Konami – Wikipedia Tiếng Việt

Công ty giải trí và trò chơi điện tử Nhật BảnBản mẫu:SHORTDESC:Công ty giải trí và trò chơi điện tử Nhật Bản Đừng nhầm với Conami hoặc Konani. Tập đoàn Konami
Logo sử dụng từ năm 2003.
Trụ sở chính tại Ginza, Chūō, Tokyo
Tên bản ngữ株式会社コナミホールディングス
Tên phiên âmKonami Gurūpu kabushiki-gaisha
Tên cũ
  • Leijac Co, Ltd. (1969–1973)
  • Konami Industry Co., Ltd. (1973–1991)
  • Konami Co., Ltd (1991–2000)
  • Konami Corporation (2000–2015)
  • Konami Holdings Corporation (2015–2022)
Loại hìnhCông ty đại chúng
Mã niêm yếtTYO: 9766
Ngành nghề
  • Trò chơi điện tử
  • Giải trí
Thành lập21 tháng 3 năm 1969; 56 năm trước (1969-03-21)
Người sáng lậpKōzuki Kagemasa
Trụ sở chínhGinza, Chūō, Tokyo, Nhật Bản
Khu vực hoạt độngToàn thế giới
Thành viên chủ chốt
  • Kozuki Kagemasa (chủ tịch)
  • Higashio Kimihiko (tổng giám đốc)
  • Hayakawa Hideki (tổng giám đốc Konami Digital Entertainment)
Sản phẩmDanh sách trò chơi của Konami
Doanh thuTăng ¥262.8 tỷ [1] (2020)
Lợi nhuận kinh doanhGiảm ¥ 31 tỷ[1] (2020)
Lãi thựcGiảm ¥ 19.9 tỷ[1] (2020)
Chủ sở hữuGia tộc Kozuki (29%)[2]
Số nhân viênKonami (tổng)9,268 (09/2025)[3]Konami Digital Entertainment2,102 (09/2025)[4]Konami Arcade Games501 (10/2025)[5]Konami Sports4,668[6] (09/2025)
Websitewww.konami.com/en/

Konami Group Corporation (Nhật: コナミグループ株式会社, Hepburn: Konami Gurūpu kabushiki-gaisha?), hay thường gọi là Konami,[nb 1] là một tập đoàn giải trí và kinh doanh của Nhật Bản. Công ty phân phối sản phẩm (sản xuất và phân phối thẻ bài giao dịch, anime, tokusatsu, máy đánh bạc, máy pachinko và máy game thùng), nhà phát triển và phát hành trò chơi điện tử có trụ sở ở Chūō, Tokyo. Công ty có sòng bạc trên khắp thế giới và điều hành các câu lạc bộ thể dục thể chất và sức khỏe trên khắp Nhật Bản.

Konami do Kōzuki Kagemasa, hiện vẫn là chủ tịch hội đồng quản trị của công ty, thành lập từ năm 1969 với tư cách là một công ty cho thuê và sửa chữa máy hát đĩa tự động ở Toyonaka, Osaka, Nhật Bản. Cái tên Konami là sự kết hợp giữa Kozuki Kagemasa, Nakama Yoshinobu, và Miyasako Tatsuo.[7]. Loạt sản phẩm trò chơi điện tử của Konami gồm có Metal Gear, Silent Hill, Castlevania, Contra, Frogger, Tokimeki Memorial, Parodius, Gradius, Yu-Gi-Oh!, Suikoden,Pro Evolution Soccer. Ngoài ra Konami còn sở hữu Bemani, nổi tiếng với Dance Dance RevolutionBeatmania cũng như tài sản của cựu công ty Hudson Soft như Bomberman, Adventure Island, BonkStar Soldier. Konami là công ty trò chơi điện tử lớn thứ 20 trên thế giới tính theo doanh thu.[8] Konami cũng sản xuất Yu-Gi-Oh Trading Card Game, một trong những trò chơi thẻ bài bán chạy nhất trong lịch sử.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
Yu-Gi-Oh! Trading Card Game được phát triển và xuất bản bởi Konami. Năm 2011, Guinness World Records gọi nó là trò chơi giao dịch thẻ bài bán chạy nhất trong lịch sử, với 25,2 tỷ thẻ được bán trên toàn thế giới.[9]

Công ty thành lập ngày 21 tháng 3 năm 1969 và lấy tên chính thức là Konami Industry Co., Ltd. (コナミ工業株式会社, Konami Kōgyō Kabushiki Gaisha?) vào ngày 19 tháng 3 năm 1973.[10][11] Người sáng lập và cũng là chủ tịch hiện tại của công ty, Kozuki Kagemasa, trước đây điều hành một công ty cho thuê và sửa chữa máy hát tự động ở Toyonaka, Osaka trước khi chuyển đổi công ty thành một công ty sản xuất trò chơi điện tử. Trò chơi hoạt động bằng đồng xu đầu tiên phát hành vào năm 1978 và bắt đầu xuất khẩu sản phẩm sang Hoa Kỳ vào năm sau đó.[12][13]

Konami bắt đầu đạt được thành công với các tựa trò chơi gây tiếng vang vào những năm 1981 như Frogger, Scramble, và Super Cobra, đa phần đã được cấp phép để phát hành rộng rãi, bao gồm Stern Electronics và Gremlin Industries. Cuối cùng họ quyết định thành lập công ty con, Konami of America, Inc. vào năm 1982. Trong giai đoạn này Konami bắt đầu mở rộng kinh doanh trò chơi điện tử lên thị trường gia đình sau một thời gian ngắn phát hành cho hệ máy Atari 2600 năm 1982 ở thị trường Mỹ.[14] Công ty cũng phát hành nhiều trò chơi cho máy vi tính gia đình MSX vào năm 1983, tiếp theo là Nintendo Entertainment System vào năm 1985.[15][16] Nhiều thương hiệu Konami được thành lập trong giai đoạn này trên cả hai nền tảng, cũng như các trò chơi trò chơi thùng, như Gradius, Castlevania, Twin Bee, Ganbare Goemon, ContraMetal Gear. Do sự thành công của các trò chơi NES, thu nhập của Konami đã tăng từ 10 triệu đô la năm 1987 lên 300 triệu đô la vào năm 1991.[17]

Vào tháng 6 năm 1991, tên hợp pháp của Konami đã đổi thành Konami Co., Ltd. (コナミ株式会社, Konami Kabushiki Gaisha?). Và trụ sở chính chuyển đến Minato, Tokyo vào tháng 4 năm 1993.[12] Công ty bắt đầu hỗ trợ những trò chơi 16 bit, bắt đầu với Super NES vào năm 1990, tiếp theo là PC Engine vào năm 1991 và Sega Genesis vào năm 1992.

