩ nghèo.[17] Bà cùng Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình "Trái tim yêu thương", chăm lo cho 150 trẻ em mồ côi.[16] Bà cũng tham gia chương trình "Nghệ sĩ tri âm" đều đặn suốt 10 năm, hỗ trợ các nghệ sĩ nghèo, bệnh tật.[18]

Hồi ký nghệ sĩ Kim Cương: Sống cho người – Sống cho mình

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 5 năm 2016, Kim Cương ra mắt cuốn hồi ký của bà Sống cho người – sống cho mình. Bà có ý định viết hồi ký từ năm 1973 nhưng do gặp nhiều trở ngại nên cuốn hồi ký bị bỏ dở, 40 năm sau hồi ký mới chính thức ra mắt độc giả.[19][20]

Năm 2022, sau 6 năm, bà quyết định chuyển thể hồi ký thành phiên bản audio với sự tham gia của nghệ sĩ lồng tiếng như Thy Mai, Đạt Phi, Văn Ngà và các nghệ sĩ khách mời Kim Xuân, Thành Lộc, Hữu Châu, diễn viên Trúc Anh,… Tổng đạo diễn là nghệ sĩ lồng tiếng Đạt Phi cùng đạo diễn âm thanh Hoà Bình tham gia hậu kì âm thanh tiếng động. Audio có thời lượng 1000 phút, chia thành 25 câu chuyện về 40 năm làm nghề và hơn 80 năm cuộc đời của nghệ sĩ Kim Cương. Phiên bản audio giữ cấu trúc chính của sách hồi ký với 4 phần: "Tuổi thơ nghiệt ngã", "Sân khấu và cuộc đời", "Những người trong đời tôi", "Sống và yêu". Audio hồi ký được phát miễn phí trên các nền tảng số YouTube, Spotify và Apple Podcast.

Giải thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nữ diễn viên xuất sắc (Liên hoan phim châu Á lần thứ 20 năm 1974)
  • Lời thoại xuất sắc nhất (Liên hoan phim châu Á lần thứ 20 năm 1974)
  • Nghệ sĩ Ưu tú (1988)
  • Nghệ sĩ Nhân dân (2011)

Hoạt động nghệ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

Cải lương

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Điêu Thuyền (trong vở Phụng Nghi Đình)
  • A Liễu (trong Giai nhân và ác quỷ)
  • Na Tra (trong Na Tra lóc thịt)

Thoại kịch

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Diệu (trong vở Lá sầu riêng)
  • Bê, Bích (trong vở Dưới hai màu áo)
  • Trà hoa nữ (trong vở Trà hoa nữ)
  • Tania (trong vở Tania)
  • Nhân danh công lý
  • Vực thẳm chiều cao
  • Người tình trễ xe
  • Lan và Điệp
  • Biển động
  • Lôi Vũ
  • Bông hồng cài áo

Phim ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Lòng nhân đạo
  • Ngọc Bồ Đề (1956)
  • Bích câu kỳ ngộ
  • Lưu Bình – Dương Lễ (1957)
  • Lý Chơn Tâm cỡi củi
  • Ám ảnh
  • Đôi mắt huyền (1960)
  • Bẽ bàng (1961)
  • Mưa rừng (phim) (1962)
  • Loan mắt nhung (1970)
  • Biển động (1971)
  • Mưa trong bình minh (1972)
  • Chiếc bóng bên đường (1973)
  • Tứ quái Sài Gòn (1973)
  • Người chồng bất đắc dĩ (1974)
  • Đất khổ (1974)
  • Một thoáng đam mê
  • Nhạc lòng năm cũ
  • Lá sầu riêng (1993)
  • Trà hoa nữ (1994)
  • Nụ hôn đầu xuân
  • Phụng Nghi Đình
  • Giọt máu rơi
  • Dưới hai màu áo
  • Người tình trễ xe
  • Sắc hoa màu nhớ (1993)
  • Huyền thoại mẹ
  • Người mua hạnh phúc
  • Trương Chi – Mỵ Nương