Sau khi Sega Saturn và PlayStation ra mắt vào năm 1994, Konami trở thành một tập đoàn với sự thành lập của nhiều công ty con Konami Computer Entertainment (KCE) khác nhau, bắt đầu với KCE Tokyo và KCE Osaka (sau này được gọi là KCE Studios) vào tháng 4 năm 1995, tiếp theo là KCE Japan (sau này được gọi là Kojima Productions) vào tháng 4 năm 1996. Mỗi công ty con của KCE tạo ra các sản phẩm trí tuệ khác nhau như loạt Silent Hill của KCE Tokyo và Metal Gear Solid của KCE Japan (hồi sinh của loạt Metal Gear trên MSX). Năm 1997, Konami bắt đầu sản xuất các trò chơi theo nhịp điệu dưới thương hiệu Bemani và cả kinh doanh trò chơi sưu tập thẻ bài với sự ra mắt của Yu-Gi-Oh! Trading Card Game.[18][19]

Vào tháng 7 năm 2000, tên tiếng Anh hợp pháp của công ty đã được thay đổi một lần nữa thành Konami Corporation, tuy nhiên, tên pháp lý tiếng Nhật vẫn giữ nguyên. Khi công ty chuyển sang phát triển video trò chơi cho các máy chơi trò chơi thế hệ thứ sáu, họ cũng kinh doanh sang mảng sức khỏe và thể dục với việc mua lại People Co., Ltd và Daiei Olympic Sports Club, Inc., đã trở thành công ty con của Konami. Vào tháng 8 năm 2001, Konami đầu tư vào một nhà phát triển trò chơi video khác, Hudson Soft, trở thành công ty con hợp nhất sau khi Konami chấp nhận các cổ phiếu mới của bên thứ ba do họ phát hành. Vào tháng 3 năm 2006, Konami sáp nhập tất cả các đơn vị phát triển trò chơi video thành một công ty con mới được gọi là Konami Digital Entertainment Co. (KDE), vì công ty mẹ đã trở thành công ty mẹ thuần túy. Trụ sở được di dời một lần nữa, lần này là Minato, Tokyo, vào năm 2007.[12]

Việc sáp nhập Hudson Soft trong năm 2012 dẫn đến việc bổ sung một số thương hiệu khác bao gồm: Adventure Island, Bonk, Bloody Roar, Bomberman, Far East of Eden và Star Soldier.[20][21]

Tháng 4 năm 2015, Konami đã tự rút tên khỏi thị trường chứng khoán New York sau khi giải thể công ty con Kojima Productions.[22] Trong một cuộc phỏng vấn với Nikkei Trendy Net được công bố vào sau đó, CEO mới của Konami Digital Entertainment, Hayakawa Hideki thông báo Konami sẽ tập trung vào mảng trò chơi trên di động, "Điện thoại di động chính là tương lai của ngành trò chơi điện tử.[23]" Tên thương mại của công ty được đổi từ Konami Corporation thành Konami Holdings Corporation trong cùng tháng.[24]

Năm 2017, Konami thông báo phát hành một số tựa trò chơi nổi tiếng khác sau thành công của Super Bomberman R trên Nintendo Switch.[25]

Đầu năm 2020, Konami chuyển trụ sở chính của họ đến quận Ginza của Tokyo, nơi có cơ sở tổ chức các sự kiện esports cũng như trường học dành cho người chơi esports.[26]

Trụ sở chính của Konami Digital Entertainment ở Bắc Mỹ tại Hawthorne, California

Ngày 25 tháng 1 năm 2021 Konami công bố một cuộc tái cơ cấu lớn của Konami Digital Entertainment, bao gồm việc giải thể Product Divisions 1, 2 và 3 để hợp nhất lại thành một cấu trúc mới sẽ được công bố vào thời gian sau. Konami khẳng định điều này sẽ không ảnh hưởng đến cam kết của họ đối với trò chơi video và chỉ là hoạt động tái cấu trúc nội bộ.[27]

Vào tháng 4 năm 2023, Konami thông báo đã mở một studio mới tại Osaka, Nhật Bản. Văn phòng mới này, nằm ở tòa nhà phía nam của Umeda Sky Building, sẽ hỗ trợ nhà phát triển trong nỗ lực phát triển và bền vững trong những thập kỷ tới. Konami cho rằng tòa nhà mới này sẽ là một thực thể cốt lõi trong các dự án hiện tại và tương lai của studio, đồng thời bày tỏ hy vọng Konami Osaka sẽ thúc đẩy "sự tăng trưởng bền vững" trong 50 năm tới.[28]

Vào tháng 2 năm 2024, Konami Digital Entertainment thông báo thành lập xưởng phim hoạt hình riêng mang tên Konami Animation.[29] Hãng phim sẽ đầu tư công nghệ đồ họa máy tính và bí quyết mà họ đã tích lũy được từ việc phát triển game vào lĩnh vực hoạt hình, và họ có kế hoạch không chỉ làm việc với các sản phẩm trí tuệ của Konami mà còn cả các sản phẩm khác nữa. Tác phẩm đầu tiên là một video quảng cáo cho lễ kỷ niệm 25 năm của Yu-Gi-Oh!.[30]

Vào tháng 5 năm 2025, Konami thông báo sẽ chuyển một phần mảng kinh doanh phát triển máy chơi game giải trí từ Konami Amusement sang một công ty mới có tên Konami Arcade Games.[31][32] Konami Amusement và Arcade Games sẽ tập trung vào lĩnh vực kinh doanh máy chơi pachinko và trò chơi điện tử thùng.[33]

Vào tháng 11 năm 2025, sau những lần phát hành thành công của Metal Gear Solid Delta: Snake EaterSilent Hill f,[34][35] Konami đã ký một liên minh chiến lược và hợp tác với CyberAgent (bao gồm Cygames) và Electronic Arts tập trung vào lĩnh vực kinh doanh trò chơi điện tử, cũng như việc JOC/JPC, NPB và J.League trở thành đối tác chính thức.[36]

Cấu trúc tập đoàn

[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở chính của Konami đặt tại Tokyo. Tại Hoa Kỳ, Konami quản lý mảng kinh doanh trò chơi điện tử/máy chơi game thùng/thẻ bài từ Hawthorne, California, và mảng kinh doanh trò chơi casino từ Paradise, Nevada. Hoạt động kinh doanh trò chơi tại Úc của công ty đặt tại Sydney. Tính đến tháng 3 năm 2019, công ty sở hữu 22 công ty con hợp nhất trên toàn thế giới.[3]

Nhật Bản

[sửa | sửa mã nguồn]
Konami Sports Club ở Toyohashi. Konami Sports & Life điều hành các câu lạc bộ thể dục trên khắp Nhật Bản.
Gian hàng Konami Digital Entertainment tại Taipei Game Show 2017
  • Tập đoàn Konami: Công ty mẹ và trụ sở chính[37][38]
  • Công ty TNHH Giải trí Kỹ thuật số Konami: Lập kế hoạch, sản xuất, phát hành, phát triển và bán các trò chơi di động, trò chơi tại nhà, trò chơi bài, phần mềm âm nhạc và video và hàng hóa liên quan.
  • Công ty TNHH Thể thao Konami: Quản lý các câu lạc bộ thể dục và các lớp học thể thao bao gồm bơi lội, thể dục dụng cụ, khiêu vũ, bóng đá, quần vợt và golf, và phát triển, sản xuất và bán các sản phẩm liên quan đến thể thao.
  • Công ty TNHH Giải trí Konami: Sản xuất, chế tạo và bán máy pachinko và pachislot.
  • Công ty TNHH Trò chơi Arcade Konami: Sản xuất, chế tạo và bán máy arcade.
  • Công ty TNHH Chuyên gia Kinh doanh Konami.
  • Công ty TNHH Bất động sản Konami.
  • Công ty TNHH KPE.
  • Công ty TNHH Công nghệ Trò chơi Konami: Sản xuất, chế tạo và phân phối máy chơi game và hệ thống quản lý sòng bạc.
  • Quỹ Kozuki.

Úc

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Konami Australia Pty Ltd (thành lập năm 1996): Sản xuất, chế tạo và phân phối máy chơi game và hệ thống quản lý sòng bạc.

Mỹ

[sửa | sửa mã nguồn]
Gian hàng Konami America tại E3 2006
  • Konami Digital Entertainment, Inc.: công ty mẹ cũ của Mỹ, trước đây là Konami of America Inc., Konami Corporation of America. Ngày 13 tháng 10 năm 2003, tập đoàn Konami của Redwood City, California thông báo họ sẽ mở rộng hoạt động sang El Segundo, California dưới tên mới Konami Digital Entertainment, Inc. Các hoạt động của Redwood City đã được hợp nhất thành El Segundo năm 2007.[39]
  • Tập đoàn Konami của Mỹ: Công ty mẹ có trụ sở tại Hoa Kỳ
  • Konami Gaming, Inc. tại Paradise, Nevada: Sản xuất, chế tạo và phân phối máy chơi game và hệ thống quản lý sòng bạc.
    • Konami Cross Media NY

Châu Âu

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Konami Digital Entertainment B.V.: Chi nhánh khu vực châu Âu chuyên xuất bản và phân phối các sản phẩm của Konami.

Châu Á

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Konami Digital Entertainment Limited (科 樂 美 數碼 娛樂 有限公司): thành lập tháng 9 năm 1994 với tên gọi Konami (Hong Kong) Limited. Bộ phận Hàn Quốc và Singapore thành lập tháng 10 năm 2000. Vào tháng 6 năm 2001, công ty đổi tên thành Konami Marketing (Asia) Ltd. (科 樂 美 行銷 (亞洲) 有限公司). Vào tháng 3 năm 2006, công ty đổi tên thành Konami Digital Entertainment Limited.[40][41]

Ngày 7 tháng 11 năm 2005, Konami Corporation chính thức công bố tái cấu trúc Konami Corporation thành công ty cổ phần, bằng cách chuyển đổi Japanese Digital Entertainment Business trực thuộcKonami Corporation. Digital Entertainment Business sẽ trở thành Konami Digital Entertainment Co., Ltd. Konami Corporation mới thành lập bắt đầu hoạt động vào ngày 31 tháng 3 năm 2006.[42]

Konami Digital Entertainment

[sửa | sửa mã nguồn] Konami Digital Entertainment Co., Ltd.
Tên bản ngữ株式会社コナミデジタルエンタテインメント
Tên phiên âmKabushiki-gaisha Konami Dejitaru Entateinmento
Loại hìnhCông ty con
Ngành nghềTrò chơi điện tử Nhà sản xuất trò chơi điện tử
Thành lập31 tháng 3 năm 2006; 19 năm trước (2006-03-31)
Trụ sở chínhGinza, Chūō, Tokyo, Nhật Bản
Thành viên chủ chốtHayakawa Hideki (Tổng giám đốc)
Sản phẩmDanh sách trò chơi của Konami
Số nhân viên2,102 (09/2025)[43]
Công ty mẹKonami
Công ty conKonami Digital Entertainment, Inc.Konami Digital Entertainment BVKonami Digital Entertainment LimitedKonami Animation
Websitewww.konami.com/games/corporate/en/
Hệ thống nạp Paseli. Paseli (パセリ) là một loại Tiền điện tử do Konami Amusement ra mắt năm 2010.

Konami Digital Entertainment Co., Ltd. (株式会社コナミデジタルエンタテインメント, Kabushiki-gaisha Konami Dejitaru Entateinmento?) là bộ phận phát triển và phát hành trò chơi điện tử của Nhật Bản thành lập ngày 31 tháng 3 năm 2006.[44] Công ty mua lại Hudson Soft. Trước khi Konami Corporation chính thức đổi thành công ty mẹ năm 2006, nhiều hình thức của Konami Digital Entertainment đã được thành lập trở thành công ty cổ phần hoặc nhà sản xuất. Công ty cuối cùng Konami Digital Entertainment Co., Ltd., được tách ra từ Konami Corporation trong quá trình tái cấu trúc công ty cổ phần.[45]

Công ty con

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Konami Digital Entertainment, Inc.: Chi nhánh Bắc Mỹ, thành lập ngày 13 tháng 10 năm 2003.
  • Konami Digital Entertainment BV: Chi nhánh Châu Âu, thành lập ngày 1 tháng 4 năm 2003.
  • Konami Digital Entertainment Limited: Chi nhánh Hồng Kông. Thành lập tháng 9 năm 1994 với tên Konami (Hong Kong) Limited. Tháng 3 năm 2006, đổi tên thành Konami Digital Entertainment Limited.
  • Konami Animation: Xưởng phim hoạt hình thành lập năm 2023.