Các kịch bản do Hoàng Dũng (Kim Cương) viết

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Lá sầu riêng
  • Dưới hai màu áo
  • Trà hoa nữ
  • Tôi làm mẹ
  • Vực thẳm chiều cao
  • Bông hồng cài áo

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b "Hồi ký Kim Cương".
  2. ^ a b "Ai tin". Công luận báo. ngày 11 tháng 1 năm 1930. tr. 2.
  3. ^ a b c "Cận cảnh căn nhà gắn bó 50 năm với NSND Kim Cương". Dân trí. ngày 22 tháng 2 năm 2019.
  4. ^ a b "Những gia tộc cải lương lừng danh: Gánh hát Phước Cương diễn trên đất Pháp". Báo Thanh Niên. ngày 22 tháng 5 năm 2021.
  5. ^ Trần, Viết Ngạc. "TUYẾT SỈ CHO CỰU HOÀNG THÀNH THÁI và NGHỆ SĨ LƯU THỊ NGOẠN".
  6. ^ a b "Gánh hát cải lương Nam-kỳ PHƯỚC-TƯỜNG". Tràng An báo. ngày 12 tháng 5 năm 1942.
  7. ^ "Đêm thứ tư 8 Février 1939". Điễn tín. ngày 6 tháng 2 năm 1939. tr. 2.
  8. ^ "Tiểu sử Kỳ nữ Kim Cương". 2021.
  9. ^ a b "Kỳ nữ" Kim Cương - Kỳ 1: Vào nghề
  10. ^ a b c d e Nguyễn Thị, Kim Cương (2016). Hồi ký nghệ sĩ Kim Cương: Sống cho người – Sống cho mình.
  11. ^ Nguyễn, Phương. Ngũ đại gia của sân khấu cải lương.
  12. ^ "Kỳ nữ Kim Cương và tình yêu đầu tiên". Tuổi trẻ.
  13. ^ Thúy Nga Paris có thể bị kiện ra tòa án Mỹ
  14. ^ Mặc Lâm, Kỳ nữ Kim Cương và tuyệt tác Lá Sầu Riêng, RFA 2008.
  15. ^ Tống, Phước Bảo (ngày 14 tháng 9 năm 2024). "NSND Kim Cương: Thương một mối tình, giữ gìn tâm đạo".
  16. ^ a b Mai Nhật (ngày 7 tháng 5 năm 2025). "Nghệ sĩ Kim Cương - 'kỳ nữ' sân khấu Sài Gòn".
  17. ^ Ngọc Tuyết (ngày 3 tháng 2 năm 2021). "Trao 30 suất học bổng mang tên NSND Bảy Nam". Trang tin điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh.
  18. ^ Linh Đoan. "Nghệ sĩ Kim Cương lại nói sẽ tri âm lần cuối". Tuổi trẻ.
  19. ^ ""Kỳ nữ" Kim Cương tiết lộ những sự thật gai người trong hồi ký". Báo điện tử của Báo Gia đình và Xã hội. ngày 11 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
  20. ^ "Nghệ sĩ Kim Cương viết hồi ký ở tuổi 80". Báo Hànộimới. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.

Chú giải

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Nguyễn Ngọc Cương lấy người vợ đầu là nghệ sĩ Năm Nhỏ (1895–1938), người Cái Vồn, tỉnh Cần Thơ. Thập niên 1920, ông kết hôn với nghệ sĩ Năm Phỉ. Sau này, ông mới lấy nghệ sĩ Bảy Nam – em nghệ sĩ Năm Phỉ.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Kim Cương những điều chưa kể
  • Cuộc gặp gỡ giữa 2 nghệ sĩ Kim Cương và Kim Tuyến trên đất Mỹ
  • Kim Cương trở lại
  • Kim Cương tạ ơn đời
  • sĩ Nhân dân-kim-cuong.aspx Live show đầu tiên của Nghệ sĩ Nhân dân Kim Cương
  • "Kỳ nữ" Kim Cương: Kỳ 1, Kỳ 2
Stub icon

Bài viết liên quan đến nghệ thuật này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

  • x
  • t
  • s

Từ khóa » Tiểu Sử Nghệ Sĩ Kim Cương