Công ty con cũ

[sửa | sửa mã nguồn]

Konami Computer Entertainment Nagoya, Inc (KCEN), được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1996,[46] giải thể cùng với Konami Computer Entertainment Kobe, Inc. (KCEK) vào tháng 12 năm 2002.[47]

Ngày 16 tháng 12 năm 2004, Konami Corporation công bố Konami Online, Inc., Konami Computer Entertainment Studios, Inc., Konami Computer Entertainment Tokyo, Inc., Konami Computer Entertainment Japan, Inc. hợp nhất vào Konami Corporation, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2005.[48]

Ngày 22 tháng 2 năm 2005, Konami Corporation công bố Konami Media Entertainment, Inc. hợp nhất vào Konami Corporation, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2005.[49] Ngày 11 tháng 3 năm 2005, Konami Corporation công bố Konami Traumer, Inc. hợp nhất trở lại Konami Copporation, hiệu lực vào ngày 1 tháng 6 năm 2005.[50]

Ngày 5 tháng 1 năm 2006, Konami Corporation thông báo sáp nhập Konami Sports Corporation với công ty mẹ, Konami Sports Life Corporation. Công ty mẹ bị giải thể sau khi sáp nhập, và Konami Sports trở thành công ty con của Konami Corporation sau khi trao đổi cổ phiếu giữa KC và KS. KS sẽ được đổi tên thành Konami Sports & Life Co.,Ltd.[51] Ngày 28 tháng 2 năm 2006, Konami Sports Corporation sáp nhập với công ty mẹ, Konami Sports Life Corporation, và trở thành Konami Sports Corporation.[52]

Ngày 21 tháng 9 năm 2010, Konami Corporation thông báo đã ký thỏa thuận mua lại Abilit Corporation thông qua trao đổi cổ phiếu. Abilit trở thành công ty con của Konami Corporation, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2011.[53][54] Cùng ngày đó, Abilit Corporation đổi tên thành Takasago Electric Industry Co.,Ltd.[55] Là một phần của việc mua lại, Biz Share Corporation cũng trở thành một công ty con của Konami Corporation.

Megacyber Corporation

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 10 năm 2006, Konami Corporation thông báo họ đã hoàn thành việc mua lại nhà phát triển nội dung trên điện thoại di động Megacyber Corporation.[56]

Ngày 6 tháng 2 năm 2007, Konami Corporation công bố Megacyber Corporation sáp nhập vào Konami Digital Entertainment Co., Ltd., có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2007.[57]

Hudson Soft

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Hudson Soft § Quan hệ với Konami

Vào ngày 1 tháng 4 năm 2011, Konami đã mua lại công ty phát triển trò chơi điện tử Hudson Soft,[58] một công ty mà Konami nắm giữ cổ phần chi phối kể từ ngày 11 tháng 4 năm 2005.[59]

Vào ngày 1 tháng 3 năm 2012, Hudson Soft sáp nhập với Konami Digital Entertainment, và Konami Digital Entertainment trở thành thực thể tồn tại sau sáp nhập.[60]

Trò chơi điện tử

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Danh sách trò chơi của Konami
Một máy Dance Dance Revolution.

Các tựa trò chơi chính của Konami bao gồm loạt ma cà rồng-đi cảnh màn hình ngang Castlevania, loạt kinh dị sống còn Silent Hill, loạt hành động / bắn súng Contra, loạt phiêu lưu Ganbare Goemon, loạt phim phiêu lưu đi cảnh Rocket Knight Adventures, loạt hành động gián điệp Metal Gear, loạt nhập vai Suikoden, loạt âm nhạc theo nhịp điệu của Bemani (bao gồm Dance Dance Revolution, Beatmania IIDX, GuitarFreaks, DrumMania, và Pop'n Music), Dancing with the Stars, mô phỏng hẹn hò Tokimeki Memorial và mô phỏng bóng đá Pro Evolution Soccer.[61]

Konami đã sản xuất các trò chơi điện tử thùng như Gradius, Life Force, Time Pilot, Gyruss, Parodius, Axelay, và TwinBee. Các trò chơi của Konami dựa trên giấy phép hoạt hình, đặc biệt là Batman: The Animated Series, Teenage Mutant Ninja Turtles, Tiny Toon Adventures và dòng Animaniacs, nhưng các tác phẩm sản xuất khác của Mỹ như The Simpsons, Bucky O'Hare, G.I. Joe, X-MenThe Goonies và hoạt hình Pháp Asterix tất cả đều đã được Konami phát hành vào một thời điểm nào đó trong quá khứ hoặc trên các trò chơi điện tử và/hoặc máy chơi trò chơi điện tử.

Một số thương hiệu mang phong cách điện ảnh từ Konami là trò chơi kinh dị sống còn Silent Hill, và Metal Gear. Một thương hiệu thành công khác là Winning Eleven, phần tiếp theo kinh điển của International Superstar Soccer. Ở Nhật Bản các loạt nổi tiếng gồm trò chơi bóng chày Jikkyō Powerful Pro YakyūZone of the Enders. Công ty gần đây cũng đã chọn Saw từ Brash Entertainment khi sản phẩm đã bị tạm ngưng do các vấn đề về tài chính.[62]

Konami cũng được biết đến với mã ăn gian kinh điển, mã Konami, mà theo truyền thống là sẽ cung cấp sức mạnh nào đó trong các trò chơi của hãng.

FIFA gần đây đã công bố Konami là đối tác thể thao điện tử chính thức mới. Sự hợp tác này cho phép FIFA tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới FIFAe bằng trò chơi eFootball của Konami thay vì EA Sports FC 24. Người chơi hiện có thể tham gia các trận đấu vòng loại cho hai giải đấu dự kiến ​​diễn ra vào năm 2024: một dành cho thiết bị di động và một dành cho máy chơi trò chơi điện tử. Quan hệ đối tác này nhằm mục đích nâng cao sự hiện diện của eFootball và thu hút người chơi mới, đặc biệt là những người đã từng e ngại vì các vấn đề trước đây của trò chơi.[63][64]

Phát hành phim

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, Konami bắt đầu sản xuất phim dựa trên các thương hiệu nổi tiếng. Konami phát hành phim Silent Hill (2006) và thông báo sẽ sản xuất một bộ phim cho Metal Gear Solid.[65] Vào ngày 4 tháng 12 năm 2020, Deadline đưa tin Oscar Isaac sẽ đóng vai Solid Snake trong bản chuyển thể, hiện đang được Sony Pictures phát triển với Jordan Vogt-Roberts làm đạo diễn.[66]

Máy tính cá nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2020, Konami ra mắt thương hiệu máy tính chuyên chơi trò chơi ở Nhật Bản gọi là Arespear, bao gồm máy tính để bàn, bàn phím và tai nghe (thương hiệu cuối cùng được thiết kế với sự hợp tác của các nhạc sĩ Bemani của Konami).[67][68][69]

Phê bình và tranh cãi

[sửa | sửa mã nguồn]

Silent Hills và giảm việc phát triển trò chơi điện tử

[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm: Silent Hills và P.T. (trò chơi điện tử) § Di sản

Silent Hills, là phần thứ chín của loạt Silent Hill, đã đột ngột bị hủy vào tháng 4 năm 2015 mà không có lời giải thích nào, mặc dù được vô số khen ngợi và thành công sau khi công bố P.T., một đoạn giới thiệu ngắn có thể chơi được.[70][71] Vài giờ sau khi ra thông báo, Konami đã tự xóa tên khỏi New York Stock Exchange.[22]

Đồng giám đốc và biên kịch Guillermo del Toro công khai chỉ trích việc hủy bỏ, và đặt câu hỏi về những gì ông mô tả như một phương pháp "đốt sạch phá sạch" để nhằm loại bỏ đoạn giới thiệu. Theo kinh nghiệm, del Toro nhấn mạnh ông sẽ không bao giờ làm việc cho trò chơi điện tử nào nữa.[72][73]

Vào năm 2015, Giám đốc điều hành của Konami Digital Entertainment là Hayakawa Hideki, tuyên bố ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, Konami sẽ ngừng sản xuất trò chơi cho máy console và thay vào đó tập trung vào nền tảng trò chơi di động. Quyết định này đã bị cộng đồng game thủ chỉ trích nặng nề.[74][75][76][77] Graham Day, người quản lý cộng đồng của Konami UK, ngay sau đó đã phản bác lại những thông tin cho rằng Konami sẽ ngừng sản xuất các tựa game AAA, khẳng định rằng ông tin rằng nguyên nhân gốc rễ của vấn đề là do dịch sai hoặc hiểu sai lời phát biểu của Hayakawa.[78]

Kojima Productions

[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm thông tin: Kojima Productions § Đóng cửa

Vào ngày 3 tháng 3 năm 2015, Konami thông báo họ sẽ chuyển trọng tâm ra khỏi các xưởng riêng lẻ, đặc biệt là Kojima Productions. Các nguồn nội bộ cho rằng việc tái cơ cấu là do một cuộc đụng độ giữa Kojima Hideo và Konami.[79][80] Dựa trên việc Kojima Hideo bị loại khỏi tài liệu tiếp thị, và vị trí của Kojima với tư cách Phó Chủ tịch điều hành của Konami Digital Entertainment đã bị xóa khỏi danh sách chính thức của công ty.[81]

Cuối năm đó, bộ phận pháp lý của Konami đã ngăn cản Kojima Hideo nhận giải Trò chơi Hành động-Phiêu lưu hay nhất cho cống hiến của ông trên Metal Gear Solid V: The Phantom Pain tại The Game Awards 2015. Khi được công bố trong sự kiện này, khán giả đã la ó vì không chấp thuận hành động của Konami. Chủ trì sự kiện Geoff Keighley bày tỏ sự thất vọng trong hành động của Konami. Sau khi diễn viên Kiefer Sutherland chấp nhận giải thưởng thay thế cho Kojima, dàn hợp xướng đã tự chơi bản nhạc "Quiet`s Theme" trích từ The Phantom Pain để tưởng nhớ đến việc Kojima bị vắng mặt.[82][83][84][85] Kojima rời Konami vài ngày sau đó, mở lại Kojima Productions như một công ty độc lập.

Đối xử với nhân viên và cựu nhân viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 8 năm 2015, The Nikkei chỉ trích Konami vì sự đối xử phi đạo đức của họ đối với nhân viên.[86][87][88] Vào tháng 6 năm 2017, The Nikkei tiếp tục báo cáo về những vụ đụng độ của Konami với Kojima Productions, ngăn cản đơn yêu cầu bảo hiểm y tế, cũng như hành động của Konami khiến cho các nhân viên cũ gặp khó khăn khi kiếm việc làm trong tương lai; đặc biệt là họ bị cấm đề cập đến công việc của họ ở Konami trong lý lịch của họ.[89][90] Konami cũng bắt đầu gửi đơn khiếu nại chống lại các công ty trò chơi khác có dự định thuê nhân viên cũ của Konami, dẫn đến việc một công ty trò chơi lớn không xác định cảnh báo nhân viên của mình không nên làm như vậy. Một cựu nhân viên của Konami cho biết: "Nếu một người cũ [nhân viên của Konami] được giới truyền thông phỏng vấn, công ty sẽ gửi cho người đó một lá thư thông qua đại diện hợp pháp, trong một số trường hợp cho thấy Konami sẵn sàng đưa họ ra tòa"; họ cũng gây áp lực buộc một nhân viên cũ phải đóng cửa doanh nghiệp mới của họ.[90]

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Treasure – một công ty trò chơi điện tử độc lập được thành lập bởi các cựu nhân viên Konami
  • Good-Feel – một công ty trò chơi điện tử độc lập được thành lập bởi các cựu nhân viên Konami
  • Ultra Games - một tập đoàn vỏ và nhãn xuất bản của Mỹ do Konami thành lập
  • Kojima Productions, một studio độc lập của Kojima Hideo có cùng tên với công ty con Konami trước đây

Ghi chú

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ IPA: /kˈnɑːmi/ koh-NAH-mee, tiếng Nhật: [koꜜnami]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c "Financial Highlights - KONAMI HOLDINGS CORPORATION". Konami.com. ngày 14 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  2. ^ "Shareholders Situation:As of March 31,2016 - KONAMI HOLDINGS CORPORATION". Konami.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  3. ^ a b "Corporate Data - KONAMI HOLDINGS CORPORATION". Konami.com. ngày 31 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019.
  4. ^ "Konami Digital Entertainment Co., Ltd. | Konami Digital Entertainment". www.konami.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
  5. ^ "Corporate information | Konami Arcade Games Co., Ltd". Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  6. ^ "コナミスポーツ|企業情報". Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
  7. ^ Kelvon Yeezy (2013). "The Stories Behind the Names of 15 Gaming Brands You Know". Hongkiat.com. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015.
  8. ^ "Top 25 gaming companies". Newzoo.com. 2015. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
  9. ^ "Best-selling trading card game company - cumulative". Guinness World Records. ngày 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
  10. ^ KONAMI. "Corporate Data - KONAMI HOLDINGS CORPORATION". Konami.com. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  11. ^ "Konami History". IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2015.
  12. ^ a b c KONAMI. "Corporate History - KONAMI HOLDINGS CORPORATION". www.konami.com.
  13. ^ "Konami - coin-operated machines". www.arcade-museum.com.
  14. ^ "Article 12—KONAMI CES BROCHURE (1983)". VIDEO-GAME-EPHEMERA.com.
  15. ^ "MSX software catalog (1983-1986)". Konami Group Homepage (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 1996. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  16. ^ "MSX software catalog (1987-1990)". Konami Group Homepage (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 1996. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  17. ^ "75 Power Players". Next Generation. Số 11. Imagine Media. tháng 11 năm 1995. tr. 69.
  18. ^ "Dance Dance Revolution made watching games fun before Twitch". polygon.com.
  19. ^ "The 25 Rarest Yu-Gi-Oh Cards (And What They're Worth)". thegamer.com. ngày 18 tháng 8 năm 2018.
  20. ^ "5 Hudson Soft Games Nintendo Should Buy From Konami". pastemagazine.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2019.
  21. ^ "ゲーム一覧 - 家庭用ゲーム - Wii - KONAMI コナミ製品・サービス情報サイト". KONAMI コナミ製品・サービス情報サイト.
  22. ^ a b Brian Crecente. "Konami delists itself from New York Stock Exchange". Polygon.
  23. ^ Crecente, Brian (ngày 14 tháng 5 năm 2015). "Konami CEO: 'Mobile is where the future of gaming lies'". Polygon (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2016. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  24. ^ "Corporate History". Konami. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2015.
  25. ^ Zarra, Jonathan. "Super Bomberman R Sales Indicate That It's The Best Selling In Its Franchise In Nearly 20 Years". Nintendork. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2017.
  26. ^ Batchelor, James. "Mobile, PES and esports: The three pillars of Konami". GamesIndustry.biz (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2020.
  27. ^ Skrebels, Joe (ngày 25 tháng 1 năm 2021). "No, Konami Hasn't Shut Down Its Gaming Division". IGN. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2021.
  28. ^ Moyse, Chris (ngày 4 tháng 4 năm 2023). "Konami opens new studio in Osaka, Japan". Destructoid. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2023.
  29. ^ "Konami Launches Anime Division & New Yu-Gi-Oh! 25th Anniversary Short, Digital Projects". ngày 8 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2024.
  30. ^ "KONAMI、アニメスタジオ「KONAMI animation」を設立--ゲーム制作のノウハウ活用". CNET Japan. ngày 4 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2024.
  31. ^ "Konami Group to Reorganize Businesses. Yoshitaka Nishimura Appointed to the New Company "Konami Arcade Games"". ngày 15 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2025.
  32. ^ "コナミグループがコナミアーケードゲームスを6月に設立。代表取締役社長はDJ YOSHITAKAとしても知られる西村宜隆氏". ファミ通.com (bằng tiếng Nhật). ngày 15 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2025.
  33. ^ "Konami to Establish 'Konami Arcade Games' Company in June". Anime News Network. ngày 17 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2025.
  34. ^ Cruz, Christopher (ngày 22 tháng 8 năm 2025). "'Metal Gear Solid Delta' Is a Gaming Dish Serving Up Mostly Reheated Leftovers". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  35. ^ Vincent, Hadley (ngày 22 tháng 9 năm 2025). "Silent Hill f review – Welcome home, you beauty". Destructoid. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2025.
  36. ^ "コナミデジタルエンタテインメントJリーグ特別大会「明治安田Jリーグ百年構想リーグ」のトップパートナーに決定". Konami Digital Entertainment (bằng tiếng Nhật). ngày 25 tháng 12 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
  37. ^ "Archived copy" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  38. ^ "コナミ、10月1日付けで「コナミホールディングス」に商号を変更 - インサイド". Konami.co.jp. ngày 9 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  39. ^ "KONAMI ESTABLISHES NEW COMPUTER & VIDEOGAMES OPERATION BASED IN LOS ANGELES, CALIFORNIA". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2006.
  40. ^ "About Us (English)". Konami-digital-entertainment.hk. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  41. ^ "About Us (Chinese)". Konami-digital-entertainment.hk. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  42. ^ "Announcement of Group Restructuring (Merger Between Subsidiaries, Stock Exchange with subsidiary) and Shift to Holding Company Structure by Company Separation". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2011.
  43. ^ "Konami Digital Entertainment Co., Ltd. | Konami Digital Entertainment". www.konami.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
  44. ^ "株式会社コナミデジタルエンタテインメント - 株式会社コナミデジタルエンタテインメント". Konami.com. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  45. ^ "Announcement of group restructuring (merger between subsidiaries, share exchange with subsidiary) and shift to holding company structure by company separation - News 2005 KONAMI". ngày 4 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2020.
  46. ^ "Company Info". KCE名古屋ホームページ. Konami Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010.
  47. ^ "Consolidated Financial Results for the Third Quarter and the Nine Months Ended ngày 31 tháng 12 năm 2002" (PDF). Investor Relations. Konami Co., Ltd. ngày 13 tháng 2 năm 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010.
  48. ^ "Konami's Merger with Konami Online". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2011.
  49. ^ "Konami – KME Merger Announcement". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2011.
  50. ^ "Announcement: Merger of Konami and Konami Traumer". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2011.
  51. ^ "Announcement of official agreement for group restructuring (merger between subsidiaries, share exchange with subsidiary) and shift to holding company structure by company separation". Konami.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  52. ^ "Konami Sports & Life history". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2008.
  53. ^ "KONAMI CORPORATION to Acquire Abilit Corporation through Stock Swap". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2012.
  54. ^ "Execution of Share Exchange Agreement by and between KONAMI CORPORATION and ABILITY CORPORATION" (PDF). Konami.co.jp. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  55. ^ "Abilit Corp.: Private Company Information". Investing.businessweek.com. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  56. ^ "Announcement of Share Acquisition of Megacyber Corporation". Konami.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  57. ^ "Announcement of Merger of Konami Digital Entertainment Co., Ltd. and Megacyber Corporation". Konami.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  58. ^ "Konami acquiring Hudson". GameSpot. CBS Interactive. ngày 20 tháng 1 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2018.
  59. ^ Carless, Simon (ngày 11 tháng 4 năm 2005). "Konami Gets Hudson Soft As Subsidiary". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2018.
  60. ^ "Hudson Ceases to Exist on March 1". Andriasang. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2018.
  61. ^ "A league of their own: six of the best football video games". The Guardian. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018.
  62. ^ "Saw videogame picked up by Konami?". ngày 5 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009.
  63. ^ Lang, Brad (ngày 10 tháng 10 năm 2024). "Konami Has Officially Replaced EA As FIFA's New Esports Partner". ScreenRant. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
  64. ^ Yin-Poole, Wesley (ngày 10 tháng 10 năm 2024). "Old Rivals Konami and FIFA Sign eFootball Esports Deal Following EA Sports Split". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
  65. ^ "Where did the Video Games site go?". Yahoo. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  66. ^ Kroll, Justin (ngày 4 tháng 12 năm 2020). "Oscar Isaac To Star As Solid Snake In Sony's 'Metal Gear Solid' Movie". Deadline (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2023.
  67. ^ Porter, Jon (ngày 29 tháng 7 năm 2020). "Apparently Konami makes desktop gaming PCs now?". The Verge (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.
  68. ^ 株式会社インプレス (ngày 28 tháng 7 năm 2020). "コナミ、ゲーミングPC「ARESPEAR」3機種を発売". PC Watch (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.
  69. ^ "Konami Launches a Line of Gaming Desktop PCs". PCMAG (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.
  70. ^ Smith, Dave. "What it's like to play the best game of 2014, which is about to disappear forever in 2 days". Business Insider. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015.
  71. ^ Orland, Kyle (ngày 8 tháng 5 năm 2015). "Discontinued PS4 horror demo P.T. worth hundreds on eBay". Ars Technica. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015.
  72. ^ Parfitt, Ben (ngày 15 tháng 10 năm 2015). "Del Toro says killing Silent Hills 'makes no f***ing sense'". MCV. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  73. ^ Kuchera, Ben (ngày 2 tháng 12 năm 2016). "Guillermo del Toro has a simple message: 'Fuck Konami'". Polygon (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2026.
  74. ^ Crecente, Brian. Konami CEO: 'Mobile is where the future of gaming lies'. Polygon. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018. Hideki Hayakawa: "Trò chơi đã lan rộng ra một số nền tảng, nhưng cuối cùng, nền tảng luôn gần gũi nhất với chúng ta, là thiết bị di động. Di động là tương lai của trò chơi... với các trò chơi đa nền, thực sự không còn lý do gì để phân chia thị trường thành các loại nữa. Điện thoại di động sẽ đảm nhận vai trò mới là liên kết công chúng với thế giới trò chơi."(Original interview in Japanese)
  75. ^ published, Will Usher (ngày 18 tháng 9 năm 2015). "Konami Will Stop Making Console Games, Report Says". Cinemablend (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2026.
  76. ^ McFerran, Damien. Konami's Creating A New Castlevania, But It's Not Coming To Consoles. Nintendo Life. retrieved on ngày 25 tháng 4 năm 2018. "Vâng, chúng tôi đang có một trò chơi Castlevania mới - nhưng trước khi bạn quá phấn khích, nó chỉ có trên iOS của Apple... Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, chúng tôi không khỏi cảm thấy hơi thất vọng khi Konami không tập trung vào việc làm đây là bản phát hành máy chơi trò chơi điện tử hạng AAA; loạt chắc chắn xứng đáng hơn nhiều."
  77. ^ Staff, G. R. (ngày 28 tháng 7 năm 2017). "Konami Shares Financial Outlook for Gaming". Game Rant (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2026.
  78. ^ Evangelho, Jason. "Konami: 'Our Commitment To AAA Console Games Has Never Changed'". Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2026.
  79. ^ "Announcing Official Organizational Restructuring and Personnel Changes". Konami-digital-entertainment.hk. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  80. ^ Ollie, Barder. "Understanding What Has Really Happened At Konami". Forbes.com. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  81. ^ Kain, Erik. "Konami Cuts Hideo Kojima From 'Metal Gear' Promo Materials". Forbes. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  82. ^ Tach, Dave. "Konami prevented Kojima from attending the Video Game Awards, host says". Polygon. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
  83. ^ Matulef, Jeffrey. "Konami blocked Hideo Kojima from attending The Game Awards". Euro Gamer. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
  84. ^ Klepek, Patrick. "Geoff Keighley: Konami Barred Hideo Kojima From Accepting Metal Gear Award". Kotaku. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
  85. ^ Skipper, Ben. "The Game Awards: Hideo Kojima banned from attending by Konami as show pays tribute". International Business Times. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  86. ^ "コナミ、カリスマ経営のほころび". The Nikkei. ngày 3 tháng 8 năm 2015.
  87. ^ Good, Owen S. "Japanese report says Konami is a deeply unhappy workplace". Polygon. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016.
  88. ^ Ashcraft, Brian. "Report: Konami Is Treating Its Staff Like Prisoners". Kotaku. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2018.
  89. ^ "コナミを去るクリエーターたち 王国の遠心力". The Nikkei. ngày 12 tháng 6 năm 2017.
  90. ^ a b "The Konami exodus". Nikkei Asian Review. ngày 14 tháng 6 năm 2017.

Nguồn

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Báo cáo thường niên của Konami: 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008. Chứa lịch sử tóm tắt của công ty
  • Lịch sử Tập đoàn Konami Lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2015 tại Wayback Machine

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Website chính thức
  • x
  • t
  • s
Các công ty Nikkei 225 của Nhật Bản
  • 7&i
  • Advantest
  • ÆON
  • AGC
  • Ajinomoto
  • Alps
  • ANA
  • Aozora Bank
  • Asahi Breweries
  • Asahi Kasei
  • Astellas
  • Bridgestone
  • Canon
  • Casio
  • Chiba Bank
  • Chiyoda
  • Chuden
  • Chugai
  • Citizen
  • Comsys
  • Concordia Financial
  • Credit Saison
  • Dai-ichi Life
  • Daiichi Sankyo
  • Daikin
  • Dainippon Screen
  • Dainippon Sumitomo Pharma
  • Daiwa House
  • Daiwa Securities
  • Denka
  • Denso
  • Dentsu
  • DNP
  • Dowa
  • Ebara
  • Eisai
  • Fanuc
  • Fast Retailing
  • Fuji Electric
  • Fuji Heavy Industries
  • Fujifilm
  • Fujikura
  • Fujitsu
  • Fukuoka Financial
  • Furukawa Co., Ltd.
  • Furukawa Electric
  • GS Yuasa
  • Heiwa Real Estate
  • Hino
  • Hitachi
  • Hitachi Construction Machinery
  • Hitz
  • Hokuetsu Paper
  • Honda
  • IHI
  • INPEX
  • Isetan-Mitsukoshi
  • Isuzu
  • Itochu
  • JFE
  • J. Front Retailing
  • JGC
  • JR Central
  • JR East
  • JR West
  • JSW
  • JT
  • JTEKT
  • JX
  • Kajima
  • KEPCO
  • Kao
  • Kawasaki
  • KDDI
  • Keio
  • Keisei
  • Kikkoman
  • Kirin
  • K Line
  • Kobelco
  • Komatsu
  • Konami
  • Konica Minolta
  • Kubota
  • Kuraray
  • Kyocera
  • Kyowa Hakko Kirin
  • Marubeni
  • Maruha Nichiro
  • Marui
  • Matsui Securities
  • Mazda
  • Meidensha
  • Meiji Holdings
  • MES
  • Minebea
  • Mitsubishi Chemical
  • Mitsubishi Corporation
  • Mitsubishi Electric
  • Mitsubishi Estate
  • Mitsubishi Heavy Industries
  • Mitsubishi Logistics
  • Mitsubishi Materials
  • Mitsubishi Motors
  • Mitsui & Co.
  • Mitsui Chemicals
  • Mitsui Fudosan
  • Mitsui Kinzoku
  • Mitsumi Electric
  • Mizuho
  • MOL
  • MS&AD
  • MUFG
  • NEC
  • NEG
  • NGK
  • Nichirei
  • Nikon
  • Nippon Express
  • Nippon Kayaku
  • Nippon Light Metal
  • Nippon Ham
  • Nippon Paper Industries
  • Nippon Soda
  • Nippon Suisan
  • Nissan
  • Nissan Chemical
  • Nisshin Seifun
  • Nisshin Steel
  • Nisshinbo
  • Nittobo
  • Nitto Denko
  • Sompo Japan Nipponkoa Holdings
  • Nomura
  • NSG
  • NSK
  • NSSMC
  • NTN
  • NTT
  • NTT Data
  • NTT DoCoMo
  • NYK
  • Obayashi
  • Odakyu
  • Oji Holdings Corporation
  • OKI
  • Okuma
  • Olympus
  • Osaka Gas
  • Pacific Metals
  • Panasonic
  • Pioneer
  • Resona
  • Ricoh
  • Sapporo Holdings
  • Secom
  • Sekisui House
  • Sharp
  • Shimz
  • Shin-Etsu
  • Shinsei Bank
  • Shionogi
  • Shiseido
  • Shizuoka Bank
  • Showa Denko
  • Showa Shell
  • SKY Perfect JSAT
  • SoftBank
  • Sojitz
  • Sony
  • Sony Financial
  • SUMCO
  • Sumitomo Chemical
  • Sumitomo Corporation
  • Sumitomo Electric
  • Sumitomo Heavy Industries
  • Sumitomo Metal Mining
  • Sumitomo Mitsui Financial
  • Sumitomo Mitsui Trust
  • Sumitomo Osaka Cement
  • Sumitomo Realty
  • Suzuki
  • T&D
  • Taiheiyo Cement
  • Taisei
  • Taiyo Yuden
  • Takara
  • Takashimaya
  • Takeda
  • TDK
  • Teijin
  • TEPCO
  • Terumo
  • Tobu
  • Toho
  • Toho Zinc
  • Tokai Carbon
  • Tokuyama Corporation
  • Toyo Seikan
  • Tokio Marine
  • Tokyo Dome
  • Tokyo Electron
  • Tokyo Gas
  • Tokyo Tatemono
  • Tokyu
  • Tokyu Land
  • Toppan
  • Toray
  • Toshiba
  • Tosoh
  • Toto
  • Toyobo
  • Toyota
  • Toyota Tsusho
  • Trend Micro
  • Ube
  • Unitika
  • Uny
  • Yahoo! Japan
  • Yamaha
  • Yamaha Motor
  • Yamato Transport
  • Yasakawa
  • Yokogawa Electric
  • Yokohama Rubber
  • x
  • t
  • s
Konami
Nhân sự
  • Higashino Miki
  • Igarashi Koji
  • Kimura Mineshi
  • Kojima Ayami
  • Kojima Hideo
  • Konami Kukeiha Club/Kukeiha Club
  • Naoki Maeda
  • Muranaka Rika
  • Nojiri Shinta
  • Shinkawa Yoji
  • Terra
  • Uchida Akari
  • Yamane Michiru
  • Yamaoka Akira
  • Yamashita Kinuyo
Công ty con
Hiện tại
  • Konami Cross Media NY
Cựu
  • Kojima Productions
Đóng cửa
  • Hudson Soft
  • Team Silent
  • Ultra Games
Chủ đề liên quan
  • e-Amusement
  • Mã Konami
  • Yu-Gi-Oh! Trading Card Game
  • Danh sách Danh sách
  • Thể loại Thể loại
  • x
  • t
  • s
Loạt trò chơi điện tử thuộc sở hữu của Konami
Konami
  • Airforce Delta
  • Bishi Bashi
  • Boktai
  • Castlevania
  • Contra
  • Frogger
  • Ganbare Goemon
  • Gradius
  • International Superstar Soccer
  • Lethal Enforcers
  • Metal Gear
  • Parodius
  • Power Pros
  • Pro Evolution Soccer
  • Rocket Knight Adventures
  • Scramble
  • Silent Hill
  • Silent Scope
  • Suikoden
  • Taisen Puzzle-Dama
  • Time Pilot
  • Tokimeki Memorial
  • Track & Field
  • TwinBee
  • Vandal Hearts
  • Yu-Gi-Oh!
  • Zone of the Enders
Bemani
  • Beatmania
  • Dance Dance Revolution
  • Dance Evolution
  • GuitarFreaks and DrumMania
  • Karaoke Revolution
  • Keyboardmania
  • Jubeat
  • Para Para Paradise
  • Pop'n Music
  • Sound Voltex
Hudson Soft
  • Adventure Island
  • Bloody Roar
  • Bomberman
  • Bonk
  • Deca Sports
  • Dungeon Explorer
  • Kororinpa
  • Milon's Secret Castle
  • Momotaro Densetsu
  • Momotaro Dentetsu
  • Nectaris
  • Neutopia
  • Robopon
  • Star Soldier
  • Tengai Makyo
  • x
  • t
  • s
Công ty trò chơi điện tử lớn
Doanh thu hàng năm trên 1 tỷ đô la Mỹ tính đến năm 2019
  • Activision Blizzard
  • Bandai Namco Entertainment
  • Capcom
  • Electronic Arts
  • Epic Games
  • Konami
  • Marvelous
  • NCSoft
  • NetEase
  • Nexon
  • Nintendo
  • Nippon Ichi
  • Sega
  • SNK
  • Sony Interactive Entertainment
  • Square Enix
  • Take-Two Interactive
  • Tencent
  • Ubisoft
  • Xbox Game Studios
  • Thể loại Category
  • Danh sách Danh sách

Từ khóa » Game Pes Của Nước Nào